Khái luận
Con người sống trong môi trường tự nhiên, chịu ảnh hưởng thường xuyên của khí hậu, thời tiết, địa hình và chất lượng không khí. Nóng, lạnh, gió, mưa, độ ẩm, khô táo, khói bụi, thay đổi áp suất hoặc tình trạng thiếu oxy ở vùng cao đều có thể ảnh hưởng đến khí huyết và sự vận hành của Tâm mạch.
Trong Trung y, bệnh mạch vành thường được xem xét trong phạm vi Hung tý (胸痹), Tâm thống (心痛), Tâm quý (心悸), Chinh xung (怔忡), Đoản khí (短气) và Hư lao (虚劳). Bệnh cơ chủ yếu thuộc bản hư tiêu thực (本虚标实): Tâm khí, Tâm dương, khí âm, Tỳ Thận hoặc Can Thận suy yếu là phần gốc; đàm trọc, huyết ứ, khí trệ và hàn ngưng làm Tâm mạch không thông là phần ngọn.
Môi trường tự nhiên thường không phải nguyên nhân duy nhất gây bệnh, nhưng có thể làm phần bệnh vốn tiềm ẩn phát tác. Người có Tâm khí hư, Tâm dương hư, khí âm lưỡng hư, đàm thấp hoặc huyết ứ thường nhạy cảm hơn với lạnh nóng, ẩm thấp, gió mạnh và thay đổi thời tiết.
Thiên nhân tương ứng
Trung y có quan niệm thiên nhân tương ứng (天人相应), nghĩa là hoạt động sinh lý của con người có quan hệ mật thiết với sự biến đổi của trời đất và bốn mùa.
Mùa xuân dương khí sinh phát, phong khí nhiều; mùa hè thử nhiệt thịnh, dễ hao khí thương tân; mùa thu táo khí rõ, dễ tổn thương tân dịch; mùa đông hàn khí thịnh, dễ làm khí huyết ngưng trệ.
Khi chính khí đầy đủ, cơ thể có thể thích ứng với thay đổi bên ngoài. Khi chính khí suy hoặc Tâm mạch vốn không thông, ngoại tà dễ dẫn động nội thương, làm đau ngực, tức ngực, hồi hộp và khó thở xuất hiện.
Bệnh cơ chủ yếu
Hàn ngưng Tâm mạch
Hàn có tính thu dẫn và ngưng trệ. Khi gặp lạnh, mạch lạc co rút, khí huyết vận hành chậm, Tâm mạch dễ bị bế trở. Người bệnh thường đau ngực gặp lạnh tăng, được ấm thì giảm, tay chân lạnh và sắc mặt nhợt.
Thử nhiệt hao khí thương tân
Nóng bức làm mồ hôi ra nhiều, khí và tân dịch cùng hao. Khí hư thì huyết vận hành thiếu lực; tân dịch hao thì huyết mạch mất nhu dưỡng. Người bệnh dễ mệt lả, khát, hồi hộp, chóng mặt và ngực tức.
Thấp tà khốn Tỳ
Thấp có tính nặng đục và dính trệ. Môi trường ẩm thấp làm Tỳ vận hóa kém, đàm trọc dễ sinh. Đàm trọc bế vùng ngực thì hung dương không thông, sinh ngực nặng và thở không khoan khoái.
Táo nhiệt thương âm
Khí hậu khô nóng làm tân dịch hao, Phế và Tâm mất nhu dưỡng. Người bệnh có thể miệng khô, họng khô, hồi hộp, mất ngủ, táo bón và ngực tức âm ỉ.
Phong tà dẫn động
Phong có tính biến động và thường kết hợp với hàn, thấp hoặc nhiệt. Thời tiết thay đổi nhanh, gió mạnh hoặc chuyển mùa có thể làm bệnh phát tác đột ngột ở người chính khí suy.
