Khái luận
Phòng ngừa bệnh mạch vành không chỉ nhằm tránh một cơn đau ngực, mà còn hướng đến việc duy trì Tâm mạch thông lợi, giảm sự hình thành và tiến triển của xơ vữa động mạch, phòng nhồi máu cơ tim, suy tim, rối loạn nhịp và các biến cố liên quan.
Phòng ngừa có thể chia thành hai phương diện.
Phòng ngừa khi bệnh chưa hình thành là kiểm soát sớm những yếu tố làm tổn thương mạch máu và Tâm mạch, như hút thuốc, tăng huyết áp, rối loạn mỡ máu, đường huyết cao, béo phì, ít vận động, ăn uống không điều độ, mất ngủ và căng thẳng kéo dài.
Phòng ngừa sau khi bệnh đã xuất hiện là giữ cho bệnh ổn định, hạn chế tái phát đau thắt ngực, phòng nhồi máu cơ tim, huyết khối, suy tim và tái hẹp hoặc tắc mạch ở người từng đặt stent, phẫu thuật bắc cầu hoặc đã có biến cố Tâm mạch.
Trong Trung y, bệnh mạch vành thuộc phạm vi Hung tý (胸痹), Tâm thống (心痛), Tâm quý (心悸), Chinh xung (怔忡), Đoản khí (短气) và Hư lao (虚劳). Phòng bệnh cần chú ý điều hòa khí huyết, bảo vệ Tỳ Vị, giảm đàm trọc, tránh huyết ứ, làm Can khí thư đạt, dưỡng Tâm thần và giữ Thận khí đầy đủ.
Trị vị bệnh
Trung y coi trọng nguyên tắc trị vị bệnh (治未病), nghĩa là điều chỉnh khi bệnh chưa hình thành, phòng ngừa khi bệnh chưa phát và ngăn bệnh đã có tiến triển nặng hơn.
Đối với bệnh mạch vành, trị vị bệnh gồm ba tầng.
Khi chưa có bệnh, cần dưỡng chính khí và hạn chế những yếu tố sinh đàm, sinh ứ hoặc làm khí huyết rối loạn.
Khi đã có yếu tố nguy cơ nhưng chưa có triệu chứng rõ, cần điều chỉnh ăn uống, vận động, giấc ngủ, tình chí và theo dõi sức khỏe định kỳ.
Khi bệnh đã xuất hiện, cần dùng thuốc đều, tránh các yếu tố khởi phát và phòng tái phát biến cố Tâm mạch.
Bệnh cơ cần phòng ngừa
Tỳ hư sinh đàm
Tỳ chủ vận hóa. Ăn quá nhiều béo ngọt, ăn uống thất thường, ít vận động hoặc thể chất Tỳ hư làm thủy thấp không hóa, lâu ngày sinh đàm trọc. Đàm trọc bế vùng ngực làm hung dương không thông, Tâm mạch bị trở ngại.
Khí trệ sinh ứ
Can chủ sơ tiết. Giận dữ, lo nghĩ, uất ức và căng thẳng kéo dài làm khí cơ không điều đạt. Khí trệ thì huyết hành chậm, lâu ngày thành huyết ứ.
Khí hư vận huyết bất lợi
Tâm khí hư hoặc toàn thân khí hư làm huyết dịch vận hành thiếu lực. Người bệnh dễ mệt, thở ngắn, hồi hộp, vận động thì triệu chứng tăng.
Dương hư hàn ngưng
Tâm dương hoặc Thận dương suy làm mạch mất sự ôn thông. Gặp lạnh, khí huyết càng co rút và đau ngực dễ phát tác.
Âm hư mạch lạc thất dưỡng
Thức khuya, bệnh lâu ngày, tuổi cao hoặc khí âm cùng hao làm Tâm mạch mất nhu dưỡng. Người bệnh dễ hồi hộp, miệng khô, mất ngủ và đau tức ngực âm ỉ.
