Khái luận
Nhịp tim chậm là tình trạng Tâm đập chậm hơn mức thường gặp. Ở người trưởng thành, nhịp Tâm lúc nghỉ dưới 60 lần mỗi phút thường được gọi là nhịp tim chậm. Tuy nhiên, chỉ căn cứ con số này chưa đủ để xác định bệnh lý.
Trong khi ngủ, ở người trẻ khỏe, vận động viên hoặc người thường xuyên tập luyện sức bền, nhịp Tâm có thể xuống dưới 60 lần mỗi phút mà tuần hoàn vẫn hoàn toàn đầy đủ. Trái lại, có người nhịp không quá thấp nhưng vẫn chóng mặt, mệt, khó thở hoặc ngất vì Tâm không tăng nhịp thích hợp khi vận động, hoặc do tín hiệu điện từ tâm nhĩ xuống tâm thất bị gián đoạn.
Điều quan trọng không chỉ là nhịp Tâm bao nhiêu lần mỗi phút, mà còn phải xác định:
Nhịp có đều hay không.
Nguồn phát nhịp nằm ở vị trí nào.
Tín hiệu có dẫn truyền bình thường xuống tâm thất hay không.
Huyết áp và tưới máu cơ quan có ổn định không.
Người bệnh có chóng mặt, ngất, đau ngực, khó thở hoặc suy tim không.
Nhịp chậm có mới xuất hiện hay đã tồn tại từ lâu.
Nhịp chậm có liên quan đến thuốc, điện giải, tuyến giáp hoặc bệnh Tâm hay không.
Nhịp tim chậm có thể chỉ là trạng thái sinh lý, nhưng cũng có thể là biểu hiện của bệnh nút xoang, block nhĩ thất, nhồi máu cơ tim, viêm cơ tim, rối loạn điện giải, suy giáp, hạ thân nhiệt, ngộ độc thuốc hoặc thoái hóa hệ thống dẫn truyền.
Khi nhịp quá chậm làm lượng máu bơm ra giảm, não và các cơ quan không nhận đủ máu giàu oxy. Người bệnh có thể chóng mặt, xây xẩm, mệt lả, giảm sức gắng sức, khó thở, đau tức ngực, lú lẫn, té ngã, gần ngất hoặc ngất.
Trong Trung y, nhịp tim chậm có thể thuộc phạm vi Tâm quý (心悸), Chinh xung (怔忡), Trì mạch (迟脉), Kết mạch (结脉), Đại mạch (代脉), Hung tý (胸痹), Quyết chứng (厥证) và Hư lao (虚劳).
Bệnh cơ thường liên quan đến Tâm khí hư, Tâm dương hư, Tâm Thận dương hư, hàn ngưng Tâm mạch, đàm trọc bế trở, huyết ứ trở mạch, khí âm lưỡng hư hoặc Tâm Tỳ lưỡng hư.
Tuy nhiên, mạch trì, kết hoặc đại trong Trung y không thể thay thế điện tâm đồ. Khi người bệnh có chóng mặt, ngất, đau ngực, khó thở, huyết áp thấp hoặc nhịp quá chậm, phải ưu tiên đánh giá và xử trí theo y học hiện đại.
Nhịp tim chậm là gì
Bình thường, nút xoang ở tâm nhĩ phải phát ra xung điện đều đặn. Xung điện lan qua tâm nhĩ, đến nút nhĩ thất, sau đó truyền theo bó His và mạng Purkinje xuống hai tâm thất.
Trình tự này giúp tâm nhĩ và tâm thất co bóp phối hợp, đưa máu đến Phế và toàn thân.
Nhịp tim chậm có thể xuất hiện khi:
Nút xoang phát nhịp chậm.
Nút xoang tạm ngừng phát nhịp.
Xung điện không thoát được khỏi nút xoang.
Dẫn truyền từ tâm nhĩ xuống tâm thất bị chậm hoặc gián đoạn.
Tâm thất phải tự phát một nhịp thoát chậm để duy trì tuần hoàn.
Thuốc hoặc bệnh toàn thân làm nhịp giảm.
Nhịp chậm sinh lý thường đều, người bệnh không có triệu chứng và nhịp có thể tăng thích hợp khi vận động.
Nhịp chậm bệnh lý thường có một hoặc nhiều đặc điểm:
Mới xuất hiện.
Kèm triệu chứng.
Nhịp rất thấp.
Có những khoảng ngừng dài.
Nhịp không tăng khi vận động.
Có block dẫn truyền.
Kèm bệnh Tâm, điện giải hoặc thuốc có khả năng làm chậm nhịp.
Nhịp tim chậm có phải lúc nào cũng nguy hiểm không
Không phải mọi trường hợp đều nguy hiểm.
Nhịp 45 đến 60 lần mỗi phút có thể bình thường ở người khỏe mạnh, nhất là khi ngủ hoặc ở người luyện tập thường xuyên.
Nhịp thấp hơn cũng có thể được dung nạp nếu huyết áp ổn định, người bệnh tỉnh táo, không chóng mặt, không khó thở và không có bệnh dẫn truyền.
Ngược lại, nhịp khoảng 50 lần mỗi phút vẫn có thể gây triệu chứng ở người lớn tuổi, người có bệnh Tâm, người đang dùng thuốc làm chậm nhịp hoặc người không tăng được nhịp khi vận động.
Không nên xác định mức độ nguy hiểm chỉ bằng một ngưỡng cố định. Cần căn cứ toàn bộ bệnh cảnh.
Các loại nhịp tim chậm thường gặp
Một. Nhịp chậm xoang
Nút xoang vẫn phát nhịp theo đúng trình tự nhưng tần số thấp.
Nhịp chậm xoang có thể gặp:
Khi ngủ.
Ở vận động viên.
Khi nghỉ ngơi sâu.
Do tăng trương lực phế vị.
Do thuốc.
Do suy giáp.
Do hạ thân nhiệt.
Do tăng áp lực nội sọ.
Do nhồi máu cơ tim, nhất là vùng dưới.
Do bệnh nút xoang.
Nếu nhịp đều, không triệu chứng và tăng thích hợp khi hoạt động, thường không cần điều trị.
Hai. Rối loạn chức năng nút xoang
Còn gọi là bệnh nút xoang hoặc hội chứng nút xoang bệnh lý.
Nút xoang có thể phát nhịp quá chậm, ngừng từng lúc hoặc không tăng nhịp khi cơ thể cần.
Các dạng có thể gồm:
Nhịp chậm xoang kéo dài.
Ngừng xoang.
Block xoang nhĩ.
Hội chứng nhịp nhanh – nhịp chậm.
Không đáp ứng tăng nhịp khi gắng sức.
Người bệnh có thể hồi hộp, mệt, chóng mặt, gần ngất hoặc ngất.
Ba. Hội chứng nhịp nhanh – nhịp chậm
Người bệnh có những đợt rung nhĩ, cuồng nhĩ hoặc nhịp nhanh trên thất, sau đó nhịp giảm rất chậm hoặc xuất hiện khoảng ngừng dài khi cơn nhịp nhanh kết thúc.
Thuốc dùng để kiểm soát nhịp nhanh đôi khi làm nhịp chậm nặng hơn.
Một số trường hợp cần máy tạo nhịp trước khi có thể sử dụng thuốc kiểm soát nhịp an toàn.
Bốn. Block nhĩ thất độ một
Tất cả xung điện vẫn xuống được tâm thất nhưng thời gian dẫn truyền kéo dài.
