Khái luận
Nhồi máu cơ tim không đau, còn gọi là nhồi máu cơ tim thầm lặng, là tình trạng cơ tim bị thiếu máu, tổn thương và hoại tử nhưng người bệnh không xuất hiện cơn đau ngực điển hình, hoặc chỉ có cảm giác khó chịu rất nhẹ và mơ hồ.
Người bệnh có thể không hề biết mình đang trải qua một biến cố Tâm mạch. Các biểu hiện như mệt mỏi, khó thở, buồn nôn, đầy tức vùng thượng vị, đau lưng, đau vai, vã mồ hôi, chóng mặt hoặc hồi hộp thường bị nhầm với bệnh dạ dày, cảm cúm, đau cơ, mất ngủ, căng thẳng hoặc sự suy yếu do tuổi cao.
Điểm nguy hiểm của thể bệnh này là việc không đau dễ làm người bệnh đến bệnh viện muộn. Trong khi đó, dòng máu nuôi cơ tim vẫn có thể bị tắc nghẽn, tế bào cơ tim vẫn hoại tử và những biến chứng như suy tim, phù phổi, rối loạn nhịp, sốc tim, ngừng tuần hoàn hoặc tử vong vẫn có thể xảy ra.
Một số trường hợp chỉ được phát hiện sau khi giai đoạn cấp đã qua, khi người bệnh làm điện tâm đồ, siêu âm tim, cộng hưởng từ Tâm hoặc kiểm tra vì khó thở, rối loạn nhịp và suy tim. Khi ấy, vùng cơ tim tổn thương đã để lại sẹo và khả năng co bóp có thể suy giảm.
Nhồi máu cơ tim không đau thường gặp hơn ở người đái tháo đường, người cao tuổi, người mắc bệnh Thận mạn, người có bệnh thần kinh tự chủ, phụ nữ và người từng có bệnh mạch vành hoặc đặt stent. Tuy nhiên, bệnh vẫn có thể xảy ra ở những nhóm khác.
Trong Trung y, nhồi máu cơ tim không đau có thể thuộc phạm vi Hung tý (胸痹), Tâm thống (心痛), Chân tâm thống (真心痛), Tâm quý (心悸), Chinh xung (怔忡), Hư lao (虚劳) và Tiêu khát (消渴) khi có liên quan đến đái tháo đường.
Bệnh cơ chủ yếu là Tâm mạch bế trở nhưng cảm giác đau không biểu hiện rõ. Phần ngọn thường gồm huyết ứ, đàm trọc, khí trệ, hàn ngưng và đàm ứ hỗ kết; phần gốc thường là Tâm khí hư, khí âm lưỡng hư, Tâm dương hư, Tâm Tỳ lưỡng hư, Tỳ Thận hư hoặc Can Thận âm hư.
Nhồi máu cơ tim không đau vẫn là một cấp cứu Tâm mạch. Người có nguy cơ cao nếu đột nhiên mệt lả, khó thở, vã mồ hôi, buồn nôn, choáng, hồi hộp hoặc giảm sức chịu đựng rõ rệt cần được đánh giá ngay, dù hoàn toàn không đau ngực.
Nhồi máu cơ tim không đau là gì
Về bản chất, nhồi máu cơ tim không đau không khác nhồi máu cơ tim thông thường. Dòng máu đến một vùng cơ tim bị giảm nghiêm trọng hoặc gián đoạn, khiến cơ tim thiếu oxy và hoại tử.
Điểm khác biệt nằm ở biểu hiện cảm giác. Người bệnh không có cơn đau ngực điển hình hoặc cảm giác đau quá nhẹ nên không nhận ra.
Có người chỉ cảm thấy:
Ngực hơi nặng.
Khó thở nhẹ.
Đầy bụng hoặc khó tiêu.
Đau lưng.
Đau vai hoặc hàm.
Buồn nôn.
Mệt bất thường.
Vã mồ hôi.
Chóng mặt.
Hồi hộp.
Có người không nhận thấy bất cứ triệu chứng rõ ràng nào. Bệnh chỉ được phát hiện khi điện tâm đồ cho thấy dấu hiệu nhồi máu cũ, siêu âm thấy vùng thành Tâm giảm vận động hoặc cộng hưởng từ phát hiện sẹo cơ tim.
Không đau không có nghĩa tổn thương nhỏ. Một vùng nhồi máu rộng vẫn có thể biểu hiện kín đáo, đặc biệt ở người cao tuổi, người đái tháo đường hoặc người đang có suy tim, sốc và rối loạn nhịp nặng.
Vì sao nhồi máu cơ tim có thể không đau
Tổn thương thần kinh do đái tháo đường
Đái tháo đường kéo dài có thể làm tổn thương thần kinh cảm giác và thần kinh tự chủ.
Khi cơ tim thiếu máu, tín hiệu đau truyền về hệ thần kinh trung ương không còn rõ. Người bệnh có thể chỉ thấy mệt, vã mồ hôi, buồn nôn hoặc khó thở.
Đây là lý do người đái tháo đường không nên chờ xuất hiện đau ngực mới nghĩ đến bệnh Tâm.
Cảm giác đau giảm ở người cao tuổi
Người cao tuổi thường có ngưỡng cảm giác thay đổi, phản ứng thần kinh chậm, nhiều bệnh kèm theo và sử dụng nhiều thuốc.
Biến cố Tâm mạch có thể biểu hiện bằng lẫn lộn, ngất, té ngã, ăn kém, yếu đột ngột, khó thở hoặc suy tim thay vì đau ngực.