Đàm ứ hỗ kết
Đàm trọc kéo dài làm huyết hành không lợi; huyết ứ lại khiến đàm càng khó hóa. Khi đàm và ứ kết lại trong Tâm mạch, bệnh thường dai dẳng và dễ tái phát.
Nhận biết nguy cơ
Những người có các tình trạng sau cần chú ý phòng bệnh sớm:
Tăng huyết áp.
Rối loạn mỡ máu.
Đái tháo đường hoặc đường huyết cao.
Béo bụng hoặc béo phì.
Hút thuốc hoặc thường xuyên hít khói thuốc.
Ít vận động.
Bệnh Thận mạn.
Tiền sử gia đình có người mắc bệnh Tâm mạch sớm.
Tuổi cao.
Nam giới trung niên.
Phụ nữ sau mãn kinh.
Từng có thai kỳ kèm tăng huyết áp, tiền sản giật hoặc đái tháo đường thai kỳ.
Người có nhiều yếu tố nguy cơ không nên đợi đến khi đau ngực mới đi kiểm tra. Bệnh mạch vành có thể tiến triển âm thầm và biểu hiện không điển hình.
Kiểm soát huyết áp
Huyết áp cao làm Tâm phải làm việc nhiều hơn và khiến thành mạch dễ tổn thương. Người trưởng thành nên kiểm tra huyết áp định kỳ, nhất là khi thừa cân, ít vận động, ăn mặn hoặc có tiền sử gia đình tăng huyết áp.
Nếu đã được chẩn đoán tăng huyết áp, cần dùng thuốc đều và tái khám theo hẹn. Không nên tự ngừng thuốc khi huyết áp tạm thời trở về mức ổn định.
Theo Trung y, tăng huyết áp có thể liên quan đến Can dương thượng kháng, đàm thấp, huyết ứ, âm hư hoặc Thận hư. Tuy nhiên, biện chứng Trung y không thay thế việc đo và kiểm soát huyết áp.
Kiểm soát mỡ máu
Mỡ máu cao, đặc biệt LDL cholesterol cao, làm mảng xơ vữa dễ hình thành và phát triển.
Người có nguy cơ cao hoặc đã có bệnh mạch vành thường cần dùng thuốc điều chỉnh mỡ máu lâu dài. Không nên tự ngừng thuốc vì thấy chỉ số đã giảm.
Ăn uống thanh đạm, giảm mỡ động vật, đồ chiên rán, nội tạng, bánh ngọt và thức ăn chế biến sẵn giúp Tỳ Vị bớt sinh đàm trọc.
Không nên tự dùng Sơn tra, Hà diệp, Quyết minh tử hoặc các chế phẩm “hạ mỡ máu” kéo dài thay cho thuốc đang được chỉ định.
Kiểm soát đường huyết
Đường huyết cao làm mạch máu dễ tổn thương và bệnh mạch vành có thể biểu hiện kín đáo. Người đái tháo đường đôi khi không đau ngực rõ mà chỉ mệt, khó thở, buồn nôn hoặc vã mồ hôi.
Cần theo dõi đường huyết, huyết áp, mỡ máu, chức năng Thận và cân nặng. Không nên chỉ chú ý lượng đường mà bỏ qua những yếu tố nguy cơ khác.
Theo Trung y, đái tháo đường lâu ngày thường làm khí âm cùng hao, đàm trọc và huyết ứ dễ hình thành. Phòng bệnh cần vừa dưỡng khí âm, vừa kiểm soát đàm ứ.
Bỏ thuốc lá
Khói thuốc làm tổn thương Phế khí và mạch đạo, thúc đẩy đàm nhiệt, huyết ứ và huyết khối.
Bỏ thuốc lá là một trong những biện pháp quan trọng nhất để phòng bệnh và phòng tái phát. Không nên cho rằng hút ít là không ảnh hưởng.