Nhiều người không có triệu chứng và không cần điều trị đặc hiệu.
Tuy nhiên, cần đánh giá bệnh Tâm nền, thuốc và khả năng tiến triển nếu có những dấu hiệu khác.
Năm. Block nhĩ thất độ hai
Một số xung điện từ tâm nhĩ không xuống được tâm thất.
Block độ hai có nhiều dạng. Có dạng thường tương đối lành tính, nhưng cũng có dạng liên quan hệ thống dẫn truyền sâu và nguy cơ tiến triển thành block hoàn toàn.
Người bệnh có thể chóng mặt, mệt, hồi hộp hoặc ngất.
Sáu. Block nhĩ thất hoàn toàn
Không có xung điện nào từ tâm nhĩ truyền xuống tâm thất.
Tâm thất phải dựa vào một ổ phát nhịp thoát rất chậm để duy trì tuần hoàn.
Người bệnh có thể:
Mệt lả.
Chóng mặt.
Ngất.
Co giật do thiếu máu não.
Khó thở.
Đau ngực.
Suy tim.
Tụt huyết áp.
Đây là tình trạng có thể cần máy tạo nhịp khẩn cấp.
Bảy. Nhịp thoát bộ nối hoặc nhịp thoát thất
Khi nút xoang hoặc dẫn truyền phía trên thất không hoạt động, một ổ thấp hơn có thể phát nhịp để duy trì sự sống.
Nhịp thoát bộ nối thường nhanh hơn nhịp thoát thất.
Nhịp thoát thất thường rất chậm, phức bộ QRS rộng và có thể không bảo đảm cung lượng Tâm.
Không nên cố dùng thuốc hoặc thủ thuật để ức chế một nhịp thoát khi chưa có phương tiện tạo nhịp thay thế, vì nhịp thoát có thể là cơ chế duy trì tuần hoàn cuối cùng.
Tám. Không đáp ứng tăng nhịp khi gắng sức
Một số người có nhịp lúc nghỉ không quá thấp nhưng nút xoang không tăng nhịp phù hợp khi vận động.
Biểu hiện chủ yếu là mệt, thở ngắn và giảm khả năng vận động.
Điện tâm đồ lúc nghỉ có thể chưa cho thấy đầy đủ vấn đề. Người bệnh có thể cần nghiệm pháp gắng sức hoặc theo dõi nhịp khi sinh hoạt.
Nguyên nhân thường gặp
Tuổi cao
Mô của nút xoang và hệ thống dẫn truyền có thể xơ hóa, thoái hóa theo thời gian.
Đây là nguyên nhân thường gặp của bệnh nút xoang và block ở người lớn tuổi.
Bệnh mạch vành và nhồi máu cơ tim
Thiếu máu cơ tim có thể ảnh hưởng nút xoang, nút nhĩ thất hoặc bó dẫn truyền.
Nhồi máu cơ tim thành dưới thường có thể kèm nhịp chậm xoang hoặc block nhĩ thất.
Nhồi máu vùng trước rộng có thể gây block dưới nút nhĩ thất và tiên lượng nặng hơn.
Viêm cơ tim
Viêm có thể làm tổn thương nút xoang, nút nhĩ thất hoặc hệ thống His–Purkinje.
Nhịp chậm sau nhiễm virus kèm đau ngực, khó thở hoặc mệt bất thường cần được kiểm tra.
Bệnh cơ tim
Bệnh cơ tim giãn, phì đại, thâm nhiễm hoặc di truyền có thể ảnh hưởng hệ thống dẫn truyền.
Bệnh van Tâm
Bệnh van nặng làm các buồng Tâm giãn và cấu trúc dẫn truyền bị ảnh hưởng.
Phẫu thuật hoặc thủ thuật Tâm
Phẫu thuật van, phẫu thuật Tâm bẩm sinh, can thiệp qua catheter hoặc thay van qua catheter có thể gây tổn thương tạm thời hoặc lâu dài cho hệ thống dẫn truyền.
Thuốc chẹn beta
Thuốc làm giảm nhịp và giảm tác động của hệ giao cảm.
Thuốc có lợi trong nhiều bệnh Tâm nhưng có thể gây nhịp quá chậm ở một số người.
Không tự ngừng đột ngột vì có thể gây nhịp nhanh, tăng huyết áp hoặc đau thắt ngực.
Thuốc chẹn kênh canxi làm chậm nhịp
Verapamil và diltiazem có thể làm nhịp chậm và dẫn truyền nhĩ thất chậm lại.
Digoxin
Digoxin có thể làm chậm dẫn truyền qua nút nhĩ thất.
Nguy cơ ngộ độc tăng khi chức năng Thận giảm, kali thấp hoặc tương tác thuốc.
Amiodarone và thuốc chống loạn nhịp
Một số thuốc chống loạn nhịp có thể gây nhịp chậm, block hoặc khoảng ngừng.
Thuốc an thần, giảm đau và ngộ độc thuốc
Opioid, thuốc ngủ, một số thuốc tâm thần, thuốc hạ huyết áp và thuốc chống loạn nhịp dùng quá liều có thể gây nhịp chậm, tụt huyết áp hoặc suy hô hấp.
Suy giáp
Người bệnh có thể mệt, lạnh, tăng cân, táo bón, da khô, phù nhẹ và nhịp chậm.
Điều trị hormone tuyến giáp có thể giúp nhịp cải thiện khi suy giáp là nguyên nhân.
Rối loạn kali
Kali quá cao có thể làm dẫn truyền chậm, block, phức bộ QRS rộng và ngừng Tâm.
Kali quá thấp cũng có thể gây rối loạn nhịp.
Không tự bổ sung kali khi chưa có xét nghiệm.
Rối loạn canxi và magie
Điện giải bất thường có thể ảnh hưởng khả năng tạo nhịp, dẫn truyền và co bóp Tâm.
Hạ thân nhiệt
Nhiệt độ cơ thể thấp làm chuyển hóa và nhịp Tâm giảm.
Không xử trí hạ thân nhiệt nặng chỉ bằng uống nước nóng hoặc xoa dầu.
Ngưng thở khi ngủ
Ngưng thở làm oxy giảm từng đợt, có thể gây nhịp chậm và khoảng ngừng về đêm.
Điều trị ngưng thở khi ngủ có thể làm rối loạn nhịp ban đêm cải thiện.
Tăng áp lực nội sọ
Tổn thương não, xuất huyết hoặc khối choán chỗ có thể gây nhịp chậm kèm tăng huyết áp và rối loạn hô hấp.
Đây là cấp cứu thần kinh.
Tăng trương lực phế vị
Đau, nôn, ho, rặn, tiểu tiện, xúc động hoặc một số thủ thuật có thể gây phản xạ phế vị, làm nhịp chậm và huyết áp giảm.
Nhiễm trùng và bệnh toàn thân
Nhiễm trùng nặng, bệnh gan Thận, thiếu oxy và rối loạn chuyển hóa có thể làm nhịp bất thường.
Vận động viên
Tập luyện sức bền làm thể tích nhát bóp tăng và trương lực phế vị cao hơn, khiến nhịp nghỉ thấp.
Nếu không triệu chứng và nhịp tăng bình thường khi vận động, đây thường là thích nghi sinh lý.
Triệu chứng thường gặp
Không có triệu chứng
Nhiều người phát hiện nhịp thấp khi khám sức khỏe, đo huyết áp hoặc dùng đồng hồ thông minh.