Trọc tà phạm Phế
Khói bụi, khói xe, khói cháy và không khí ngột ngạt làm Phế khí không tuyên giáng. Phế chủ khí, Tông khí tụ ở ngực; khi Phế khí bất lợi, Tâm mạch cũng mất sự điều hòa, người bệnh dễ ho, tức ngực và khó thở.
Ngoại tà dẫn động nội thương
Ảnh hưởng của môi trường đối với bệnh mạch vành có thể khái quát bằng cụm từ “ngoại tà dẫn động nội thương”.
Bên trong người bệnh đã có Tâm khí hư, Tâm dương hư, khí âm bất túc, đàm trọc hoặc huyết ứ. Bên ngoài lại gặp lạnh, nóng, ẩm, gió hoặc khói bụi. Nội ngoại cùng tác động làm Tâm mạch mất thông lợi và bệnh dễ phát tác.
Ảnh hưởng của thời tiết lạnh
Khi trời lạnh, người có Tâm dương hư hoặc hàn ngưng thường đau ngực, ngực co thắt, tay chân lạnh và khó thở rõ hơn. Buổi sáng sớm, lúc vừa ra khỏi chăn ấm, khi tắm lạnh hoặc đi ngược gió là những thời điểm cần đặc biệt thận trọng.
Mùa lạnh nên mặc đủ ấm theo từng lớp, giữ ấm đầu, cổ, ngực, lưng và bàn chân. Sau khi thức dậy nên cử động nhẹ trong phòng, mặc ấm rồi mới ra ngoài.
Không nên dùng rượu để làm ấm. Rượu có thể làm Tâm thần không yên, hao khí, sinh thấp nhiệt và ảnh hưởng đến thuốc đang sử dụng.
Ảnh hưởng của thời tiết nóng
Nóng quá mức làm ra nhiều mồ hôi, khí và tân dịch hao tổn. Người khí âm hư dễ xuất hiện mệt, hồi hộp, khát, miệng khô và chóng mặt.
Nên tránh làm việc hoặc vận động ngoài trời vào lúc nắng gắt. Phòng ở cần thoáng mát, nhưng không để luồng khí lạnh thổi trực tiếp vào ngực và lưng.
Không nên từ ngoài trời nóng bước vào phòng điều hòa quá lạnh hoặc tắm nước lạnh ngay. Sự thay đổi nhiệt độ đột ngột có thể làm khí huyết mất điều hòa.
Người có phù, suy tim hoặc bệnh Thận cần căn cứ tình trạng riêng để điều chỉnh lượng nước.
Ảnh hưởng của môi trường ẩm thấp
Mưa kéo dài, nhà ở ẩm, khí hậu nồm và ít ánh nắng dễ làm người Tỳ hư đàm thấp cảm thấy thân thể nặng, đầu nặng, bụng đầy, ăn kém và ngực tức.
Nhà ở nên được giữ khô thoáng, chăn gối cần phơi khi có điều kiện. Không nên nằm lâu trên nền lạnh hoặc mặc quần áo ẩm.
Ăn uống trong thời tiết ẩm nên giảm đồ sống lạnh, béo ngọt và khó tiêu. Có thể vận động nhẹ để khí cơ lưu thông, nhưng không tập đến kiệt sức.
Ảnh hưởng của khô táo
Khí hậu khô, sử dụng máy sưởi lâu hoặc ở nơi thiếu độ ẩm có thể làm miệng họng khô, da khô, táo bón và mất ngủ.
Người âm hư nên chú ý dưỡng âm sinh tân, tránh ăn quá nhiều thức ăn cay nóng, nướng khô và uống rượu.
Phòng ở cần có độ ẩm vừa phải, nhưng không nên quá ẩm làm đàm thấp tăng.
Ảnh hưởng của gió và chuyển mùa
Gió mạnh, mưa lạnh và sự thay đổi nhanh giữa nóng và lạnh có thể làm người cao tuổi hoặc người Tâm dương hư khó thích ứng.