Biểu hiện không điển hình ở phụ nữ
Phụ nữ vẫn có thể đau ngực khi nhồi máu, nhưng cũng thường xuất hiện mệt bất thường, khó thở, đau lưng, đau vai, đau hàm, buồn nôn hoặc rối loạn tiêu hóa.
Những biểu hiện này dễ bị quy cho mãn kinh, căng thẳng, thiếu ngủ hoặc bệnh dạ dày.
Thiếu máu cơ tim diễn biến âm thầm
Một số tổn thương tiến triển mà không gây phản ứng đau mạnh. Cơn đau có thể quá ngắn, nhẹ hoặc bị che lấp bởi những triệu chứng khác.
Tuy vậy, tổn thương vẫn có thể tích lũy, để lại sẹo cơ tim và làm chức năng Tâm suy giảm.
Triệu chứng bị nhầm với bệnh khác
Đầy tức thượng vị dễ bị nhầm với dạ dày.
Buồn nôn dễ bị nhầm với rối loạn tiêu hóa.
Đau vai, lưng hoặc cổ dễ bị nhầm với đau cơ xương.
Mệt và vã mồ hôi dễ bị quy cho cảm cúm, mất ngủ hoặc hạ đường huyết.
Khó thở dễ bị quy cho tuổi già, hen hoặc bệnh Phế.
Chính sự nhầm lẫn này làm thời gian cấp cứu bị chậm trễ.
Bệnh nặng che lấp cảm giác đau
Những trường hợp khởi phát bằng sốc, suy tim cấp, rối loạn nhịp nặng, rối loạn ý thức hoặc sau phẫu thuật có thể không biểu hiện đau rõ.
Khi đó, sự suy sụp tuần hoàn và toàn thân nổi bật hơn cảm giác đau ngực.
Những nhóm dễ gặp
Người đái tháo đường
Đây là nhóm cần đặc biệt cảnh giác vì vừa có nguy cơ xơ vữa cao vừa có khả năng giảm cảm giác đau do bệnh thần kinh.
Những biểu hiện như vã mồ hôi, buồn nôn, khó thở, mệt lả, đường huyết dao động và giảm sức chịu đựng đột ngột đều cần được xem xét.
Người cao tuổi
Người cao tuổi có thể chỉ xuất hiện lẫn lộn, khó thở, ngất, yếu, té ngã hoặc ăn kém.
Không nên xem những biểu hiện này chỉ là suy nhược tuổi già.
Phụ nữ
Phụ nữ có thể không đau ngực rõ mà chỉ có khó thở, đau lưng, đau vai, buồn nôn, chóng mặt hoặc mệt bất thường.
Người bệnh Thận mạn
Bệnh Thận làm nguy cơ xơ vữa, tăng huyết áp, thiếu máu và rối loạn điện giải tăng lên. Triệu chứng Tâm mạch cũng có thể không điển hình.
Người từng nhồi máu cơ tim hoặc đặt stent
Ở nhóm này, bất kỳ sự thay đổi đột ngột nào về khả năng vận động, hơi thở, nhịp Tâm hoặc tình trạng toàn thân đều cần được chú ý.
Người có bệnh thần kinh tự chủ
Rối loạn thần kinh tự chủ do đái tháo đường, tuổi cao hoặc bệnh thần kinh khác làm cảm giác đau và đáp ứng huyết áp, nhịp Tâm thay đổi.
Người sau phẫu thuật hoặc gây mê
Thuốc giảm đau, an thần và tình trạng sau mổ có thể che lấp triệu chứng.
Nếu sau phẫu thuật xuất hiện nhịp Tâm nhanh, tụt huyết áp, tuần hoàn ngoại vi kém hoặc khó thở không giải thích được, cần nghĩ đến biến cố Tâm mạch sau khi đã loại trừ các nguyên nhân khác.
Dấu hiệu cần cảnh giác
Mệt lả bất thường.
Khó thở mới xuất hiện.
Khó thở khi vận động nhẹ.
Khó thở khi nằm.
Vã mồ hôi lạnh.
Buồn nôn hoặc nôn.
Đầy tức vùng thượng vị.
Khó tiêu khác thường.
Đau lưng.
Đau vai.
Đau cổ.
Đau hàm hoặc răng.
Hồi hộp.
Tim đập nhanh, chậm hoặc loạn.
Chóng mặt.
Gần ngất hoặc ngất.
Sắc mặt tái.
Tay chân lạnh.
Huyết áp giảm không rõ nguyên nhân.
Đột ngột giảm sức gắng sức.
Lẫn lộn hoặc rối loạn ý thức ở người cao tuổi.
Té ngã không rõ nguyên nhân.
Ở người đái tháo đường, những biểu hiện như vã mồ hôi, yếu, buồn nôn hoặc lơ mơ cũng có thể do hạ đường huyết. Tuy nhiên, không nên tự kết luận mà bỏ qua khả năng nhồi máu cơ tim, nhất là khi có khó thở hoặc triệu chứng kéo dài.
Biểu hiện có thể gặp trong giai đoạn cấp
Cảm giác nặng hoặc đè ở ngực và lưng
Người bệnh có thể không gọi đó là đau mà chỉ thấy ngực lưng bị chèn ép, nặng hoặc khó chịu.
Khó thở đột ngột
Khó thở có thể là biểu hiện chính. Người bệnh có thể thở gấp, không nằm được, ho hoặc xuất hiện đờm bọt.
Hồi hộp và tuần hoàn kém
Tim đập nhanh, buồn nôn, da tái và tay chân lạnh có thể phản ánh rối loạn nhịp, tụt huyết áp hoặc suy Tâm.