Người thân sống cùng người bệnh cũng nên tránh hút thuốc trong nhà. Khói thuốc thụ động vẫn bất lợi đối với Tâm Phế.
Không nên chỉ dựa vào châm cứu hoặc thảo dược để bỏ thuốc. Ý chí, kế hoạch rõ ràng và hỗ trợ thích hợp vẫn là căn bản.
Ăn uống
Ăn uống phòng bệnh cần chú ý điều độ hơn là kiêng khem cực đoan.
Nên ăn vừa đủ, đúng giờ, không để quá đói và không ăn quá no. Bữa tối nên nhẹ hơn và không quá muộn.
Nên tăng rau củ, ngũ cốc, các loại đậu, cá, đậu phụ và thịt nạc lượng vừa phải.
Cần hạn chế mỡ động vật, nội tạng, đồ chiên rán, bánh ngọt, nước ngọt, thức ăn nhanh, thịt chế biến sẵn, rượu và đồ quá mặn.
Theo Trung y, ăn uống điều độ giúp Tỳ Vị kiện vận, thấp trọc ít sinh, khí cơ Trung tiêu thông thuận và vùng ngực bớt nặng.
Không nên dùng rượu thuốc với mục đích hoạt huyết thông mạch.
Vận động
Vận động đều đặn giúp khí hành, huyết hành, giảm đàm thấp và hỗ trợ kiểm soát cân nặng, huyết áp, mỡ máu và đường huyết.
Người chưa mắc bệnh có thể lựa chọn đi bộ nhanh, đạp xe, bơi hoặc các hoạt động phù hợp với sức khỏe.
Người đã có bệnh mạch vành nên bắt đầu từ đi bộ nhẹ, thái cực quyền, Bát đoạn cẩm hoặc dưỡng sinh, tăng dần theo khả năng.
Không nên tập mạnh đột ngột, nâng vật nặng, leo dốc nhanh hoặc thi đấu quá sức.
Khi vận động, nếu xuất hiện ngực tức, đau ngực, khó thở, vã mồ hôi lạnh, choáng hoặc tim đập loạn, cần dừng lại.
Theo Trung y, vận động vừa phải làm khí huyết lưu thông; vận động quá sức lại hao khí, thương Tâm.
Kiểm soát cân nặng và vòng bụng
Béo bụng thường đi kèm đàm thấp, huyết áp cao, đường huyết và mỡ máu bất thường.
Giảm cân nên tiến hành từ từ và bền vững. Không nên nhịn ăn cực đoan, dùng thuốc xổ, thuốc lợi tiểu, xông hơi quá mức hoặc dùng sản phẩm giảm cân không rõ nguồn gốc.
Theo Trung y, giảm cân phù hợp là làm Tỳ vận hóa tốt hơn, đàm thấp giảm, cơ thể nhẹ hơn nhưng chính khí không suy.
Giấc ngủ
Ngủ đủ giúp Tâm thần yên, âm huyết được phục hồi và khí huyết điều hòa.
Thức khuya kéo dài làm hao âm huyết, Tâm thần không yên, Can dương dễ động và huyết áp dễ dao động.
Nên giữ giờ ngủ tương đối ổn định, hạn chế điện thoại, tin tức kích động, cà phê, trà đặc và rượu vào buổi tối.
Người ngáy to, buồn ngủ ban ngày, thức dậy mệt hoặc đau đầu buổi sáng cần chú ý tình trạng rối loạn hô hấp khi ngủ.
Tình chí
Giận dữ làm khí nghịch; lo nghĩ làm khí kết; buồn bực kéo dài làm Can khí uất. Khí trệ lâu ngày thì huyết ứ, vùng ngực không khoan khoái.
Nên nghỉ xen kẽ khi làm việc, tránh ôm quá nhiều việc cùng lúc, giảm tranh cãi và không để căng thẳng kéo dài.
Có thể đi bộ nhẹ, tập thở chậm, nghe nhạc, chăm cây hoặc trò chuyện với người thân.