Mùa chuyển tiếp không nên vội thay đổi quần áo. Khi ra ngoài cần căn cứ nhiệt độ thực tế và tránh để gió lạnh thổi trực tiếp vào cổ gáy, ngực và lưng.
Người thường đau ngực khi chuyển mùa nên sắp xếp sinh hoạt nhẹ hơn, ngủ đủ và tránh lao lực trong những ngày thời tiết biến động.
Ô nhiễm không khí và khói bụi
Khói bụi làm Phế khí bị trở ngại, Tông khí trong ngực không thông. Người bệnh có thể ho, tức ngực, khó thở, hồi hộp và mệt.
Khi chất lượng không khí kém hoặc có khói cháy, nên hạn chế ra ngoài và tránh tập thể dục ngoài trời. Nhà ở cần đóng cửa phù hợp, giảm khói bụi xâm nhập và sử dụng thiết bị lọc không khí nếu có điều kiện.
Khi phải ra ngoài nên dùng phương tiện bảo vệ thích hợp. Sau khi về nhà có thể thay quần áo, rửa mặt và súc miệng.
Nếu tức ngực hoặc khó thở xuất hiện sau khi tiếp xúc khói bụi và không giảm khi nghỉ, cần được đánh giá kịp thời.
Vùng cao và môi trường thiếu oxy
Ở vùng cao, không khí loãng hơn, Phế khí và Tông khí dễ bất túc. Người bệnh có thể thở ngắn, hồi hộp, chóng mặt, mệt hoặc ngực tức khi gắng sức.
Người có bệnh Tâm mạch chưa ổn định, suy tim, rối loạn nhịp hoặc thường đau ngực không nên tự ý leo núi hoặc đến vùng cao.
Khi đi vùng cao cần tăng độ cao từ từ, nghỉ đủ, tránh rượu và không gắng sức. Nếu xuất hiện đau ngực, tím môi, khó thở nhiều hoặc choáng, cần xuống nơi thấp hơn và tìm hỗ trợ.
Nguyên tắc điều trị
Hàn ngưng thì tán hàn thông dương.
Thử nhiệt thì thanh thử ích khí, dưỡng âm sinh tân.
Thấp tà thì kiện Tỳ hóa thấp, hóa đàm khoan hung.
Phong hàn phạm Phế thì sơ phong tán hàn, tuyên Phế lợi khí.
Táo nhiệt thì dưỡng âm nhuận táo, dưỡng Tâm.
Trọc tà phạm Phế thì tuyên Phế hóa trọc, khoan hung thông mạch.
Khí âm lưỡng hư thì ích khí dưỡng âm, phục mạch.
Một. Hàn tà ngưng trệ Tâm mạch
Chứng trạng
Đau hoặc tức ngực phát tác khi gặp lạnh, gió lạnh, mưa lạnh hoặc tắm lạnh; đau co thắt, được ấm thì giảm, sợ lạnh, tay chân lạnh, sắc mặt trắng xanh, lưỡi nhạt tím, rêu trắng, mạch trầm khẩn hoặc trầm trì.
Bệnh cơ
Hàn tà làm dương khí bị uất, khí huyết ngưng trệ, Tâm mạch không thông nên đau. Gặp lạnh đau tăng và được ấm thì giảm là đặc điểm nổi bật.
Pháp trị
Tán hàn thông dương, ôn thông Tâm mạch.
Phương thang
Qua lâu giới bạch quế chi thang gia giảm (瓜蒌薤白桂枝汤加减): Qua lâu (瓜蒌), Giới bạch (薤白), Quế chi (桂枝), Bán hạ (半夏), Chỉ thực (枳实), Hậu phác (厚朴), Đan sâm (丹参), Xuyên khung (川芎), Cam thảo (甘草).
Gia giảm
Sợ lạnh rõ gia Can khương (干姜); đau nhiều gia Huyền hồ sách (玄胡索); đàm nhiều, ngực nặng gia Trần bì (陈皮), Phục linh (茯苓). Phụ tử chế (制附子) và Tế tân (细辛) chỉ nên dùng khi có thầy thuốc chuyên môn theo dõi.