Rối loạn ý thức
Người cao tuổi có thể đột nhiên lú lẫn, lơ mơ hoặc ngất.
Suy tim cấp
Người bệnh khó thở dữ dội, phù Phế, tím tái hoặc không thể nằm.
Sốc
Huyết áp tụt, mạch yếu, tay chân lạnh, tiểu ít và ý thức giảm có thể là biểu hiện khởi phát, dù không có đau ngực.
Rối loạn nhịp
Nhịp nhanh thất, rung thất, block dẫn truyền hoặc nhịp quá chậm có thể là dấu hiệu đầu tiên.
Nhận thức của Trung y
Tâm mạch bế trở nhưng đau không hiển lộ
Trung y có nguyên tắc “bất thông tắc thống” (不通则痛), nghĩa là mạch không thông thì sinh đau.
Tuy nhiên, khi chính khí suy yếu, khí huyết hư, thần khí không nhạy hoặc lạc mạch bị tổn thương lâu ngày, cảm giác đau có thể không rõ dù sự bế tắc vẫn tồn tại.
Bệnh cơ có thể khái quát là Tâm mạch bế trở, thống tượng bất hiển.
Khí hư làm đau không rõ
Khí có tác dụng thúc đẩy huyết và nâng đỡ cảm giác, phản ứng của cơ thể.
Khi Tâm khí hoặc toàn thân khí hư, huyết hành kém nhưng phản ứng đau cũng không mạnh. Người bệnh thường biểu hiện bằng mệt, thở ngắn và hồi hộp.
Khí âm lưỡng hư
Khí hư làm huyết vận hành thiếu lực; âm hư làm Tâm mạch mất nhu dưỡng.
Người bệnh thường miệng khô, mệt, ra mồ hôi, ngủ kém và khó thở hơn là đau.
Đàm ứ hỗ kết
Đàm trọc và huyết ứ cùng làm Tâm mạch bế trở. Triệu chứng thường nặng nề, kín đáo, biểu hiện bằng ngực nặng, béo bụng, khó thở, mệt và rêu lưỡi nhầy.
Tiêu khát lâu ngày
Tiêu khát làm khí âm hao tổn và lạc mạch bị tổn thương. Huyết ứ hình thành nhưng cảm giác đau suy giảm.
Điều này tương ứng với người đái tháo đường có bệnh thần kinh cảm giác và thần kinh tự chủ.
Tâm dương hư
Tâm dương không đủ thúc đẩy huyết và vận hóa thủy dịch. Người bệnh có thể không đau rõ mà chỉ khó thở, lạnh tay chân, phù và mệt.
Tâm Tỳ lưỡng hư
Tỳ khí hư làm khí huyết sinh hóa không đủ; Tâm huyết thiếu làm hồi hộp, mất ngủ và suy giảm thể lực.
Bệnh Tâm mạch có thể bị che lấp bởi các biểu hiện hư nhược.
Người cao tuổi Thận khí suy
Thận khí suy, tinh huyết giảm, Tâm khí và Tâm mạch mất nuôi dưỡng. Đàm ứ tích tụ nhưng phản ứng toàn thân yếu, vì vậy bệnh có thể âm thầm.
Bệnh cơ tổng quát
Phần ngọn gồm huyết ứ, đàm trọc, khí trệ, hàn ngưng và đàm ứ hỗ kết.
Phần gốc gồm Tâm khí hư, khí âm lưỡng hư, Tâm dương hư, Tâm Tỳ lưỡng hư, Tỳ Thận hư và Can Thận âm hư.
Ở người đái tháo đường, thường gặp khí âm lưỡng hư, đàm ứ nội trở và lạc mạch bất thông.
Ở người cao tuổi, thường gặp Tâm Thận hư, khí huyết bất túc và đàm ứ nội kết.
Chẩn đoán theo y học hiện đại
Điện tâm đồ
Trong giai đoạn cấp, điện tâm đồ có thể phát hiện ST chênh lên, ST chênh xuống, sóng T đảo, sóng Q bệnh lý hoặc rối loạn nhịp.
Điện tâm đồ ban đầu bình thường không loại trừ hoàn toàn nhồi máu cơ tim nếu triệu chứng toàn thân còn đáng ngờ.
Troponin
Troponin là dấu ấn quan trọng của tổn thương cơ tim.
Xét nghiệm thường phải được thực hiện nhiều lần để đánh giá sự thay đổi theo thời gian.
Siêu âm tim
Siêu âm có thể thấy vùng cơ tim giảm hoặc mất vận động, chức năng thất giảm, suy tim, hở van hoặc biến chứng khác.
Chụp động mạch vành
Chụp mạch được thực hiện khi cần xác định vị trí tắc hẹp và tiến hành tái thông.
Cộng hưởng từ Tâm
Cộng hưởng từ có thể phát hiện sẹo cơ tim, vùng cơ tim tổn thương và đánh giá khả năng sống còn của cơ tim.
Phát hiện nhồi máu cũ
Ở người không biết mình từng bị nhồi máu, bệnh có thể được phát hiện qua:
Sóng Q bệnh lý trên điện tâm đồ.
Vùng thành Tâm giảm vận động trên siêu âm.
Sẹo cơ tim trên cộng hưởng từ.
Giảm tưới máu trên xét nghiệm hình ảnh.
Chức năng thất giảm không rõ nguyên nhân.
Không nên chỉ căn cứ một dấu hiệu đơn lẻ để kết luận. Cần phối hợp tiền sử, triệu chứng, điện tâm đồ, hình ảnh và đánh giá chuyên khoa.