Nếu nhịp đã tồn tại lâu, người bệnh khỏe và không có triệu chứng, có thể chỉ cần đánh giá và theo dõi.
Mệt
Cung lượng Tâm không đủ làm người bệnh dễ mệt, yếu, buồn ngủ hoặc giảm khả năng làm việc.
Chóng mặt và xây xẩm
Máu lên não giảm tạm thời gây cảm giác choáng, tối sầm mắt hoặc đứng không vững.
Gần ngất
Người bệnh cảm thấy sắp mất ý thức, tai ù, mắt tối và chân mềm nhưng chưa bất tỉnh hoàn toàn.
Ngất
Ngất có thể xảy ra khi nhịp quá chậm, có khoảng ngừng dài hoặc block hoàn toàn.
Ngất do nhịp chậm có thể xuất hiện đột ngột, không có cảnh báo và gây té ngã, chấn thương.
Co giật do thiếu máu não
Nhịp quá chậm hoặc ngừng Tâm ngắn có thể làm não thiếu máu, khiến người bệnh co giật.
Không nên mặc nhiên cho rằng đó là động kinh khi có nhịp chậm hoặc bệnh Tâm.
Khó thở
Khi cung lượng Tâm giảm, người bệnh có thể khó thở khi gắng sức.
Nếu nhịp chậm làm suy tim nặng lên, có thể khó thở khi nằm, phù chân và ho đêm.
Đau ngực
Người có bệnh mạch vành có thể đau ngực khi nhịp và huyết áp không đủ duy trì tưới máu.
Đau ngực cũng có thể là dấu hiệu nhồi máu cơ tim gây nhịp chậm.
Giảm sức gắng sức
Người bệnh đi bộ chậm, leo vài bậc cầu thang hoặc làm việc nhẹ đã mệt.
Đây có thể là biểu hiện không tăng được nhịp khi vận động.
Lú lẫn
Ở người cao tuổi, nhịp chậm có thể biểu hiện bằng lú lẫn, ngủ gà, giảm tập trung hoặc thay đổi hành vi.
Té ngã
Một số người không nhớ đã ngất mà chỉ kể bị té đột ngột.
Té ngã không rõ nguyên nhân ở người cao tuổi cần nghĩ đến rối loạn nhịp.
Hồi hộp
Người bệnh có thể cảm thấy nhịp chậm, bỏ nhịp hoặc lúc nhanh lúc chậm.
Hội chứng nhịp nhanh – nhịp chậm thường gây cảm giác Tâm đập hỗn loạn xen kẽ khoảng ngừng.
Dấu hiệu nguy hiểm cần cấp cứu
Ngất.
Gần ngất tái diễn.
Đau ngực.
Khó thở rõ.
Lơ mơ hoặc lú lẫn mới xuất hiện.
Huyết áp tụt.
Tay chân lạnh.
Da tái hoặc tím.
Nhịp rất chậm kèm triệu chứng.
Nhịp chậm sau nhồi máu cơ tim.
Nhịp chậm sau dùng quá liều thuốc.
Nhịp chậm kèm kali bất thường.
Nhịp chậm kèm suy tim hoặc phù Phế.
Co giật hoặc ngừng thở.
Không nên chờ nhịp tự tăng hoặc chỉ bấm huyệt để theo dõi tại nhà.
Nhịp bao nhiêu là quá chậm
Không có một con số duy nhất áp dụng cho mọi người.
Nhịp dưới 60 lần mỗi phút được gọi là nhịp chậm theo định nghĩa thông dụng.
Nhịp 40 đến 60 lần mỗi phút có thể bình thường ở một số người.
Nhịp dưới 40 lần mỗi phút cần được chú ý hơn, nhất là khi mới xuất hiện hoặc kèm triệu chứng.
Tuy nhiên, mức độ nguy hiểm phụ thuộc:
Triệu chứng.
Huyết áp.
Ý thức.
Loại nhịp.
Vị trí block.
Bệnh nền.
Thuốc đang dùng.
Khả năng tăng nhịp khi vận động.
Một người nhịp 38 lần mỗi phút nhưng tỉnh táo, huyết áp ổn định và là vận động viên có thể ít nguy hiểm hơn người nhịp 52 lần mỗi phút nhưng đang ngất do block từng lúc.
Chẩn đoán
Đo mạch và huyết áp
Cần ghi nhận:
Tần số.
Nhịp đều hay không.
Huyết áp.
Triệu chứng cùng thời điểm.
Độ bão hòa oxy.
Một số máy đo tự động có thể đếm sai khi ngoại tâm thu hoặc rung nhĩ. Điện tâm đồ vẫn cần thiết khi nghi ngờ.
Điện tâm đồ
Điện tâm đồ giúp xác định:
Nhịp chậm xoang.
Ngừng xoang.
Block xoang nhĩ.
Block nhĩ thất.
Nhịp thoát bộ nối.
Nhịp thoát thất.
Rung nhĩ với đáp ứng thất chậm.
Nhồi máu cơ tim.
Rối loạn điện giải.
Tác dụng thuốc.
Điện tâm đồ chỉ ghi trong thời gian ngắn nên có thể không bắt được cơn xảy ra từng lúc.
Holter điện tâm đồ
Holter ghi nhịp liên tục trong một hoặc nhiều ngày.
Phương pháp này giúp đối chiếu triệu chứng với nhịp, phát hiện khoảng ngừng, nhịp chậm ban đêm và hội chứng nhịp nhanh – nhịp chậm.
Máy ghi sự kiện
Người bệnh có thể kích hoạt thiết bị khi xuất hiện triệu chứng.
Phù hợp khi cơn không xảy ra hằng ngày.
Thiết bị ghi nhịp cấy dưới da
Có thể được sử dụng khi ngất hiếm gặp nhưng nghi do rối loạn nhịp.
Thiết bị theo dõi trong thời gian dài hơn.
Nghiệm pháp gắng sức
Giúp đánh giá nhịp có tăng phù hợp khi vận động hay không.
Phương pháp hữu ích khi người bệnh chủ yếu mệt và giảm sức gắng sức.
Xét nghiệm máu
Có thể gồm:
Kali.
Natri.
Canxi.
Magie.
Chức năng Thận.
Chức năng gan.
Chức năng tuyến giáp.
Đường huyết.
Troponin khi nghi nhồi máu hoặc viêm cơ tim.
Nồng độ digoxin hoặc thuốc khi nghi ngộ độc.
Xét nghiệm nhiễm trùng hoặc chuyển hóa theo bệnh cảnh.
Siêu âm Tâm
Giúp đánh giá:
Chức năng co bóp.
Kích thước buồng Tâm.
Bệnh van Tâm.
Bệnh cơ tim.
Dị tật Tâm.
Áp lực tuần hoàn Phế.
Cộng hưởng từ Tâm
Có thể cần khi nghi viêm cơ tim, bệnh cơ tim thâm nhiễm hoặc sẹo cơ tim.
Đánh giá ngưng thở khi ngủ
Người ngủ ngáy to, ngừng thở khi ngủ, buồn ngủ ban ngày hoặc nhịp chậm chủ yếu về đêm có thể cần xét nghiệm giấc ngủ.
Đánh giá thuốc
Cần cung cấp đầy đủ:
Thuốc Tâm mạch.
Thuốc huyết áp.
Thuốc chống loạn nhịp.
Thuốc ngủ.
Thuốc giảm đau.
Thuốc tâm thần.
Thuốc Trung y.
Thực phẩm bổ sung.