Ý nghĩa
Qua lâu và Giới bạch khoan hung thông dương; Quế chi ôn thông Tâm mạch; Bán hạ hóa đàm; Chỉ thực và Hậu phác hành khí; Đan sâm và Xuyên khung hoạt huyết.
Chú ý
Không được tự dùng Phụ tử hoặc Tế tân. Đau ngực khi trời lạnh vẫn có thể là biểu hiện nguy cấp, không nên chỉ chườm ấm và chờ đợi.
Hai. Thử nhiệt thương khí âm
Chứng trạng
Sau khi ở ngoài trời nóng hoặc ra nhiều mồ hôi, người bệnh mệt lả, hồi hộp, thở ngắn, khát, ngực tức, chóng mặt, miệng khô, lưỡi đỏ nhạt, ít tân dịch, mạch hư sác hoặc tế sác.
Bệnh cơ
Thử nhiệt hao khí và tổn thương tân dịch. Khí hư làm Tâm mạch vận hành thiếu lực; tân dịch hao làm huyết mạch mất nhu dưỡng.
Pháp trị
Thanh thử ích khí, dưỡng âm sinh tân, dưỡng Tâm thông mạch.
Phương thang
Sinh mạch tán hợp Thanh thử ích khí thang gia giảm (生脉散合清暑益气汤加减): Đảng sâm (党参), Mạch môn đông (麦门冬), Ngũ vị tử (五味子), Tây dương sâm (西洋参), Thạch hộc (石斛), Trúc diệp (竹叶), Hà diệp (荷叶), Tri mẫu (知母), Hoàng kỳ (黄芪), Đan sâm (丹参), Cam thảo (甘草).
Gia giảm
Mồ hôi nhiều gia Phù tiểu mạch (浮小麦), Mẫu lệ (牡蛎); khát nhiều gia Thiên hoa phấn (天花粉), Lô căn (芦根); ngực tức gia Qua lâu (瓜蒌), Uất kim (郁金).
Ý nghĩa
Đảng sâm, Tây dương sâm và Hoàng kỳ ích khí; Mạch môn đông và Thạch hộc dưỡng âm sinh tân; Ngũ vị tử liễm khí; Trúc diệp, Hà diệp và Tri mẫu thanh thử; Đan sâm thông mạch.
Ba. Thấp tà khốn Tỳ, đàm trọc bế ngực
Chứng trạng
Gặp thời tiết ẩm thấp thì thân thể nặng, ngực tức nặng, thở không khoan khoái, đàm nhiều, ăn kém, bụng đầy, buồn ngủ, lưỡi nhạt, rêu trắng dày nhầy, mạch nhu hoạt.
Bệnh cơ
Thấp tà khốn Tỳ, vận hóa suy, đàm trọc nội sinh. Đàm bế vùng ngực làm hung dương không thông và Tâm mạch bị trở ngại.
Pháp trị
Kiện Tỳ hóa thấp, hóa đàm khoan hung, thông mạch.
Phương thang
Qua lâu giới bạch bán hạ thang hợp Nhị trần thang gia giảm (瓜蒌薤白半夏汤合二陈汤加减): Qua lâu (瓜蒌), Giới bạch (薤白), Bán hạ (半夏), Trần bì (陈皮), Phục linh (茯苓), Cam thảo (甘草), Chỉ xác (枳壳), Bạch truật (白术), Ý dĩ nhân (薏苡仁), Đan sâm (丹参), Uất kim (郁金).
Gia giảm
Thân thể nặng gia Hoắc hương (藿香), Thương truật (苍术), Hậu phác (厚朴); bụng đầy gia Sa nhân (砂仁), Mộc hương (木香); rêu vàng nhầy gia Hoàng cầm (黄芩), Trúc nhự (竹茹).