Điều trị theo y học hiện đại
Giai đoạn cấp
Nhồi máu không đau được điều trị theo nguyên tắc của nhồi máu cơ tim cấp.
Các biện pháp có thể gồm:
Tái thông động mạch vành khi có chỉ định.
Thuốc chống kết tập tiểu cầu.
Thuốc chống đông.
Thuốc hạ mỡ máu.
Thuốc kiểm soát huyết áp và nhịp Tâm.
Điều trị suy tim.
Điều trị rối loạn nhịp.
Hỗ trợ oxy khi thiếu oxy.
Xử trí sốc và biến chứng cơ học.
Không nên vì người bệnh không đau mà trì hoãn can thiệp.
Khi phát hiện nhồi máu cũ
Người bệnh cần được đánh giá:
Chức năng thất trái.
Tình trạng thiếu máu cơ tim còn lại.
Nguy cơ rối loạn nhịp.
Suy tim.
Bệnh mạch vành còn tồn tại.
Mỡ máu.
Huyết áp.
Đường huyết.
Chức năng Thận.
Việc dùng thuốc lâu dài.
Điều trị dự phòng thứ phát có thể gồm thuốc chống kết tập tiểu cầu khi có chỉ định, thuốc hạ lipid, thuốc huyết áp, thuốc bảo vệ Tâm và điều trị đái tháo đường.
Phục hồi Tâm mạch, bỏ thuốc lá, vận động phù hợp và tái khám định kỳ đều rất quan trọng.
Nguyên tắc điều trị theo Trung y
Giai đoạn nghi cấp
Không dùng Trung y thay cấp cứu.
Nếu người có nguy cơ cao đột nhiên khó thở, mệt lả, vã mồ hôi, buồn nôn, choáng hoặc hồi hộp, cần đến bệnh viện ngay.
Giai đoạn sau khi ổn định
Khí âm lưỡng hư thì ích khí dưỡng âm, phục mạch.
Khí hư huyết ứ thì ích khí hoạt huyết, thông mạch.
Đàm ứ hỗ kết thì kiện Tỳ hóa đàm, hoạt huyết thông lạc.
Tiêu khát khí âm hư kiêm huyết ứ thì ích khí dưỡng âm, thông lạc.
Tâm dương hư, thủy khí đình thì ôn dương hóa khí, lợi thủy.
Tâm Tỳ lưỡng hư thì kiện Tỳ dưỡng Tâm, an thần.
Mọi phép hoạt huyết, ôn dương và lợi thủy đều phải phối hợp thận trọng với thuốc hiện đại.
Một. Khí âm lưỡng hư, Tâm mạch thất dưỡng
Chứng trạng
Người bệnh mệt, thở ngắn, hồi hộp, miệng khô, ra mồ hôi, ngủ kém, khả năng vận động giảm, ngực chỉ hơi tức hoặc hoàn toàn không đau rõ; lưỡi đỏ nhạt hoặc ít rêu, mạch tế sác hoặc hư sác.
Thường gặp ở người cao tuổi, người đái tháo đường hoặc sau bệnh nặng.
Bệnh cơ
Khí hư làm Tâm mạch vận hành thiếu lực; âm hư làm mạch mất nhu dưỡng. Chính khí suy nên cảm giác đau không rõ, trong khi Tâm mạch vẫn có thể bế trở.
Pháp trị
Ích khí dưỡng âm, phục mạch thông lạc, dưỡng Tâm an thần.
Phương thang
Sinh mạch tán hợp Chích cam thảo thang gia giảm (生脉散合炙甘草汤加减): Đảng sâm (党参), Mạch môn đông (麦门冬), Ngũ vị tử (五味子), Chích cam thảo (炙甘草), Sinh địa hoàng (生地黄), A giao (阿胶), Ma nhân (麻仁), Quế chi (桂枝), Sinh khương (生姜), Đại táo (大枣), Đan sâm (丹参), Toan táo nhân (酸枣仁).
Gia giảm
Miệng khô gia Thạch hộc (石斛), Ngọc trúc (玉竹), Huyền sâm (玄参); mất ngủ gia Bá tử nhân (柏子仁), Dạ giao đằng (夜交藤); tiêu khát rõ gia Hoàng kỳ (黄芪), Sơn dược (山药), Thiên hoa phấn (天花粉) theo biện chứng.
Ý nghĩa
Đảng sâm ích khí; Mạch môn đông, Sinh địa và A giao dưỡng âm huyết; Ngũ vị tử liễm khí; Chích cam thảo phục mạch; Quế chi thông dương; Đan sâm thông Tâm mạch; Toan táo nhân dưỡng Tâm.
Hai. Khí hư huyết ứ
Chứng trạng
Mệt, thở ngắn, tự ra mồ hôi, hồi hộp, sắc mặt nhợt tối, khả năng vận động giảm, ngực chỉ âm ỉ hoặc không đau rõ; lưỡi nhạt tím hoặc có điểm ứ, tĩnh mạch dưới lưỡi tím, mạch hư sáp hoặc tế nhược.
Bệnh cơ
Khí hư làm huyết vận hành không đủ lực. Huyết ứ trong Tâm mạch nhưng phản ứng đau không mạnh.
Pháp trị
Ích khí hoạt huyết, thông mạch phục chính.
Phương thang
Bổ dương hoàn ngũ thang hợp Đan sâm ẩm gia giảm (补阳还五汤合丹参饮加减): Hoàng kỳ (黄芪), Đương quy vĩ (当归尾), Xích thược (赤芍), Xuyên khung (川芎), Địa long (地龙), Đan sâm (丹参), Đàn hương (檀香), Sa nhân (砂仁), Phục linh (茯苓), Bạch truật (白术). Đào nhân (桃仁) và Hồng hoa (红花) chỉ cân nhắc khi thật cần thiết.