Điều thần không có nghĩa là ép bản thân phải luôn vui vẻ, mà là giúp cảm xúc trở về trạng thái điều hòa.
Thời tiết và môi trường
Trời lạnh cần giữ ấm cổ gáy, ngực, lưng và bàn chân. Không nên ra ngoài lạnh đột ngột ngay sau khi thức dậy.
Trời nóng cần tránh nắng gắt, không vận động quá sức và không để mất quá nhiều mồ hôi.
Thời tiết ẩm cần giữ nhà cửa khô thoáng, giảm đồ sống lạnh và vận động nhẹ để khí cơ lưu thông.
Khi không khí ô nhiễm hoặc có khói cháy, nên hạn chế hoạt động ngoài trời.
Người bệnh không nên xem nhẹ đau ngực chỉ vì triệu chứng xuất hiện lúc lạnh, nóng hoặc thay đổi thời tiết.
Đại tiện
Táo bón và rặn mạnh làm khí huyết dao động đột ngột, bất lợi cho Tâm mạch.
Nên ăn đủ chất xơ, vận động nhẹ, giữ giờ đi tiêu đều và uống nước phù hợp với tình trạng.
Không tự dùng thuốc xổ mạnh hoặc kéo dài. Người suy tim hoặc bệnh Thận cần căn cứ hướng dẫn riêng về lượng nước.
Dùng thuốc
Người đã mắc bệnh mạch vành cần dùng thuốc đúng giờ và tái khám theo hẹn.
Không tự ngừng thuốc chống kết tập tiểu cầu sau đặt stent, thuốc hạ mỡ máu, thuốc huyết áp, thuốc kiểm soát nhịp hoặc các thuốc khác đang sử dụng.
Nếu muốn dùng thêm thuốc Trung y, cần thông báo đầy đủ những thuốc hiện đại đang dùng.
Không nên tự phối hợp Tam thất (三七), Đan sâm (丹参), Hồng hoa (红花), Đào nhân (桃仁), Xuyên khung (川芎), Uất kim (郁金), Nhũ hương (乳香) hoặc Một dược (没药) khi đang dùng thuốc ảnh hưởng đến đông máu.
Phòng ngừa theo từng nhóm người
Người chưa mắc bệnh nhưng có nguy cơ
Cần kiểm tra huyết áp, mỡ máu, đường huyết, cân nặng, vòng bụng và chức năng Thận theo tình trạng.
Trọng điểm là bỏ thuốc, điều chỉnh ăn uống, tăng vận động, ngủ đủ và giảm cân nếu cần.
Theo Trung y, nhóm này thường có Tỳ hư đàm thấp, khí trệ hoặc huyết ứ nhẹ. Điều dưỡng nên thiên về kiện Tỳ, hóa thấp, điều khí và giữ Tâm thần yên ổn.
Người đã có bệnh mạch vành ổn định
Cần dùng thuốc đều, kiểm soát các yếu tố nguy cơ và nhận biết sự thay đổi của triệu chứng.
Không tự tăng vận động chỉ vì một thời gian không đau ngực. Mức độ hoạt động cần phù hợp với sức chịu đựng.
Theo Trung y, cần căn cứ thể bệnh: đàm trọc thì hóa đàm; huyết ứ thì thông mạch; khí hư thì ích khí; âm hư thì dưỡng âm; hàn ngưng thì giữ ấm.
Người sau nhồi máu cơ tim hoặc đặt stent
Đây là nhóm cần phòng tái phát nghiêm túc. Thuốc chống kết tập tiểu cầu, thuốc hạ mỡ máu và các thuốc khác cần được sử dụng theo chỉ định.
Không tự ngừng thuốc vì thấy hết đau. Hết đau không có nghĩa mạch đã hoàn toàn ổn định.
Vận động cần phục hồi từng bước. Công việc, đi xa, sinh hoạt vợ chồng và tập luyện nên căn cứ tình trạng thực tế.