Không nên bỏ qua thuốc không kê đơn hoặc dược liệu vì một số sản phẩm có thể ảnh hưởng nhịp, điện giải hoặc nồng độ thuốc Tâm.
Điều trị theo y học hiện đại
Không triệu chứng và không có nguyên nhân nguy hiểm
Người có nhịp chậm sinh lý có thể không cần điều trị.
Bác sĩ có thể chỉ theo dõi nếu:
Không chóng mặt.
Không ngất.
Không đau ngực.
Không khó thở.
Huyết áp ổn định.
Điện tâm đồ không có block nguy hiểm.
Cấu trúc Tâm bình thường.
Nhịp tăng thích hợp khi vận động.
Điều chỉnh thuốc
Nếu thuốc làm nhịp chậm, bác sĩ có thể:
Giảm liều.
Đổi thuốc.
Điều chỉnh thời gian dùng.
Ngừng thuốc có kiểm soát.
Không tự ngừng thuốc chẹn beta, digoxin, amiodarone hoặc thuốc huyết áp.
Điều trị suy giáp
Bổ sung hormone tuyến giáp đúng chỉ định có thể giúp nhịp và chuyển hóa cải thiện.
Điều chỉnh điện giải
Kali, canxi và magie bất thường phải được điều chỉnh theo xét nghiệm.
Tăng kali nặng có thể cần điều trị cấp cứu.
Điều trị nhồi máu cơ tim
Nếu nhịp chậm do hội chứng vành cấp, cần tái thông mạch, theo dõi và điều trị nhịp.
Điều trị viêm cơ tim
Người bệnh cần nghỉ ngơi, theo dõi rối loạn nhịp và điều trị suy tim hoặc nguyên nhân nền.
Điều trị ngưng thở khi ngủ
Thiết bị hỗ trợ đường thở và kiểm soát cân nặng có thể làm các rối loạn nhịp về đêm giảm.
Điều trị cấp cứu nhịp chậm có triệu chứng
Khi nhịp chậm gây tụt huyết áp, đau ngực do thiếu máu, suy tim cấp, sốc hoặc rối loạn ý thức, người bệnh có thể cần:
Theo dõi liên tục.
Hỗ trợ đường thở và oxy khi thiếu oxy.
Đường truyền tĩnh mạch.
Thuốc tăng nhịp phù hợp.
Điều chỉnh điện giải.
Điều trị ngộ độc thuốc.
Tạo nhịp qua da.
Tạo nhịp tạm thời qua tĩnh mạch.
Điều trị nguyên nhân.
Không được trì hoãn tạo nhịp cần thiết để thử thuốc thang hoặc châm cứu.
Máy tạo nhịp vĩnh viễn
Máy tạo nhịp là thiết bị phát xung điện khi nhịp tự nhiên quá chậm hoặc bị gián đoạn.
Thiết bị có thể được chỉ định khi:
Bệnh nút xoang gây triệu chứng.
Không tăng được nhịp khi gắng sức và ảnh hưởng hoạt động.
Block nhĩ thất nặng.
Block hoàn toàn.
Có khoảng ngừng dài gây ngất.
Nhịp chậm cần điều trị nhưng thuốc cần thiết không thể ngừng.
Một số bệnh dẫn truyền có nguy cơ tiến triển.
Không phải mọi người nhịp dưới 60 đều cần máy tạo nhịp.
Quyết định dựa trên loại rối loạn, triệu chứng, điện tâm đồ và bệnh nền.
Theo dõi máy tạo nhịp
Người đã đặt máy cần:
Tái khám định kỳ.
Kiểm tra pin và dây điện cực.
Báo khi chóng mặt, ngất hoặc hồi hộp trở lại.
Mang thẻ thông tin thiết bị.
Thông báo trước thủ thuật và phẫu thuật.
Tuân thủ hướng dẫn về nam châm, thiết bị điện và chụp cộng hưởng từ.
Nhiều máy tạo nhịp hiện đại tương thích có điều kiện với cộng hưởng từ, nhưng vẫn phải kiểm tra loại máy trước khi chụp.
Nhận thức của Trung y
Tâm chủ huyết mạch
Tâm khí thúc đẩy huyết vận hành.
Tâm khí suy thì lực vận hành yếu, mạch có thể trì hoãn, người bệnh mệt, thở ngắn và hồi hộp.
Tâm dương ôn thông mạch đạo
Dương khí có tính ôn ấm và thúc đẩy.
Tâm dương hư thì mạch đạo mất ôn thông, huyết hành chậm, tay chân lạnh và mạch trì.
Thận dương là căn bản của dương khí
Tâm dương hư kéo dài có thể liên lụy Thận.
Tâm Thận dương hư thường kèm lưng gối mỏi, phù, tiểu ít hoặc tiểu đêm.
Hàn chủ co rút và ngưng trệ
Hàn tà làm Tâm mạch co rút, khí huyết vận hành chậm, ngực đau và mạch trầm trì.
Đàm trọc bế trở
Đàm trọc làm hung dương không thông, khí cơ vùng ngực nặng nề, nhịp có thể chậm hoặc rối loạn.
Huyết ứ trở mạch
Huyết ứ làm Tâm mạch không thông, gây ngực tức, môi tím, lưỡi tím và mạch kết hoặc đại.
Khí âm lưỡng hư
Khí hư làm lực thúc đẩy suy; âm hư làm Tâm mạch mất nhu dưỡng.
Người bệnh có thể hồi hộp, mệt, miệng khô, mất ngủ và nhịp không đều.
Trì mạch
Trì mạch là mạch đến chậm.
Mạch trì có thể liên quan đến hàn, dương hư hoặc một số tình trạng khí huyết suy.
Tuy nhiên, mạch trì không đồng nhất hoàn toàn với nhịp xoang chậm trên điện tâm đồ.
Kết mạch
Kết mạch là mạch chậm và có lúc ngừng không theo quy luật nhất định.
Có thể gặp trong hàn, khí trệ, huyết ứ, đàm hoặc dương hư.
Điện tâm đồ có thể cho thấy ngoại tâm thu, block hoặc khoảng ngừng, nhưng không thể suy đoán loại rối loạn chỉ bằng bắt mạch.
Đại mạch
Đại mạch là mạch có khoảng ngừng tương đối theo quy luật.
Trong cổ điển, thường được xem là dấu hiệu Tạng khí suy hoặc bệnh nặng.
Trong thực hành hiện đại, cần ghi điện tâm đồ để xác định ngoại tâm thu, block hoặc rối loạn khác.
Bệnh cơ tổng quát
Phần gốc thường gồm:
Tâm khí hư.
Tâm dương hư.
Tâm Thận dương hư.
Khí âm lưỡng hư.
Tâm Tỳ lưỡng hư.
Phần ngọn thường gồm:
Hàn ngưng.
Đàm trọc.
Huyết ứ.
Khí trệ.
Điều trị Trung y phải căn cứ thể bệnh, nhưng không được dùng lý luận dương hư để trì hoãn máy tạo nhịp khi có block nặng.
Nguyên tắc điều trị theo Trung y
Tâm khí hư thì ích khí dưỡng Tâm.
Tâm dương hư thì ôn dương thông mạch.
Tâm Thận dương hư thì ôn bổ Tâm Thận, trợ dương hóa khí.
Hàn ngưng Tâm mạch thì ôn kinh tán hàn, thông dương chỉ thống.
Đàm trọc bế trở thì kiện Tỳ hóa đàm, khoan hung thông dương.
Huyết ứ trở mạch thì hoạt huyết thông mạch.