Gia giảm
Mệt nhiều gia Đảng sâm (党参), Thái tử sâm (太子参); hồi hộp, mất ngủ gia Toan táo nhân (酸枣仁), Bá tử nhân (柏子仁); đàm thấp gia Bán hạ (半夏), Trần bì (陈皮), Trạch tả (泽泻).
Ý nghĩa
Hoàng kỳ ích khí hành huyết; Đương quy vĩ, Xích thược, Xuyên khung và Đan sâm hoạt huyết; Địa long thông lạc; Đàn hương và Sa nhân hành khí; Phục linh và Bạch truật kiện Tỳ.
Chú ý
Người đang sử dụng aspirin, thuốc chống kết tập tiểu cầu hoặc thuốc chống đông không được tự dùng phương hoạt huyết.
Ba. Đàm ứ hỗ kết
Chứng trạng
Thân thể nặng, béo bụng, ngực nặng nhưng không đau rõ, khó thở khi gắng sức, đàm nhiều, bụng đầy, buồn ngủ, mỡ máu hoặc đường huyết cao; lưỡi tím hoặc có điểm ứ, rêu trắng dày nhầy hoặc vàng nhầy, mạch huyền hoạt hoặc hoạt sáp.
Bệnh cơ
Đàm trọc và huyết ứ cùng kết trong Tâm mạch. Đàm làm triệu chứng nặng nề, mơ hồ; huyết ứ làm mạch không thông.
Pháp trị
Kiện Tỳ hóa đàm, khứ trọc, hoạt huyết thông mạch.
Phương thang
Qua lâu giới bạch bán hạ thang hợp Ôn đảm thang gia giảm (瓜蒌薤白半夏汤合温胆汤加减): Qua lâu (瓜蒌), Giới bạch (薤白), Bán hạ (半夏), Trần bì (陈皮), Trúc nhự (竹茹), Phục linh (茯苓), Chỉ thực (枳实), Cam thảo (甘草), Sinh khương (生姜), Đại táo (大枣), Đan sâm (丹参), Uất kim (郁金), Trạch tả (泽泻), Sơn tra (山楂).
Gia giảm
Béo bụng gia Hà diệp (荷叶), Ý dĩ nhân (薏苡仁); rêu vàng nhầy, miệng đắng gia Hoàng cầm (黄芩), Hoàng liên (黄连) lượng nhỏ; ngực nặng, khó thở nhẹ gia Tô tử (苏子) theo biện chứng.
Ý nghĩa
Qua lâu và Giới bạch khoan hung; Bán hạ, Trần bì, Trúc nhự và Phục linh hóa đàm; Chỉ thực hành khí; Đan sâm và Uất kim thông mạch; Trạch tả khứ thấp; Sơn tra tiêu thực.
Chú ý
Khó thở rõ, phù hoặc ngực nặng tăng cần được đánh giá suy tim, không tự dùng thuốc hóa đàm hoặc lợi thủy.
Bốn. Tiêu khát lâu ngày, khí âm hư kiêm huyết ứ
Chứng trạng
Người đái tháo đường lâu năm có miệng khô, khát, mệt, thở ngắn, tê bì tay chân, giảm cảm giác đau, dễ vã mồ hôi, hồi hộp, khó thở hoặc buồn nôn mà không đau ngực rõ; lưỡi đỏ nhạt hoặc tím, ít rêu hoặc rêu nhầy, mạch tế sáp.
Bệnh cơ
Tiêu khát lâu ngày làm khí âm tổn thương và lạc mạch mất nuôi dưỡng. Khí hư làm huyết hành kém; âm hư làm huyết dịch kém nhu hòa; huyết ứ hình thành trong Tâm mạch. Tổn thương thần kinh khiến đau không biểu hiện rõ.
Pháp trị
Ích khí dưỡng âm, hoạt huyết thông lạc, kiện Tỳ hóa trọc.
Phương thang
Sinh mạch tán hợp Hoàng kỳ quế chi ngũ vật thang gia giảm (生脉散合黄芪桂枝五物汤加减): Hoàng kỳ (黄芪), Quế chi (桂枝), Bạch thược (白芍), Sinh khương (生姜), Đại táo (大枣), Đảng sâm (党参), Mạch môn đông (麦门冬), Ngũ vị tử (五味子), Đan sâm (丹参), Kê huyết đằng (鸡血藤), Sơn dược (山药), Thiên hoa phấn (天花粉).
Gia giảm
Khát nhiều gia Thạch hộc (石斛), Ngọc trúc (玉竹), Huyền sâm (玄参); tê bì rõ gia Địa long (地龙), Tang chi (桑枝); đàm trọc, béo bụng gia Trạch tả (泽泻), Sơn tra (山楂), Hà diệp (荷叶).
Ý nghĩa
Hoàng kỳ và Đảng sâm ích khí; Mạch môn đông và Thiên hoa phấn dưỡng âm sinh tân; Ngũ vị tử liễm khí; Quế chi thông dương; Bạch thược hòa doanh; Đan sâm và Kê huyết đằng hoạt huyết thông lạc; Sơn dược kiện Tỳ ích Thận.
Chú ý
Phương thuốc không thay thế điều trị đái tháo đường. Người bệnh phải tiếp tục kiểm soát đường huyết và dùng thuốc đúng chỉ định.