Theo Trung y, giai đoạn hồi phục thường gặp khí hư huyết ứ hoặc khí âm lưỡng hư. Có thể hỗ trợ bằng ích khí, dưỡng âm và thông mạch nhẹ, nhưng phải tránh tương tác thuốc.
Người cao tuổi
Người cao tuổi thường có nhiều bệnh kèm theo và khả năng thích ứng giảm. Cần tránh tụt huyết áp, té ngã, mất nước, lạnh đột ngột và vận động quá sức.
Ăn uống nên dễ tiêu, sinh hoạt điều độ, dùng thuốc rõ ràng và có người hỗ trợ nếu cần.
Theo Trung y, thường liên quan đến Thận khí suy, khí huyết hư và đàm ứ kết. Điều dưỡng nên ôn hòa, bền bỉ, không công phạt quá mức.
Phụ nữ sau mãn kinh
Sau mãn kinh, Can Thận âm huyết dần suy, đồng thời đàm thấp và huyết ứ vẫn có thể xuất hiện.
Cần chú ý huyết áp, mỡ máu, đường huyết, cân nặng và vòng bụng.
Những biểu hiện như mệt bất thường, đau lưng, đau hàm, buồn nôn, khó thở hoặc đầy tức thượng vị không nên chỉ quy cho mãn kinh hoặc rối loạn tiêu hóa.
Phòng ngừa theo thể bệnh Trung y
Một. Đàm trọc thiên thịnh
Biểu hiện
Thân thể nặng, béo bụng, ngực nặng, đàm nhiều, rêu lưỡi dày nhầy, ăn thức ăn béo thì dễ đầy.
Phòng pháp
Kiện Tỳ hóa đàm, khứ trọc thông mạch.
Điều dưỡng
Giảm thức ăn béo ngọt, không ăn khuya, tăng đi bộ nhẹ và tránh ngồi lâu.
Dược thiện
Cháo Ý dĩ nhân Sơn tra: Ý dĩ nhân (薏苡仁), Sơn tra (山楂), gạo tẻ. Người đau dạ dày hoặc Tỳ Vị hư hàn nên dùng Sơn tra ít.
Hai. Huyết ứ thiên thịnh
Biểu hiện
Sắc mặt tối, môi hơi tím, lưỡi tím hoặc có điểm ứ, đau ngực có vị trí tương đối cố định.
Phòng pháp
Lý khí hoạt huyết, thông mạch.
Điều dưỡng
Vận động nhẹ đều đặn, tránh ngồi lâu, không để uất ức kéo dài.
Dược thiện
Mộc nhĩ đen có thể dùng như thực phẩm với lượng vừa phải. Không xem mộc nhĩ là thuốc thay thế thuốc đang dùng và không ăn quá nhiều khi có nguy cơ chảy máu.
Ba. Tâm khí hư
Biểu hiện
Mệt, thở ngắn, tự ra mồ hôi, hồi hộp, vận động nhẹ đã mệt, lưỡi nhạt.
Phòng pháp
Ích khí dưỡng Tâm, kiện Tỳ phù chính.
Điều dưỡng
Tránh lao lực, nghỉ xen kẽ, tăng vận động từ từ và không kiêng ăn quá mức.
Dược thiện
Cháo Hoài sơn Liên tử Đại táo: Hoài sơn (山药), Liên tử (莲子), Đại táo (大枣), gạo tẻ.
Bốn. Khí âm lưỡng hư
Biểu hiện
Mệt, miệng khô, hồi hộp, ra mồ hôi, ngủ kém, lưỡi đỏ nhạt hoặc ít rêu.
Phòng pháp
Ích khí dưỡng âm, sinh tân dưỡng Tâm.
Điều dưỡng
Ngủ đủ, tránh thức khuya, tránh nóng quá mức và không tập đến ra nhiều mồ hôi.