Ý nghĩa
Qua lâu và Giới bạch khoan hung; Bán hạ, Trần bì và Phục linh hóa đàm; Bạch truật và Ý dĩ nhân kiện Tỳ trừ thấp; Chỉ xác hành khí; Đan sâm và Uất kim thông mạch.
Bốn. Phong hàn phạm Phế, Tông khí bất lợi
Chứng trạng
Sau khi gặp gió lạnh xuất hiện ho nhẹ, ngực tức, khó thở, hồi hộp, sợ lạnh, ít mồ hôi, đau mỏi cổ gáy, rêu trắng mỏng, mạch phù khẩn.
Bệnh cơ
Phong hàn phạm Phế làm Phế khí không tuyên giáng. Tông khí trong ngực không thông, ảnh hưởng đến Tâm mạch và hô hấp.
Pháp trị
Sơ phong tán hàn, tuyên Phế khoan hung.
Phương thang
Thông xị thang hợp Qua lâu giới bạch thang gia giảm (葱豉汤合瓜蒌薤白汤加减): Thông bạch (葱白), Đạm đậu xị (淡豆豉), Sinh khương (生姜), Kinh giới (荆芥), Tô diệp (苏叶), Qua lâu (瓜蒌), Giới bạch (薤白), Hạnh nhân (杏仁), Cát cánh (桔梗), Cam thảo (甘草).
Gia giảm
Ho nhiều gia Tử uyển (紫菀), Khoản đông hoa (款冬花); ngực tức gia Đan sâm (丹参), Uất kim (郁金); sợ lạnh rõ gia Quế chi (桂枝).
Ý nghĩa
Thông bạch, Đạm đậu xị và Sinh khương giải biểu tán hàn; Kinh giới và Tô diệp sơ phong; Hạnh nhân và Cát cánh tuyên Phế; Qua lâu và Giới bạch khoan hung thông dương.
Năm. Táo nhiệt thương âm
Chứng trạng
Ở môi trường khô nóng lâu ngày, người bệnh miệng họng khô, da khô, hồi hộp, ngực tức âm ỉ, mất ngủ, táo bón, lưỡi đỏ ít tân dịch, mạch tế sác.
Bệnh cơ
Táo nhiệt hao tân dịch, làm Tâm mạch mất nhu dưỡng. Âm huyết bất túc khiến Tâm thần không yên và huyết hành kém điều hòa.
Pháp trị
Dưỡng âm nhuận táo, sinh tân dưỡng Tâm, kiêm thông mạch.
Phương thang
Sinh mạch tán hợp Thiên vương bổ tâm đan gia giảm (生脉散合天王补心丹加减): Đảng sâm (党参), Mạch môn đông (麦门冬), Ngũ vị tử (五味子), Sinh địa hoàng (生地黄), Huyền sâm (玄参), Thiên môn đông (天门冬), Đan sâm (丹参), Đương quy (当归), Phục linh (茯苓), Toan táo nhân (酸枣仁), Bá tử nhân (柏子仁).
Gia giảm
Táo bón gia Hỏa ma nhân (火麻仁), Qua lâu nhân (瓜蒌仁); miệng khô rõ gia Thạch hộc (石斛), Ngọc trúc (玉竹); mất ngủ gia Dạ giao đằng (夜交藤), Viễn chí (远志).
Ý nghĩa
Mạch môn đông, Thiên môn đông, Sinh địa và Huyền sâm dưỡng âm sinh tân; Ngũ vị tử liễm khí; Đan sâm và Đương quy dưỡng huyết thông mạch; Toan táo nhân và Bá tử nhân dưỡng Tâm an thần.
Sáu. Trọc tà phạm Phế, Tâm Phế khí trệ
Chứng trạng
Sau khi tiếp xúc khói bụi hoặc không khí ô nhiễm, người bệnh ho, tức ngực, khó thở, hồi hộp, đầu nặng, mệt, lưỡi nhạt hoặc đỏ, rêu nhầy hoặc vàng nhầy, mạch hoạt hoặc sác.