Năm. Tâm dương hư, thủy khí lăng Tâm
Chứng trạng
Người bệnh không nhớ từng có cơn đau tim nhưng về sau xuất hiện khó thở khi gắng sức, khó thở khi nằm, phù chân, hồi hộp, mệt, sợ lạnh, tay chân lạnh, tiểu ít hoặc tiểu đêm; lưỡi nhạt bệu, rêu trắng trơn, mạch trầm tế hoặc kết đại.
Khám Tâm mạch mới phát hiện sẹo nhồi máu cũ hoặc chức năng thất suy giảm.
Bệnh cơ
Nhồi máu thầm lặng làm cơ tim tổn thương, Tâm dương suy và khả năng bơm máu giảm. Thủy dịch đình lại, thượng lăng Tâm Phế, gây khó thở và phù.
Pháp trị
Ôn dương ích khí, hóa khí lợi thủy, thông Tâm mạch.
Phương thang
Chân vũ thang hợp Quế chi cam thảo thang gia giảm (真武汤合桂枝甘草汤加减): Phụ tử chế (制附子), Bạch truật (白术), Phục linh (茯苓), Bạch thược (白芍), Sinh khương (生姜), Quế chi (桂枝), Chích cam thảo (炙甘草), Hoàng kỳ (黄芪), Đảng sâm (党参), Đan sâm (丹参), Trạch tả (泽泻).
Gia giảm
Phù rõ gia Trư linh (猪苓), Xa tiền tử (车前子), Đại phúc bì (大腹皮); khó thở có thể cân nhắc Tô tử (苏子), nhưng cần đánh giá suy tim; hồi hộp, ngủ kém gia Long cốt (龙骨), Mẫu lệ (牡蛎).
Ý nghĩa
Phụ tử chế và Quế chi ôn dương; Bạch truật và Phục linh kiện Tỳ lợi thủy; Hoàng kỳ và Đảng sâm ích khí; Đan sâm thông mạch; Trạch tả lợi thủy.
Chú ý
Phụ tử có độc tính. Không được tự dùng. Khó thở khi nằm, phù chân, tăng cân nhanh và tiểu ít cần được đánh giá Tâm mạch sớm.
Sáu. Tâm Tỳ lưỡng hư
Chứng trạng
Mệt kéo dài, ăn kém, ngủ kém, nhiều mộng, hồi hộp, dễ lo sợ, sắc mặt nhợt, bụng đầy, đại tiện không đều, không đau ngực rõ; lưỡi nhạt, mạch tế nhược.
Có trường hợp chỉ khi kiểm tra vì mệt và suy giảm thể lực mới phát hiện nhồi máu cũ.
Bệnh cơ
Tâm Tỳ cùng hư làm khí huyết sinh hóa không đủ. Tâm huyết thiếu gây hồi hộp và mất ngủ; Tỳ khí hư gây mệt và ăn kém. Biểu hiện hư nhược che lấp bệnh Tâm mạch.
Pháp trị
Kiện Tỳ dưỡng Tâm, ích khí dưỡng huyết, an thần.
Phương thang
Quy Tỳ thang gia giảm (归脾汤加减): Đảng sâm (党参), Hoàng kỳ (黄芪), Bạch truật (白术), Phục linh (茯苓), Đương quy (当归), Long nhãn nhục (龙眼肉), Toan táo nhân (酸枣仁), Viễn chí (远志), Mộc hương (木香), Chích cam thảo (炙甘草), Đại táo (大枣), Sinh khương (生姜), Đan sâm (丹参).
Gia giảm
Ăn kém gia Sa nhân (砂仁), Kê nội kim (鸡内金), Sơn dược (山药); mất ngủ gia Bá tử nhân (柏子仁), Dạ giao đằng (夜交藤), Hợp hoan bì (合欢皮); huyết ứ nhẹ gia Uất kim (郁金), Xích thược (赤芍).
Ý nghĩa
Đảng sâm, Hoàng kỳ, Bạch truật và Phục linh kiện Tỳ ích khí; Đương quy và Long nhãn nhục dưỡng huyết; Toan táo nhân và Viễn chí dưỡng Tâm; Mộc hương hành khí; Đan sâm thông Tâm mạch.
Phối hợp thuốc Trung y và thuốc hiện đại
Người bệnh được chẩn đoán bệnh mạch vành hoặc nhồi máu cũ thường đang dùng thuốc chống kết tập tiểu cầu, thuốc chống đông trong một số trường hợp, thuốc hạ mỡ máu, thuốc huyết áp, thuốc điều trị suy tim và thuốc đái tháo đường.
Những vị như Đan sâm (丹参), Tam thất (三七), Hồng hoa (红花), Đào nhân (桃仁), Xuyên khung (川芎), Uất kim (郁金), Nhũ hương (乳香), Một dược (没药), Địa long (地龙) và Kê huyết đằng (鸡血藤) có thể ảnh hưởng đến huyết hành.
Không tự dùng thuốc hoạt huyết liều cao hoặc kéo dài.
Không tự ngừng aspirin, clopidogrel, statin, thuốc huyết áp hoặc thuốc đái tháo đường để chuyển sang dùng thuốc Trung y.
Không tự dùng Phụ tử, Nhục quế hoặc thuốc lợi thủy mạnh.
Người kê thuốc cần biết đầy đủ danh sách thuốc hiện đại và bệnh kèm theo.
Châm cứu hỗ trợ
Giai đoạn nghi cấp
Không châm cứu, bấm huyệt hoặc cứu ngải để trì hoãn cấp cứu.
Đặc biệt, người đái tháo đường, người cao tuổi hoặc người từng đặt stent nếu mệt lả, khó thở, vã mồ hôi, buồn nôn hoặc choáng cần đi cấp cứu ngay.