Dược thiện
Cháo Mạch môn đông Bách hợp: Mạch môn đông (麦门冬), Bách hợp (百合), Liên tử (莲子), gạo tẻ.
Năm. Hàn ngưng hoặc dương hư
Biểu hiện
Sợ lạnh, tay chân lạnh, đau ngực gặp lạnh tăng, lưỡi nhạt, rêu trắng, mạch trầm trì.
Phòng pháp
Giữ ấm, ôn thông Tâm mạch và tránh lạnh đột ngột.
Điều dưỡng
Mặc đủ ấm, không tắm lạnh, khởi động từ từ trước khi vận động và tránh ra ngoài quá sớm vào mùa lạnh.
Dược thiện
Cháo Sinh khương Thông bạch: Sinh khương (生姜), Thông bạch (葱白), gạo tẻ. Người miệng khô, lưỡi đỏ hoặc hư hỏa không nên dùng nhiều.
Sáu. Can khí uất kết
Biểu hiện
Hay thở dài, ngực sườn đầy tức, dễ cáu, ngủ kém và đau ngực tăng khi căng thẳng.
Phòng pháp
Sơ Can lý khí, điều thần.
Điều dưỡng
Giảm áp lực, nghỉ xen kẽ, đi bộ, thở chậm và tránh tranh cãi kéo dài.
Dược thiện
Trà Mai khôi hoa Trần bì: Mai khôi hoa (玫瑰花), Trần bì (陈皮), dùng lượng nhẹ. Người âm hư khô họng rõ không nên dùng nhiều Trần bì.
Châm cứu hỗ trợ
Châm cứu có thể hỗ trợ điều khí, hóa đàm, hoạt huyết, dưỡng Tâm và cải thiện giấc ngủ ở giai đoạn ổn định.
Các huyệt thường dùng gồm Tâm bào-6 Nội quan (内关), Nhâm-17 Chiên trung (膻中), Tâm-7 Thần môn (神门), Bàng quang-15 Tâm du (心俞), Bàng quang-17 Cách du (膈俞), Vị-36 Túc tam lý (足三里), Tỳ-6 Tam âm giao (三阴交), Vị-40 Phong long (丰隆), Can-3 Thái xung (太冲), Nhâm-6 Khí hải (气海) và Nhâm-4 Quan nguyên (关元).
Đàm trọc phối Vị-40 Phong long, Nhâm-12 Trung quản, Vị-36 Túc tam lý và Tỳ-9 Âm lăng tuyền.
Huyết ứ phối Bàng quang-17 Cách du, Tỳ-10 Huyết hải, Tâm bào-6 Nội quan và Tỳ-6 Tam âm giao.
Khí hư phối Vị-36 Túc tam lý, Nhâm-6 Khí hải, Bàng quang-15 Tâm du và Tâm bào-6 Nội quan.
Can uất phối Can-3 Thái xung, Đại trường-4 Hợp cốc, Tâm bào-6 Nội quan và Nhâm-17 Chiên trung.
Mất ngủ, hồi hộp phối Tâm-7 Thần môn, Tâm bào-6 Nội quan, An miên và Tỳ-6 Tam âm giao.
Không dùng châm cứu thay cho việc xử trí khi đau ngực cấp, khó thở, vã mồ hôi hoặc choáng.
Bấm huyệt
Có thể day nhẹ Tâm bào-6 Nội quan, Tâm-7 Thần môn, Nhâm-17 Chiên trung, Vị-36 Túc tam lý, Vị-40 Phong long, Tỳ-6 Tam âm giao và Can-3 Thái xung.
Không ấn mạnh vùng trước tim. Khi có đau ngực hoặc khó thở rõ, không tiếp tục day bấm để chờ triệu chứng tự giảm.
Cứu ngải
Cứu ngải chỉ thích hợp với thể hàn ngưng hoặc dương hư, biểu hiện sợ lạnh, tay chân lạnh, lưỡi nhạt và mạch trầm trì.