Khí âm lưỡng hư thì ích khí dưỡng âm, phục mạch.
Tâm Tỳ lưỡng hư thì kiện Tỳ dưỡng Tâm, ích khí sinh huyết.
Chú ý chung khi biện trị
Không dùng Phụ tử chỉ vì nhịp thấp.
Không dùng Nhân sâm liều cao để “kích Tâm”.
Không hoạt huyết khi chưa biết thuốc chống đông đang sử dụng.
Không châm cứu khi có ngất, tụt huyết áp hoặc block nặng.
Không đánh giá hiệu quả chỉ bằng việc nhịp tăng tạm thời.
Không bỏ qua nguyên nhân thuốc, điện giải và tuyến giáp.
Một. Tâm khí hư
Chứng trạng
Nhịp Tâm chậm nhẹ hoặc trung bình, hồi hộp, mệt, thở ngắn, vận động nhẹ đã mệt, tự ra mồ hôi, sắc mặt nhợt, tiếng nói nhỏ; lưỡi nhạt, mạch trì hoãn hoặc hư nhược.
Bệnh cơ
Tâm khí không đủ, huyết mạch vận hành thiếu lực. Khí hư không cố biểu nên tự ra mồ hôi.
Có thể gặp ở người thể lực yếu, sau bệnh kéo dài, sau viêm cơ tim hoặc sau một số bệnh Tâm đã ổn định.
Pháp trị
Ích khí dưỡng Tâm, cố biểu, phục mạch.
Phương thang
Bảo nguyên thang hợp Sinh mạch tán gia giảm (保元汤合生脉散加减): Hoàng kỳ (黄芪), Đảng sâm (党参), Chích cam thảo (炙甘草), Mạch môn đông (麦门冬), Ngũ vị tử (五味子), Phục linh (茯苓), Toan táo nhân (酸枣仁). Nhục quế (肉桂) chỉ cân nhắc lượng nhỏ khi có hàn tượng rõ.
Gia giảm
Mồ hôi nhiều gia Phù tiểu mạch (浮小麦), Ma hoàng căn (麻黄根), Mẫu lệ (牡蛎); ăn kém gia Bạch truật (白术), Sơn dược (山药), Sa nhân (砂仁); hồi hộp gia Long cốt (龙骨), Bá tử nhân (柏子仁).
Ý nghĩa
Hoàng kỳ và Đảng sâm ích khí; Mạch môn đông dưỡng âm; Ngũ vị tử liễm khí; Phục linh kiện Tỳ; Toan táo nhân dưỡng Tâm an thần.
Chú ý
Nếu nhịp chậm mới xuất hiện hoặc kèm chóng mặt, không nên chỉ dùng thuốc bổ khí. Cần ghi điện tâm đồ trước.
Hai. Tâm dương hư
Chứng trạng
Nhịp Tâm chậm, hồi hộp, ngực tức, thở ngắn, mệt, sợ lạnh, tay chân lạnh, sắc mặt trắng xanh, có thể phù nhẹ; lưỡi nhạt bệu, rêu trắng, mạch trầm trì hoặc kết đại.
Bệnh cơ
Tâm dương không đủ ôn thông huyết mạch. Huyết hành chậm, khí hóa suy, nên nhịp chậm, lạnh và mệt.
Pháp trị
Ôn dương ích khí, thông mạch phục nhịp.
Phương thang
Quế chi cam thảo thang hợp Tham phụ thang gia giảm (桂枝甘草汤合参附汤加减): Quế chi (桂枝), Chích cam thảo (炙甘草), Đảng sâm (党参) hoặc Nhân sâm (人参), Phụ tử chế (制附子), Hoàng kỳ (黄芪), Đan sâm (丹参), Phục linh (茯苓), Ngũ vị tử (五味子).
Gia giảm
Sợ lạnh rõ gia Can khương (干姜) lượng nhỏ; phù nhẹ gia Trạch tả (泽泻), Xa tiền tử (车前子); mất ngủ, hồi hộp gia Long cốt (龙骨), Mẫu lệ (牡蛎), Toan táo nhân (酸枣仁).
Ý nghĩa
Quế chi thông dương Tâm mạch; Chích cam thảo ích khí hòa Trung; Đảng sâm hoặc Nhân sâm bổ khí; Phụ tử chế ôn dương; Hoàng kỳ ích khí; Đan sâm thông mạch; Phục linh kiện Tỳ lợi thủy; Ngũ vị tử liễm khí định Tâm.
Chú ý
Phụ tử có độc tính và có thể gây rối loạn nhịp nguy hiểm. Không tự dùng ở người nhịp chậm, bệnh mạch vành, suy tim, block dẫn truyền hoặc đang dùng thuốc Tâm.
Ba. Tâm Thận dương hư
Chứng trạng
Nhịp Tâm chậm, hồi hộp, khó thở khi gắng sức, sợ lạnh rõ, lưng gối mỏi, tay chân lạnh, phù chân, tiểu đêm hoặc tiểu ít, sắc mặt trắng xanh; lưỡi nhạt bệu, mạch trầm trì hoặc vi tế.
Bệnh cơ
Tâm dương và Thận dương cùng suy. Huyết mạch mất ôn thông, thủy dịch khí hóa kém, nên nhịp chậm, phù và khó thở.
Pháp trị
Ôn bổ Tâm Thận, trợ dương phục mạch, hóa khí lợi thủy.
Phương thang
Chân vũ thang hợp Tế sinh thận khí hoàn gia giảm (真武汤合济生肾气丸加减): Phụ tử chế (制附子), Bạch truật (白术), Phục linh (茯苓), Bạch thược (白芍), Sinh khương (生姜), Thục địa hoàng (熟地黄), Sơn thù du (山茱萸), Sơn dược (山药), Trạch tả (泽泻), Mẫu đơn bì (牡丹皮), Quế chi (桂枝), Ngưu tất (牛膝), Xa tiền tử (车前子).
Gia giảm
Khí hư rõ gia Hoàng kỳ (黄芪), Đảng sâm (党参); phù rõ gia Trư linh (猪苓), Đại phúc bì (大腹皮); hồi hộp gia Long cốt (龙骨), Mẫu lệ (牡蛎).
Ý nghĩa
Phụ tử chế và Quế chi ôn dương; Bạch truật và Phục linh kiện Tỳ lợi thủy; Thục địa, Sơn thù du và Sơn dược bổ Thận; Trạch tả và Xa tiền tử lợi thủy; Ngưu tất dẫn xuống; Bạch thược hòa doanh.
Chú ý
Phù, tiểu ít và nhịp chậm có thể liên quan suy tim, suy Thận hoặc tăng kali máu. Cần xét nghiệm trước khi dùng thuốc ôn dương, lợi thủy.
Bốn. Hàn ngưng Tâm mạch
Chứng trạng
Nhịp Tâm chậm, đau tức hoặc lạnh đau vùng ngực, gặp lạnh thì tăng, được ấm thì giảm; sợ lạnh, tay chân lạnh, sắc mặt trắng xanh; lưỡi nhạt tím, rêu trắng, mạch trầm trì hoặc trầm khẩn.
Bệnh cơ
Hàn làm Tâm mạch co rút, dương khí không thông và huyết vận hành chậm.
Pháp trị
Ôn kinh tán hàn, thông dương Tâm mạch, khoan hung chỉ thống.