Bệnh cơ
Trọc tà phạm Phế làm Phế khí mất tuyên giáng. Tông khí trong ngực không thông, Tâm mạch bị ảnh hưởng, sinh tức ngực và khó thở.
Pháp trị
Tuyên Phế hóa trọc, khoan hung lý khí, thông mạch.
Phương thang
Ôn đảm thang hợp Qua lâu giới bạch thang gia giảm (温胆汤合瓜蒌薤白汤加减): Bán hạ (半夏), Trần bì (陈皮), Trúc nhự (竹茹), Phục linh (茯苓), Chỉ thực (枳实), Cam thảo (甘草), Qua lâu (瓜蒌), Giới bạch (薤白), Hạnh nhân (杏仁), Cát cánh (桔梗), Đan sâm (丹参), Uất kim (郁金).
Gia giảm
Đàm vàng, họng khô gia Hoàng cầm (黄芩), Liên kiều (连翘), Lô căn (芦根); ho nhiều gia Tử uyển (紫菀), Khoản đông hoa (款冬花); ngực đau gia Huyền hồ sách (玄胡索), Xích thược (赤芍).
Ý nghĩa
Bán hạ, Trần bì, Trúc nhự và Phục linh hóa đàm; Hạnh nhân và Cát cánh tuyên Phế; Qua lâu và Giới bạch khoan hung; Đan sâm và Uất kim thông Tâm mạch.
Bảy. Khí âm lưỡng hư, thích ứng kém với khí hậu
Chứng trạng
Bệnh kéo dài, thể lực yếu, gặp nóng hoặc lạnh đều dễ mệt, hồi hộp, thở ngắn, ra mồ hôi, miệng khô, ngủ kém, lưỡi đỏ nhạt hoặc ít rêu, mạch tế nhược hoặc hư sác.
Bệnh cơ
Khí âm cùng hư làm cơ thể giảm khả năng điều hòa trước thay đổi bên ngoài. Khí hư nên không chịu được lạnh; âm hư nên không chịu được nóng và khô.
Pháp trị
Ích khí dưỡng âm, phục mạch an thần.
Phương thang
Sinh mạch tán hợp Chích cam thảo thang gia giảm (生脉散合炙甘草汤加减): Đảng sâm (党参), Mạch môn đông (麦门冬), Ngũ vị tử (五味子), Chích cam thảo (炙甘草), Sinh địa hoàng (生地黄), A giao (阿胶), Ma nhân (麻仁), Quế chi (桂枝), Sinh khương (生姜), Đại táo (大枣), Đan sâm (丹参), Toan táo nhân (酸枣仁).
Gia giảm
Mồ hôi nhiều gia Phù tiểu mạch (浮小麦), Mẫu lệ (牡蛎); miệng khô gia Thạch hộc (石斛), Ngọc trúc (玉竹); ngực tức gia Qua lâu (瓜蒌), Uất kim (郁金).
Ý nghĩa
Đảng sâm ích khí; Mạch môn đông và Sinh địa dưỡng âm; Ngũ vị tử liễm khí; Chích cam thảo và A giao dưỡng huyết phục mạch; Quế chi thông dương; Đan sâm hoạt huyết; Toan táo nhân dưỡng Tâm.
Điều dưỡng theo mùa
Mùa xuân
Mùa xuân khí hậu biến đổi, phong khí nhiều. Cần giữ ấm cổ gáy, ngực và lưng, không vội mặc quá mỏng. Có thể đi bộ nhẹ khi thời tiết thuận lợi, giúp khí cơ thư đạt.
Người Can khí uất nên giữ tinh thần tương đối hòa hoãn, tránh giận dữ và làm việc quá căng thẳng.
Mùa hè
Mùa hè cần tránh nắng gắt, hạn chế ra ngoài vào lúc nóng nhất và không tập luyện đến ra quá nhiều mồ hôi.
Phòng ở nên thoáng mát nhưng không để điều hòa quá lạnh. Không tắm lạnh ngay sau khi đi nắng hoặc vận động.