Có thể cân nhắc Nhâm-4 Quan nguyên, Nhâm-6 Khí hải, Vị-36 Túc tam lý, Đốc-4 Mệnh môn và Bàng quang-23 Thận du.
Không cứu khi miệng khô, lưỡi đỏ, rêu vàng, tim đập nhanh, huyết áp không ổn định hoặc đau ngực cấp.
Dưỡng sinh
Có thể lựa chọn đi bộ, thái cực quyền, Bát đoạn cẩm và các bài thư giãn nhẹ.
Nguyên tắc là vận động đều nhưng không quá sức, không nín thở lâu và không luyện đến vã mồ hôi nhiều.
Sau khi tập, cơ thể nên thấy dễ chịu, hơi ấm và tinh thần thư thái. Nếu hồi hộp, đau ngực, khó thở hoặc mệt lả, mức tập chưa phù hợp.
Phòng ngừa nhồi máu cơ tim
Nhồi máu cơ tim thường xảy ra khi dòng máu trong động mạch vành bị tắc nghẽn đột ngột. Phòng ngừa cần chú ý cả việc kiểm soát bệnh nền và tránh những yếu tố khởi phát.
Không mang vác vật quá nặng hoặc cố nín thở khi gắng sức.
Không rặn mạnh khi đại tiện.
Không ăn quá no, đặc biệt vào buổi tối.
Không tắm ngay sau bữa ăn no.
Không tắm nước quá nóng hoặc quá lạnh.
Không lao lực khi thiếu ngủ, sốt hoặc quá mệt.
Không vận động mạnh khi trời quá lạnh hoặc quá nóng.
Không hút thuốc và không uống nhiều rượu.
Không tự ngừng các thuốc đang dùng để phòng huyết khối và ổn định mảng xơ vữa.
Dấu hiệu bệnh trở nên không ổn định
Cơn đau ngực xuất hiện nhiều hơn trước.
Đau xảy ra khi vận động nhẹ hơn trước hoặc cả khi nghỉ.
Cơn đau kéo dài hơn hoặc mạnh hơn.
Thuốc cắt cơn đã được kê không còn giúp như trước.
Đau kèm khó thở, vã mồ hôi, buồn nôn hoặc choáng.
Đột ngột xuất hiện hồi hộp dữ dội, ngất, khó thở hoặc suy kiệt mà không rõ nguyên nhân.
Khi có những thay đổi này, cần được đánh giá sớm. Không nên chờ đến khi đau dữ dội mới xử trí.
Phòng tái phát sau nhồi máu cơ tim
Sau nhồi máu cơ tim, việc phòng tái phát cần được duy trì lâu dài.
Dùng thuốc đúng chỉ định.
Bỏ thuốc lá hoàn toàn.
Kiểm soát huyết áp, đường huyết và mỡ máu.
Ăn uống thanh đạm, không quá no.
Phục hồi vận động từng bước.
Ngủ đủ và điều chỉnh lo âu.
Tái khám đều đặn.
Nhận biết sớm sự thay đổi của triệu chứng.
Theo Trung y, giai đoạn hồi phục thường thuộc khí hư huyết ứ, khí âm lưỡng hư hoặc Tâm Tỳ cùng hư. Điều dưỡng cần chú ý phù chính nhưng không bổ nê trệ, hoạt huyết nhưng không làm tăng nguy cơ chảy máu.
Không tự dùng Tam thất, Đan sâm hoặc các phương hoạt huyết mạnh với mục đích phòng tái phát.
Ăn quá no và tắm sau ăn
Sau bữa ăn quá no, Tỳ Vị phải vận hóa nhiều, khí huyết tập trung ở Trung tiêu, người có Tâm mạch suy yếu dễ xuất hiện ngực tức, hồi hộp và khó thở.
Theo Trung y, thực tích và đàm trọc làm khí cơ vùng ngực bị trở ngại.