Giai đoạn ổn định
Sau khi bệnh đã ổn định, châm cứu có thể hỗ trợ phục hồi thể lực, điều khí, an thần, cải thiện hồi hộp và giấc ngủ.
Các huyệt thường dùng gồm Tâm bào-6 Nội quan (内关), Nhâm-17 Chiên trung (膻中), Tâm-7 Thần môn (神门), Bàng quang-15 Tâm du (心俞), Bàng quang-14 Quyết âm du (厥阴俞), Bàng quang-17 Cách du (膈俞), Vị-36 Túc tam lý (足三里), Tỳ-6 Tam âm giao (三阴交), Nhâm-6 Khí hải (气海), Vị-40 Phong long (丰隆), Thận-3 Thái khê (太溪) và An miên.
Hồi hộp, ngực tức nhẹ phối Tâm bào-6 Nội quan, Nhâm-17 Chiên trung, Bàng quang-15 Tâm du và Tâm-7 Thần môn.
Khí hư phối Vị-36 Túc tam lý, Nhâm-6 Khí hải, Bàng quang-20 Tỳ du và Tâm bào-6 Nội quan.
Huyết ứ phối Bàng quang-17 Cách du, Tỳ-10 Huyết hải, Tâm bào-6 Nội quan và Tỳ-6 Tam âm giao.
Đàm trọc phối Vị-40 Phong long, Nhâm-12 Trung quản, Vị-36 Túc tam lý và Nhâm-17 Chiên trung.
Mất ngủ, lo sợ phối Tâm-7 Thần môn, An miên, Tâm bào-6 Nội quan và Tỳ-6 Tam âm giao.
Khí âm hư, Tiêu khát phối Thận-3 Thái khê, Tỳ-6 Tam âm giao, Vị-36 Túc tam lý và Tâm bào-6 Nội quan.
Không châm cứu khi nghi nhồi máu cấp, suy tim mất bù, huyết áp không ổn định, rối loạn nhịp nặng hoặc nguy cơ chảy máu chưa được đánh giá.
Bấm huyệt
Trong giai đoạn ổn định, có thể day nhẹ Tâm bào-6 Nội quan, Tâm-7 Thần môn, Nhâm-17 Chiên trung, Vị-36 Túc tam lý, Tỳ-6 Tam âm giao, Vị-40 Phong long và Thận-3 Thái khê.
Không ấn mạnh vùng trước Tâm. Bấm huyệt không thay thế cấp cứu hoặc thuốc Tâm mạch.
Cứu ngải
Chỉ cân nhắc khi bệnh ổn định và người bệnh thuộc dương hư, biểu hiện sợ lạnh, tay chân lạnh, mệt, lưỡi nhạt và mạch trầm tế.
Có thể cân nhắc Nhâm-6 Khí hải, Nhâm-4 Quan nguyên, Vị-36 Túc tam lý, Đốc-4 Mệnh môn và Bàng quang-23 Thận du.
Không cứu khi nghi nhồi máu cấp, tim đập nhanh, huyết áp chưa ổn định, miệng khô, lưỡi đỏ, sốt hoặc vã mồ hôi bất thường.
Ăn uống điều dưỡng
Nguyên tắc chung
Ăn uống cần phù hợp với bệnh Tâm mạch và các bệnh nền.
Nên tăng rau củ, các loại đậu, ngũ cốc, cá, đậu phụ và thức ăn tươi.
Cần hạn chế mỡ động vật, nội tạng, đồ chiên rán, thịt chế biến sẵn, bánh ngọt, nước ngọt, rượu và thức ăn quá mặn.
Không ăn quá no, nhất là vào buổi tối.
Người đái tháo đường cần kiểm soát lượng tinh bột và đường.
Người suy tim hoặc bệnh Thận cần thực hiện hướng dẫn riêng về muối và lượng nước.
Thể khí hư
Cháo Hoài sơn Liên tử Đại táo: Hoài sơn (山药), Liên tử (莲子), Đại táo (大枣), gạo tẻ.
Người đái tháo đường cần tính lượng gạo và Đại táo trong khẩu phần.
Thể khí âm hư
Cháo Mạch môn đông Bách hợp: Mạch môn đông (麦门冬), Bách hợp (百合), Liên tử (莲子), gạo tẻ.
Thể đàm trọc
Cháo Ý dĩ nhân Phục linh: Ý dĩ nhân (薏苡仁), Phục linh (茯苓), gạo tẻ.
Tâm thần bất an
Cháo Bách hợp Liên tử: Bách hợp (百合), Liên tử (莲子), gạo tẻ.
Tiêu khát khí âm hư
Canh Hoài sơn Mạch môn đông: Hoài sơn (山药), Mạch môn đông (麦门冬), thịt nạc lượng vừa phải, nấu thanh đạm.
Người đái tháo đường vẫn cần theo dõi đường huyết và khẩu phần, không xem dược thiện là thuốc hạ đường huyết.
Phòng ngừa và theo dõi
Người có nguy cơ cao không nên chờ đau ngực mới kiểm tra Tâm.
Cần theo dõi:
Huyết áp.
Mỡ máu.
Đường huyết.
HbA1c khi có đái tháo đường.
Chức năng Thận.
Cân nặng.
Khả năng vận động.
Khó thở.
Hồi hộp.
Nếu từng nhồi máu, đặt stent hoặc có bệnh mạch vành, cần tái khám định kỳ và dùng thuốc đúng.
Người đái tháo đường cần đặc biệt chú ý những biểu hiện không đau như mệt lả, khó thở, buồn nôn, vã mồ hôi và giảm sức vận động đột ngột.