Mùa thu
Mùa thu khí khô, cần dưỡng âm và bảo vệ Phế. Ăn uống nên thanh nhuận, tránh cay nướng quá nhiều.
Người miệng khô, ho khan, mất ngủ hoặc táo bón nên điều chỉnh sớm để tránh tân dịch hao thêm.
Mùa đông
Mùa đông cần đặc biệt giữ ấm, tránh ra ngoài sớm khi trời lạnh và không gắng sức đột ngột.
Buổi sáng nên thức dậy từ từ, mặc đủ ấm trước khi xuống giường. Người thường đau ngực khi lạnh cần chú ý mang theo thuốc đang được chỉ định.
Châm cứu hỗ trợ
Châm cứu có thể hỗ trợ điều khí, thông mạch, hóa đàm và cải thiện khả năng thích ứng khi bệnh đã ổn định.
Các huyệt thường dùng gồm Tâm bào-6 Nội quan (内关), Nhâm-17 Chiên trung (膻中), Bàng quang-15 Tâm du (心俞), Tâm-7 Thần môn (神门), Vị-36 Túc tam lý (足三里), Tỳ-6 Tam âm giao (三阴交), Vị-40 Phong long (丰隆), Bàng quang-13 Phế du (肺俞), Bàng quang-17 Cách du (膈俞), Nhâm-6 Khí hải (气海), Nhâm-4 Quan nguyên (关元).
Hàn ngưng phối Tâm bào-6 Nội quan, Nhâm-17 Chiên trung, Bàng quang-15 Tâm du, Nhâm-4 Quan nguyên và Nhâm-6 Khí hải.
Khí âm hư do nóng phối Tâm bào-6 Nội quan, Tâm-7 Thần môn, Tỳ-6 Tam âm giao, Vị-36 Túc tam lý và Thận-3 Thái khê.
Đàm thấp phối Vị-40 Phong long, Nhâm-12 Trung quản, Vị-36 Túc tam lý, Tâm bào-6 Nội quan và Nhâm-17 Chiên trung.
Khói bụi phạm Phế phối Bàng quang-13 Phế du, Nhâm-17 Chiên trung, Tâm bào-6 Nội quan, Đại trường-4 Hợp cốc và Vị-36 Túc tam lý.
Không dùng châm cứu để trì hoãn việc xử trí khi đau ngực cấp, khó thở, vã mồ hôi hoặc choáng.
Bấm huyệt
Có thể day nhẹ Tâm bào-6 Nội quan, Nhâm-17 Chiên trung, Tâm-7 Thần môn, Vị-36 Túc tam lý, Vị-40 Phong long và Tỳ-6 Tam âm giao.
Không ấn mạnh vùng trước tim. Khi triệu chứng tăng hoặc không giảm, không nên tiếp tục day bấm để chờ đợi.
Cứu ngải
Cứu ngải chỉ phù hợp với hàn ngưng hoặc dương hư, biểu hiện sợ lạnh, tay chân lạnh, đau gặp lạnh tăng, lưỡi nhạt và rêu trắng.
Có thể cân nhắc Nhâm-4 Quan nguyên, Nhâm-6 Khí hải, Vị-36 Túc tam lý, Đốc-4 Mệnh môn và Bàng quang-23 Thận du.
Không cứu khi trời nóng, người bốc hỏa, lưỡi đỏ, rêu vàng, tim đập nhanh, huyết áp không ổn định hoặc đau ngực cấp.
Ăn uống điều dưỡng
Trời lạnh, thể hàn ngưng có thể dùng cháo Sinh khương Thông bạch: Sinh khương (生姜), Thông bạch (葱白), gạo tẻ. Người âm hư, miệng khô hoặc lưỡi đỏ không nên dùng nhiều.
Trời nóng, khí âm hư có thể dùng cháo Mạch môn đông Bách hợp: Mạch môn đông (麦门冬), Bách hợp (百合), Liên tử (莲子), gạo tẻ.