Không nên tắm ngay sau khi ăn no. Nước quá nóng làm khí huyết dồn ra ngoài, người bệnh có thể chóng mặt, hồi hộp hoặc ngực khó chịu.
Nên ăn vừa đủ, nghỉ nhẹ sau bữa ăn và chờ cơ thể ổn định trước khi tắm.
Những điều nên làm
Kiểm tra huyết áp định kỳ.
Theo dõi mỡ máu và đường huyết theo nguy cơ.
Bỏ thuốc lá và tránh khói thuốc.
Ăn uống điều độ, giảm mỡ, đường, muối và rượu.
Vận động đều đặn, vừa sức.
Giữ cân nặng và vòng bụng phù hợp.
Ngủ đủ và giảm căng thẳng.
Dùng thuốc đúng chỉ định.
Tái khám đúng hẹn.
Giữ đại tiện thông thuận.
Nhận biết những thay đổi bất thường của cơn đau ngực và sức chịu đựng.
Những điều không nên làm
Không đợi đau ngực mới bắt đầu phòng bệnh.
Không tự ngừng thuốc khi thấy khỏe.
Không hút thuốc dù chỉ một lượng nhỏ thường xuyên.
Không ăn quá no hoặc ăn khuya kéo dài.
Không dùng rượu thuốc để thông mạch.
Không tự dùng nhiều vị hoạt huyết để phòng bệnh.
Không nhịn ăn cực đoan hoặc tập quá sức để giảm cân.
Không xem nhẹ mệt lả, khó thở, đau thượng vị, đau lưng hoặc đau hàm.
Không tự xử trí đau ngực cấp bằng dầu xoa, trà thuốc hoặc bấm huyệt.
Chú ý
Bài viết trình bày nguyên tắc phòng ngừa và điều dưỡng theo Trung y. Khi xuất hiện đau ngực dữ dội hoặc kéo dài, đau lan ra vai, cánh tay, lưng, cổ, hàm hoặc vùng thượng vị, kèm khó thở, vã mồ hôi, buồn nôn, choáng ngất, sắc mặt tái xám hoặc tay chân lạnh, cần đi khám hoặc cấp cứu kịp thời.
Không dùng nghỉ ngơi, trà thuốc, thuốc thang, châm cứu, bấm huyệt hoặc dược thiện để trì hoãn việc xử trí.
Kết luận
Phòng ngừa bệnh mạch vành cần bắt đầu trước khi bệnh xuất hiện và phải được duy trì lâu dài sau khi đã mắc bệnh.
Theo Trung y, trọng điểm là bảo vệ Tỳ Vị để đàm trọc không sinh, làm khí cơ điều đạt để huyết ứ không kết, dưỡng Tâm khí và Tâm âm, giữ Tâm dương được ôn thông, điều Can để tình chí thư thái và bảo vệ Thận khí làm gốc lâu dài.
Người đàm trọc cần kiện Tỳ hóa đàm; người huyết ứ cần điều khí thông mạch; người khí hư cần ích khí dưỡng Tâm; người khí âm lưỡng hư cần ích khí dưỡng âm; người hàn ngưng cần giữ ấm và ôn thông; người Can uất cần điều thần, sơ Can lý khí.
Phòng bệnh không dựa vào một vị thuốc hoặc một phương thang dùng kéo dài. Nền tảng vẫn là bỏ thuốc lá, ăn uống điều độ, vận động vừa sức, ngủ đủ, kiểm soát huyết áp, mỡ máu, đường huyết, dùng thuốc đúng chỉ định và tái khám đều đặn.
Nói tóm lại, phòng ngừa bệnh mạch vành là quá trình giữ cho khí huyết điều hòa, Tâm mạch thông lợi và các yếu tố nguy cơ được kiểm soát bằng những thay đổi nhỏ nhưng bền vững trong sinh hoạt hằng ngày.
Trường Xuân biên soạn và tổng hợp