Phương thang
Qua lâu giới bạch quế chi thang gia giảm (瓜蒌薤白桂枝汤加减): Qua lâu (瓜蒌), Giới bạch (薤白), Quế chi (桂枝), Bán hạ (半夏), Chỉ thực (枳实), Hậu phác (厚朴), Đan sâm (丹参), Xuyên khung (川芎), Cam thảo (甘草).
Gia giảm
Sợ lạnh rõ gia Sinh khương (生姜), Can khương (干姜) lượng nhỏ; đau rõ gia Huyền hồ sách (玄胡索); khí hư gia Hoàng kỳ (黄芪), Đảng sâm (党参).
Ý nghĩa
Qua lâu và Giới bạch khoan hung thông dương; Quế chi ôn thông; Bán hạ hóa đàm; Chỉ thực và Hậu phác hành khí; Đan sâm và Xuyên khung hoạt huyết.
Chú ý
Đau ngực kèm vã mồ hôi, buồn nôn, khó thở hoặc đau lan tay, lưng, cổ, hàm cần cấp cứu, không tự điều trị theo thể hàn.
Năm. Đàm trọc bế trở
Chứng trạng
Nhịp Tâm chậm hoặc lúc chậm lúc không đều, ngực nặng, đầu nặng, thân thể nặng, béo bụng, đàm nhiều, bụng đầy, buồn nôn; rêu lưỡi trắng dày nhầy, mạch hoạt hoặc trầm hoạt.
Bệnh cơ
Tỳ hư sinh đàm, đàm trọc bế vùng ngực, làm hung dương không thông và khí cơ bị cản.
Pháp trị
Kiện Tỳ hóa đàm, khứ trọc, khoan hung thông dương.
Phương thang
Qua lâu giới bạch bán hạ thang hợp Ôn đảm thang gia giảm (瓜蒌薤白半夏汤合温胆汤加减): Qua lâu (瓜蒌), Giới bạch (薤白), Bán hạ (半夏), Trần bì (陈皮), Trúc nhự (竹茹), Phục linh (茯苓), Chỉ thực (枳实), Cam thảo (甘草), Sinh khương (生姜), Đại táo (大枣), Đan sâm (丹参), Uất kim (郁金), Trạch tả (泽泻), Sơn tra (山楂).
Gia giảm
Béo bụng gia Hà diệp (荷叶), Ý dĩ nhân (薏苡仁); buồn nôn gia Sa nhân (砂仁), Mộc hương (木香); ngủ kém gia Toan táo nhân (酸枣仁), Viễn chí (远志).
Ý nghĩa
Qua lâu và Giới bạch khoan hung; Bán hạ, Trần bì, Trúc nhự và Phục linh hóa đàm; Chỉ thực hành khí; Đan sâm và Uất kim thông mạch; Trạch tả khứ thấp; Sơn tra tiêu thực.
Sáu. Huyết ứ trở Tâm mạch
Chứng trạng
Nhịp Tâm chậm hoặc không đều, ngực tức hoặc đau âm ỉ, môi hơi tím, sắc mặt tối, hồi hộp; lưỡi tím hoặc có điểm ứ, tĩnh mạch dưới lưỡi tím giãn, mạch sáp, kết hoặc đại.
Bệnh cơ
Huyết ứ trở Tâm mạch, khí huyết không thông, làm nhịp và dẫn truyền mất điều hòa.
Có thể gặp sau nhồi máu cơ tim, viêm cơ tim, bệnh van Tâm hoặc bệnh mạch vành kéo dài.
Pháp trị
Hoạt huyết hóa ứ, thông mạch định quý.
Phương thang
Đan sâm ẩm hợp Huyết phủ trục ứ thang gia giảm (丹参饮合血府逐瘀汤加减): Đan sâm (丹参), Đàn hương (檀香), Sa nhân (砂仁), Đương quy (当归), Sinh địa hoàng (生地黄), Xích thược (赤芍), Xuyên khung (川芎), Đào nhân (桃仁), Hồng hoa (红花), Chỉ xác (枳壳), Cát cánh (桔梗), Uất kim (郁金), Cam thảo (甘草).
Gia giảm
Đau rõ gia Huyền hồ sách (玄胡索); khí hư gia Hoàng kỳ (黄芪), Đảng sâm (党参); mất ngủ gia Toan táo nhân (酸枣仁), Bá tử nhân (柏子仁).
Ý nghĩa
Đan sâm, Xích thược, Xuyên khung, Đào nhân và Hồng hoa hoạt huyết; Đàn hương, Sa nhân, Chỉ xác và Uất kim hành khí; Đương quy và Sinh địa dưỡng huyết; Cát cánh tuyên thông vùng ngực.
Chú ý
Không tự dùng phương hoạt huyết nếu đang sử dụng aspirin, thuốc chống kết tập tiểu cầu hoặc thuốc chống đông.
Bảy. Khí âm lưỡng hư
Chứng trạng
Nhịp Tâm chậm hoặc không đều, hồi hộp, mệt, thở ngắn, miệng khô, ra mồ hôi, ngủ kém; lưỡi đỏ nhạt hoặc ít rêu, mạch tế trì hoặc hư sác xen trì.
Bệnh cơ
Khí hư làm Tâm mạch vận hành thiếu lực; âm hư làm mạch đạo mất nhu dưỡng.
Pháp trị
Ích khí dưỡng âm, phục mạch dưỡng Tâm.
Phương thang
Sinh mạch tán hợp Chích cam thảo thang gia giảm (生脉散合炙甘草汤加减): Đảng sâm (党参), Mạch môn đông (麦门冬), Ngũ vị tử (五味子), Chích cam thảo (炙甘草), Sinh địa hoàng (生地黄), A giao (阿胶), Ma nhân (麻仁), Quế chi (桂枝), Sinh khương (生姜), Đại táo (大枣), Đan sâm (丹参), Toan táo nhân (酸枣仁).
Gia giảm
Miệng khô gia Thạch hộc (石斛), Ngọc trúc (玉竹), Huyền sâm (玄参); mồ hôi nhiều gia Phù tiểu mạch (浮小麦), Mẫu lệ (牡蛎); mất ngủ gia Bá tử nhân (柏子仁), Dạ giao đằng (夜交藤).
Ý nghĩa
Đảng sâm ích khí; Mạch môn đông, Sinh địa và A giao dưỡng âm huyết; Ngũ vị tử liễm khí; Chích cam thảo phục mạch; Quế chi thông dương; Đan sâm thông Tâm mạch; Toan táo nhân dưỡng Tâm.
Tám. Tâm Tỳ lưỡng hư
Chứng trạng
Nhịp Tâm chậm nhẹ hoặc hồi hộp không đều, mệt, ăn kém, ngủ kém, nhiều mộng, sắc mặt nhợt, bụng đầy, đại tiện không đều; lưỡi nhạt, mạch tế nhược hoặc trì nhược.
Bệnh cơ
Tỳ khí hư làm khí huyết sinh hóa không đủ. Tâm khí và Tâm huyết mất nuôi dưỡng, khiến nhịp yếu chậm, hồi hộp và mất ngủ.
Pháp trị
Kiện Tỳ dưỡng Tâm, ích khí dưỡng huyết, an thần.
Phương thang
Quy Tỳ thang gia giảm (归脾汤加减): Đảng sâm (党参), Hoàng kỳ (黄芪), Bạch truật (白术), Phục linh (茯苓), Đương quy (当归), Long nhãn nhục (龙眼肉), Toan táo nhân (酸枣仁), Viễn chí (远志), Mộc hương (木香), Chích cam thảo (炙甘草), Đại táo (大枣), Sinh khương (生姜).