Trời ẩm thấp, đàm trọc có thể dùng cháo Ý dĩ nhân Phục linh: Ý dĩ nhân (薏苡仁), Phục linh (茯苓), gạo tẻ. Người Tỳ Vị hư hàn nên dùng ấm.
Khi Phế bị khô hoặc tiếp xúc khói bụi có thể dùng lê nấu Bách hợp: lê, Bách hợp (百合), một ít Mạch môn đông (麦门冬). Người Tỳ Vị lạnh hoặc tiêu lỏng nên dùng lượng nhỏ và nấu chín.
Những điều nên làm
Theo dõi thời tiết và chất lượng không khí.
Giữ ấm khi trời lạnh.
Tránh nắng gắt và ra nhiều mồ hôi khi trời nóng.
Giữ nhà cửa khô thoáng trong mùa ẩm.
Hạn chế ra ngoài khi khói bụi nhiều.
Không tập ngoài trời khi thời tiết khắc nghiệt.
Mang đủ thuốc khi đi xa.
Thích ứng từ từ khi đến vùng cao.
Chú ý những thay đổi bất thường của sức chịu đựng.
Những điều không nên làm
Không tắm nước quá lạnh hoặc quá nóng.
Không ra ngoài lạnh đột ngột khi vừa thức dậy.
Không vận động mạnh giữa trời nóng, rét hoặc ô nhiễm.
Không xông hơi quá lâu.
Không dùng rượu để làm ấm.
Không tự dùng Phụ tử, Tế tân hoặc Nhục quế liều cao.
Không cho rằng đau ngực chỉ do thời tiết.
Không tự ngừng thuốc đang sử dụng.
Chú ý
Bài viết trình bày nhận thức và phương pháp điều dưỡng theo Trung y. Khi xuất hiện đau ngực dữ dội hoặc kéo dài, đau lan ra vai, cánh tay, lưng, cổ, hàm hoặc vùng thượng vị, kèm khó thở, vã mồ hôi, buồn nôn, choáng ngất, sắc mặt tái xám hoặc tay chân lạnh, cần đi khám hoặc cấp cứu kịp thời.
Không dùng chườm ấm, nghỉ ngơi, thuốc thang, châm cứu, bấm huyệt hoặc dược thiện để trì hoãn việc xử trí.
Kết luận
Môi trường tự nhiên có quan hệ mật thiết với sự ổn định của Tâm mạch. Lạnh làm khí huyết ngưng trệ; nóng làm hao khí thương tân; ẩm thấp làm Tỳ sinh đàm; khô táo làm âm dịch hao; gió và chuyển mùa làm bệnh biến động; khói bụi làm Phế khí và Tông khí bất lợi.
Ảnh hưởng này chủ yếu thuộc quá trình ngoại tà dẫn động nội thương. Người có Tâm khí hư, Tâm dương hư, khí âm lưỡng hư, đàm trọc và huyết ứ thường dễ bị tác động hơn.
Điều dưỡng cần thuận theo bốn mùa, giữ ấm khi lạnh, tránh nóng quá mức, giảm tiếp xúc khói bụi, giữ nhà ở khô thoáng, vận động theo sức và không để cơ thể tiếp xúc đột ngột với môi trường khắc nghiệt.
Hàn ngưng thì ôn thông; thử nhiệt thì ích khí dưỡng âm; thấp tà thì kiện Tỳ hóa đàm; táo nhiệt thì dưỡng âm; trọc tà phạm Phế thì tuyên Phế khoan hung; khí âm hư thì ích khí phục mạch.
Nói tóm lại, thích ứng với môi trường không phải là tránh hoàn toàn mọi thay đổi tự nhiên, mà là căn cứ thể trạng và tình trạng Tâm mạch để điều chỉnh ăn mặc, vận động, nghỉ ngơi và sinh hoạt cho phù hợp.
Trường Xuân biên soạn và tổng hợp