Phục hồi chức năng Tâm mạch
Sau khi bệnh ổn định, người bệnh có thể được hướng dẫn tham gia phục hồi Tâm mạch.
Chương trình có thể gồm:
Đánh giá khả năng gắng sức.
Vận động có giám sát.
Điều chỉnh ăn uống.
Kiểm soát huyết áp, đường huyết và mỡ máu.
Bỏ thuốc lá.
Quản lý thuốc.
Hỗ trợ tâm lý.
Giáo dục nhận biết dấu hiệu bất thường.
Do người bệnh không cảm nhận đau rõ, không nên lấy cảm giác đau làm tiêu chuẩn duy nhất để điều chỉnh mức tập.
Cần chú ý khó thở, mệt, hồi hộp, chóng mặt, vã mồ hôi và sự giảm khả năng vận động.
Dấu hiệu phải dừng tập
Khó thở rõ.
Ngực nặng hoặc khó chịu.
Chóng mặt.
Choáng.
Tim đập loạn.
Vã mồ hôi lạnh.
Buồn nôn.
Mệt bất thường.
Sắc mặt tái.
Những điều nên làm
Đi cấp cứu nếu người nguy cơ cao đột nhiên mệt lả, khó thở, vã mồ hôi, buồn nôn hoặc choáng dù không đau ngực.
Kiểm soát đường huyết, huyết áp và mỡ máu.
Dùng thuốc Tâm mạch đúng chỉ định.
Bỏ thuốc lá hoàn toàn.
Tái khám định kỳ.
Theo dõi khả năng vận động và tình trạng khó thở.
Ăn uống phù hợp bệnh nền.
Vận động theo mức an toàn.
Ngủ đủ và giảm căng thẳng.
Ghi lại các triệu chứng mơ hồ để báo bác sĩ.
Những điều không nên làm
Không cho rằng không đau ngực thì không phải nhồi máu cơ tim.
Không tự xử trí mệt lả, khó thở hoặc vã mồ hôi bằng dầu xoa, cạo gió, bấm huyệt hoặc thuốc Trung y.
Không tự ngừng thuốc chống kết tập tiểu cầu, statin, thuốc huyết áp, thuốc đái tháo đường hoặc thuốc suy tim.
Không tự dùng nhiều vị hoạt huyết.
Không hút thuốc.
Không ăn quá no rồi vận động, tắm hoặc ngủ.
Không bỏ qua mệt mỏi kéo dài không rõ nguyên nhân ở người cao tuổi hoặc người đái tháo đường.
Không trì hoãn cấp cứu vì triệu chứng không giống cơn đau tim điển hình.
Chú ý
Nhồi máu cơ tim không đau vẫn có thể gây hoại tử cơ tim, suy tim, rối loạn nhịp, sốc và tử vong.
Ở người có nguy cơ Tâm mạch cao, nếu đột nhiên xuất hiện khó thở, mệt lả, vã mồ hôi lạnh, buồn nôn, chóng mặt, ngất, hồi hộp, đau lưng, đau hàm hoặc giảm sức chịu đựng rõ rệt, cần đi khám hoặc gọi cấp cứu ngay.
Không dùng thuốc thang, châm cứu, bấm huyệt, cạo gió, dầu xoa hoặc dược thiện để trì hoãn việc xử trí.
Nếu người bệnh bất tỉnh và không thở bình thường, cần gọi cấp cứu, bắt đầu hồi sinh tim phổi và sử dụng máy khử rung tự động nếu có thể.
Kết luận
Nhồi máu cơ tim không đau là tình trạng cơ tim bị thiếu máu và hoại tử nhưng người bệnh không có cơn đau ngực điển hình.
Bệnh có thể biểu hiện bằng khó thở, mệt lả, vã mồ hôi, buồn nôn, đầy tức thượng vị, đau lưng, đau vai, đau hàm, hồi hộp, chóng mặt hoặc rối loạn ý thức.
Người đái tháo đường, người cao tuổi, phụ nữ, người bệnh Thận mạn, người có bệnh thần kinh tự chủ và người từng mắc bệnh mạch vành là những nhóm cần đặc biệt cảnh giác.
Không đau không có nghĩa bệnh nhẹ. Cơ tim vẫn có thể bị tổn thương rộng, để lại sẹo, suy tim và rối loạn nhịp.
Trong Trung y, bệnh thuộc phạm vi Hung tý, Tâm thống, Chân tâm thống, Tâm quý, Chinh xung và Tiêu khát. Bệnh cơ chủ yếu là Tâm mạch bế trở nhưng thống tượng không hiển lộ.
Khí âm lưỡng hư thì ích khí dưỡng âm; khí hư huyết ứ thì ích khí hoạt huyết; đàm ứ hỗ kết thì kiện Tỳ hóa đàm, thông mạch; Tiêu khát lâu ngày thì ích khí dưỡng âm, thông lạc; Tâm dương hư thì ôn dương lợi thủy; Tâm Tỳ lưỡng hư thì kiện Tỳ dưỡng Tâm.
Tuy nhiên, Trung y chỉ có vai trò hỗ trợ sau khi tình trạng cấp đã được xử trí và bệnh nhân được theo dõi Tâm mạch đầy đủ.
Nói tóm lại, đối với người có nguy cơ cao, không nên chờ đau ngực mới nghĩ đến nhồi máu cơ tim. Những thay đổi đột ngột về hơi thở, sức lực, mồ hôi, tiêu hóa, nhịp Tâm và ý thức đều có thể là tín hiệu cảnh báo cần được đánh giá kịp thời.
Trường Xuân Đường biên soạn và tổng hợp