Gia giảm
Ăn kém gia Sa nhân (砂仁), Kê nội kim (鸡内金), Sơn dược (山药); mất ngủ gia Bá tử nhân (柏子仁), Dạ giao đằng (夜交藤); hồi hộp gia Long cốt (龙骨), Mẫu lệ (牡蛎).
Ý nghĩa
Đảng sâm, Hoàng kỳ, Bạch truật và Phục linh kiện Tỳ ích khí; Đương quy và Long nhãn nhục dưỡng huyết; Toan táo nhân và Viễn chí dưỡng Tâm; Mộc hương hành khí.
Châm cứu hỗ trợ
Châm cứu chỉ được cân nhắc khi:
Nguyên nhân nhịp chậm đã được đánh giá.
Người bệnh không ngất.
Không đau ngực.
Không khó thở nặng.
Huyết áp ổn định.
Không có block nặng cần tạo nhịp.
Không có rối loạn điện giải chưa điều chỉnh.
Không có nguy cơ chảy máu cao chưa được đánh giá.
Các huyệt thường dùng gồm Tâm bào-6 Nội quan (内关), Tâm-7 Thần môn (神门), Nhâm-17 Chiên trung (膻中), Bàng quang-15 Tâm du (心俞), Bàng quang-14 Quyết âm du (厥阴俞), Vị-36 Túc tam lý (足三里), Nhâm-6 Khí hải (气海), Nhâm-4 Quan nguyên (关元), Đốc-4 Mệnh môn (命门), Bàng quang-23 Thận du (肾俞), Tỳ-6 Tam âm giao (三阴交), Vị-40 Phong long (丰隆), Bàng quang-17 Cách du (膈俞), Tỳ-10 Huyết hải (血海), Nhâm-12 Trung quản (中脘) và An miên.
Tâm khí hư phối Tâm bào-6 Nội quan, Bàng quang-15 Tâm du, Vị-36 Túc tam lý và Nhâm-6 Khí hải.
Tâm dương hư phối Tâm bào-6 Nội quan, Nhâm-17 Chiên trung, Nhâm-6 Khí hải, Nhâm-4 Quan nguyên và Đốc-4 Mệnh môn.
Tâm Thận dương hư phối Bàng quang-23 Thận du, Đốc-4 Mệnh môn, Nhâm-4 Quan nguyên, Vị-36 Túc tam lý và Tâm bào-6 Nội quan.
Đàm trọc phối Vị-40 Phong long, Nhâm-12 Trung quản, Vị-36 Túc tam lý và Tâm bào-6 Nội quan.
Huyết ứ phối Bàng quang-17 Cách du, Tỳ-10 Huyết hải, Tâm bào-6 Nội quan và Tỳ-6 Tam âm giao.
Mất ngủ, lo âu phối Tâm-7 Thần môn, An miên, Tâm bào-6 Nội quan và Tỳ-6 Tam âm giao.
Không châm cứu để thay thế máy tạo nhịp.
Không châm cứu khi người bệnh đang chóng mặt, gần ngất hoặc huyết áp thấp.
Bấm huyệt
Trong trường hợp ổn định, có thể day nhẹ Tâm bào-6 Nội quan, Tâm-7 Thần môn, Vị-36 Túc tam lý, Nhâm-6 Khí hải và Tỳ-6 Tam âm giao.
Không ấn mạnh vùng trước Tâm.
Nếu nhịp chậm kèm chóng mặt, ngất, đau ngực hoặc khó thở, cần cấp cứu, không tiếp tục day bấm.
Cứu ngải
Chỉ cân nhắc khi bệnh đã được kiểm tra, tương đối ổn định và người bệnh thuộc thể dương hư hoặc hàn ngưng.
Có thể cứu nhẹ Vị-36 Túc tam lý, Nhâm-6 Khí hải, Nhâm-4 Quan nguyên và Đốc-4 Mệnh môn.
Không cứu khi:
Chưa rõ nguyên nhân nhịp chậm.
Có đau ngực.
Có ngất hoặc gần ngất.
Huyết áp không ổn định.
Có rối loạn nhịp phức tạp.
Có sốt.
Lưỡi đỏ hoặc biểu hiện nhiệt.
Đang nghi nhồi máu cơ tim.
Phối hợp Trung y với thuốc hiện đại
Người nhịp chậm có thể đang dùng thuốc ảnh hưởng trực tiếp đến nhịp và dẫn truyền.
Cần đặc biệt chú ý khi sử dụng dược liệu cùng:
Thuốc chẹn beta.
Verapamil.
Diltiazem.
Digoxin.
Amiodarone.
Thuốc chống loạn nhịp.
Thuốc huyết áp.
Thuốc lợi tiểu.
Thuốc chống đông.
Các vị ôn dương như Phụ tử (附子), Nhục quế (肉桂), Can khương (干姜), Tế tân (细辛) có thể ảnh hưởng nhịp, huyết áp và dẫn truyền.
Nhân sâm (人参) liều cao có thể gây hồi hộp, mất ngủ hoặc tương tác thuốc ở một số người.
Các vị hoạt huyết như Đan sâm (丹参), Tam thất (三七), Hồng hoa (红花), Đào nhân (桃仁), Xuyên khung (川芎), Xích thược (赤芍), Uất kim (郁金) có thể làm nguy cơ chảy máu tăng.
Không tự dùng thuốc Trung y với mục đích tăng nhịp.
Không tự ngừng thuốc hiện đại để thử dược liệu.
Ăn uống điều dưỡng
Nguyên tắc chung
Ăn đủ chất, điều độ và không quá no.
Không uống nhiều rượu.
Không dùng nước tăng lực hoặc chất kích thích để cố làm nhịp tăng.
Không tự dùng rượu thuốc, thuốc bổ Tâm hoặc thuốc trợ dương.
Nếu nhịp chậm do suy giáp, điện giải, thuốc hoặc bệnh Tâm, chế độ ăn không thể thay thế điều trị nguyên nhân.
Thể khí hư
Cháo Hoài sơn Liên tử Đại táo: Hoài sơn (山药), Liên tử (莲子), Đại táo (大枣), gạo tẻ.
Thể khí âm hư
Cháo Mạch môn đông Bách hợp: Mạch môn đông (麦门冬), Bách hợp (百合), Liên tử (莲子), gạo tẻ.
Thể dương hư
Cháo Sinh khương Thông bạch: Sinh khương (生姜), Thông bạch (葱白), gạo tẻ.
Chỉ dùng lượng nhẹ khi sợ lạnh, tay chân lạnh, không sốt, không miệng khô và không lưỡi đỏ.
Thể Tỳ hư đàm thấp
Cháo Ý dĩ nhân Phục linh: Ý dĩ nhân (薏苡仁), Phục linh (茯苓), gạo tẻ.
Tâm thần bất an
Cháo Bách hợp Liên tử: Bách hợp (百合), Liên tử (莲子), gạo tẻ.
Dược thiện không làm hết block nhĩ thất hoặc bệnh nút xoang.
Sinh hoạt điều dưỡng
Theo dõi nhịp và triệu chứng
Nên ghi:
Nhịp Tâm.
Huyết áp.
Thời điểm đo.
Hoạt động đang thực hiện.
Có chóng mặt hay không.
Có đau ngực hay không.
Có khó thở hay không.
Có ngất hay không.
Việc đối chiếu triệu chứng với nhịp giúp bác sĩ đánh giá chính xác hơn.
Đứng dậy từ từ
Người dễ chóng mặt nên ngồi dậy một lúc trước khi đứng.
Tuy nhiên, chóng mặt khi đứng cũng có thể do tụt huyết áp tư thế, mất nước hoặc thuốc, không nhất thiết chỉ do nhịp chậm.
Vận động
Người có nhịp chậm sinh lý và không triệu chứng có thể vận động bình thường.
Nếu nhịp chậm mới xuất hiện hoặc kèm mệt, khó thở, chóng mặt, không nên tập mạnh trước khi được đánh giá.
Điều trị ngưng thở khi ngủ
Ngủ ngáy to, ngừng thở khi ngủ và buồn ngủ ban ngày cần được kiểm tra.
Dùng thuốc đúng
Không tự ngừng thuốc chẹn beta hoặc thuốc chống loạn nhịp.
Nếu xuất hiện chóng mặt, mệt, ngất hoặc nhịp thấp, cần báo bác sĩ để điều chỉnh.
Đồng hồ thông minh
Đồng hồ có thể giúp nhận biết nhịp thấp nhưng không chẩn đoán được loại block hoặc bệnh nút xoang.
Kết quả có thể sai khi tiếp xúc da kém, vận động hoặc ngoại tâm thu.
Nếu có triệu chứng, phải khám dù thiết bị báo nhịp bình thường.
Lái xe
Người có ngất hoặc gần ngất do rối loạn nhịp không nên tiếp tục lái xe cho đến khi được đánh giá và cho phép.
Người đặt máy tạo nhịp cần tuân theo hướng dẫn riêng về thời điểm lái xe trở lại.
Lưu ý ở người cao tuổi
Mệt, lú lẫn, té ngã hoặc giảm khả năng đi lại có thể là biểu hiện của nhịp chậm.
Không nên xem tất cả những biểu hiện này là do tuổi già.
Dấu hiệu cần tái khám sớm
Nhịp chậm mới xuất hiện.
Mệt tăng.
Giảm sức gắng sức.
Chóng mặt.
Hồi hộp.
Té ngã.
Nhịp lúc nhanh lúc chậm.
Nhịp thấp lặp lại nhiều lần trên thiết bị.
Khó thở nhẹ nhưng tăng dần.
Dấu hiệu cần cấp cứu
Ngất.
Gần ngất liên tiếp.
Đau ngực.
Khó thở nhiều.
Lơ mơ.
Co giật.
Huyết áp tụt.
Tay chân lạnh.
Da tím tái.
Nhịp rất chậm kèm triệu chứng.
Không tự lái xe khi đang choáng hoặc gần ngất.
Những điều nên làm
Đo nhịp và huyết áp khi có triệu chứng.
Làm điện tâm đồ khi nhịp chậm mới xuất hiện.
Cung cấp đầy đủ danh sách thuốc.
Kiểm tra điện giải, tuyến giáp và chức năng Thận theo chỉ định.
Theo dõi nhịp dài ngày khi triệu chứng xảy ra từng lúc.
Điều trị ngưng thở khi ngủ nếu có.
Tái khám đúng hẹn sau đặt máy tạo nhịp.
Đi cấp cứu khi ngất, đau ngực, khó thở hoặc huyết áp tụt.
Những điều không nên làm
Không mặc nhiên cho rằng nhịp chậm là dấu hiệu Tâm khỏe.
Không tự ngừng thuốc Tâm mạch.
Không tự dùng Phụ tử, Nhục quế, Can khương, Nhân sâm liều cao hoặc rượu thuốc để tăng nhịp.
Không châm cứu, bấm huyệt hoặc cứu ngải khi có ngất, đau ngực hoặc khó thở.
Không tập mạnh khi chưa rõ nguyên nhân.
Không bỏ qua té ngã hoặc lú lẫn ở người cao tuổi.
Không trì hoãn máy tạo nhịp khi đã có chỉ định.
Không dùng đồng hồ thông minh thay điện tâm đồ.
Chú ý
Nhịp tim chậm có thể hoàn toàn bình thường nhưng cũng có thể là biểu hiện của bệnh dẫn truyền nguy hiểm.
Khi nhịp chậm kèm chóng mặt, gần ngất, ngất, đau ngực, khó thở, lơ mơ, tím tái, huyết áp tụt hoặc tay chân lạnh, cần cấp cứu.
Không dùng thuốc Trung y, thuốc bổ, rượu thuốc, bấm huyệt, châm cứu hoặc cứu ngải để trì hoãn việc ghi điện tâm đồ và xử trí.
Người đang dùng thuốc làm chậm nhịp không được tự ngừng thuốc, nhưng cần báo bác sĩ ngay khi xuất hiện triệu chứng.
Kết luận
Nhịp tim chậm là tình trạng Tâm đập chậm hơn mức thường gặp, thường được xác định khi nhịp lúc nghỉ dưới 60 lần mỗi phút ở người trưởng thành.
Tuy nhiên, nhịp chậm không phải lúc nào cũng là bệnh. Người trẻ khỏe, vận động viên và người đang ngủ có thể có nhịp thấp mà tuần hoàn vẫn bình thường.
Nhịp chậm trở thành vấn đề khi làm lượng máu bơm ra không đủ hoặc phản ánh bệnh nút xoang, block nhĩ thất, bệnh Tâm, tác dụng thuốc, suy giáp, rối loạn điện giải, hạ thân nhiệt hoặc bệnh toàn thân.
Triệu chứng thường gặp gồm mệt, chóng mặt, giảm sức gắng sức, khó thở, đau ngực, gần ngất, ngất, lú lẫn và té ngã.
Điện tâm đồ là phương pháp nền tảng để xác định loại nhịp chậm. Holter, thiết bị theo dõi dài ngày, nghiệm pháp gắng sức, siêu âm Tâm và xét nghiệm giúp tìm nguyên nhân.
Điều trị phụ thuộc nguyên nhân và triệu chứng. Người không triệu chứng có thể chỉ cần theo dõi. Người nhịp chậm do thuốc, suy giáp hoặc điện giải cần điều chỉnh nguyên nhân. Bệnh nút xoang hoặc block nặng gây triệu chứng có thể cần máy tạo nhịp.
Trong Trung y, nhịp tim chậm có thể thuộc phạm vi Tâm quý, Chinh xung, Trì mạch, Kết mạch, Đại mạch, Hung tý và Quyết chứng.
Tâm khí hư thì ích khí dưỡng Tâm; Tâm dương hư thì ôn dương thông mạch; Tâm Thận dương hư thì ôn bổ Tâm Thận; hàn ngưng thì tán hàn thông dương; đàm trọc thì kiện Tỳ hóa đàm; huyết ứ thì hoạt huyết thông mạch; khí âm lưỡng hư thì ích khí dưỡng âm; Tâm Tỳ lưỡng hư thì kiện Tỳ dưỡng Tâm.
Tuy nhiên, Trung y chỉ có vai trò hỗ trợ khi nguyên nhân đã được xác định và tình trạng ổn định. Không có phương thang hoặc huyệt vị nào thay thế được điện tâm đồ, xử trí cấp cứu hoặc máy tạo nhịp khi có chỉ định.
Nói tóm lại, đánh giá nhịp tim chậm phải căn cứ cả con số, triệu chứng, huyết áp và loại rối loạn dẫn truyền. Một nhịp thấp không triệu chứng có thể bình thường, nhưng nhịp chậm kèm ngất, đau ngực hoặc khó thở luôn cần được xem xét khẩn cấp.
Trường Xuân Đường biên soạn và tổng hợp