Khái quát
Xoa bóp và bấm huyệt có thể được sử dụng như biện pháp hỗ trợ trong một số trường hợp táo bón chức năng. Các thao tác nhẹ nhàng ở vùng bụng, lưng và một số huyệt có thể giúp người bệnh thư giãn, giảm cảm giác đầy trướng, hỗ trợ nhu động ruột và tạo điều kiện thuận lợi hơn cho phản xạ đại tiện.
Theo Trung y, xoa bóp có tác dụng điều hòa khí cơ, kiện Tỳ, hòa Vị, thông lợi Đại trường và hỗ trợ lưu thông khí huyết.
Theo y học hiện đại, xoa bụng nhẹ nhàng có thể tác động cơ học lên thành bụng, kích thích phản xạ thần kinh của đường ruột và giúp người bệnh nhận biết rõ hơn hoạt động của đại tràng.
Tuy nhiên, xoa bóp không thể thay thế thuốc làm mềm phân, xử lý ứ phân, phục hồi chức năng cơ sàn chậu hoặc điều trị bệnh thực thể. Khi có đau bụng dữ dội, nôn, sốt, bụng chướng tăng hoặc bí trung tiện, không được tiếp tục xoa bóp tại nhà.
Cơ sở của phương pháp xoa bóp
Điều hòa nhu động đường ruột
Những động tác vuốt và xoa nhẹ theo đường đi của đại tràng có thể hỗ trợ sự di chuyển của khí và phân trong ruột.
Làm thư giãn thành bụng
Căng thẳng, lo âu hoặc cố rặn kéo dài có thể làm cơ bụng và cơ sàn chậu co cứng. Xoa bóp nhẹ kết hợp thở chậm giúp người bệnh thả lỏng tốt hơn.
Giảm cảm giác đầy trướng
Ở người táo bón chức năng kèm tích hơi nhẹ, xoa bụng có thể giúp khí di chuyển và làm giảm cảm giác căng tức.
Hỗ trợ hình thành phản xạ đại tiện
Thực hiện xoa bụng vào một khung giờ ổn định, đặc biệt sau bữa sáng, có thể phối hợp với phản xạ dạ dày – đại tràng và tạo thói quen đại tiện đều đặn.
Quan điểm Trung y
Trung y cho rằng táo bón liên quan trực tiếp đến Đại trường, nhưng cũng có quan hệ với Tỳ, Vị, Can, Phế và Thận.
Xoa bóp có thể được vận dụng theo các nguyên tắc:
Điều khí Đại trường.
Kiện Tỳ, hòa Vị.
Sơ Can, lý khí.
Ích khí, dưỡng huyết.
Ôn dương, tán Hàn.
Thanh nhiệt, thông phủ.
Việc lựa chọn huyệt và cường độ thao tác cần căn cứ thể bệnh. Người Hư chứng cần thủ pháp nhẹ và chậm; người Thực chứng có thể dùng lực rõ hơn nhưng vẫn không được gây đau.
NHỮNG HUYỆT THƯỜNG DÙNG
Nhâm-12 Trung quản
Vị trí ở đường giữa bụng, phía trên rốn.
Tác dụng theo Trung y là hòa Vị, kiện Tỳ, điều khí Trung tiêu. Thường được dùng khi táo bón kèm đầy thượng vị, ăn kém hoặc ợ hơi.
Vị-25 Thiên khu
Nằm hai bên rốn.
Đây là Mộ huyệt của Đại trường, có tác dụng điều hòa Đại trường, hành khí, thông tiện. Là một trong những huyệt thường dùng nhất khi xoa bóp táo bón.
Nhâm-4 Quan nguyên
Nằm ở đường giữa bụng dưới.
Có tác dụng bổ nguyên khí, điều lý Hạ tiêu, phù hợp hơn với khí hư, dương hư hoặc táo bón ở người suy yếu.
Không nên ấn sâu ở phụ nữ mang thai.
Nhâm-6 Khí hải
Nằm ở đường giữa bụng dưới, phía trên Nhâm-4 Quan nguyên.
Có tác dụng điều khí và bổ khí, thường dùng khi phân không quá khô nhưng người bệnh thiếu sức đẩy.
Vị-27 Đại cự
Nằm ở bụng dưới, hai bên đường giữa.
Có thể phối hợp trong táo bón kèm đầy tức vùng bụng dưới.
Can-13 Chương môn
Nằm ở đầu xương sườn tự do thứ 11.
Có tác dụng sơ Can, kiện Tỳ, điều khí. Thường phối hợp khi táo bón kèm ngực sườn đầy tức.
Can-14 Kỳ môn
Nằm vùng ngực dưới, gần bờ sườn.
Có tác dụng sơ Can, lý khí. Không nên tự ấn mạnh vì vùng này gần gan và bờ sườn.
Nhâm-17 Đản trung
Nằm giữa ngực.
Có tác dụng điều khí vùng ngực, thường dùng khi khí trệ, ngực đầy, hay thở dài.
Vị-36 Túc tam lý
Nằm phía ngoài cẳng chân, dưới gối.
Có tác dụng kiện Tỳ, hòa Vị, ích khí và điều lý trường vị.
Tỳ-6 Tam âm giao
Nằm ở mặt trong cẳng chân.
Có tác dụng kiện Tỳ, dưỡng huyết, điều Can Thận. Phụ nữ mang thai không nên tự bấm mạnh huyệt này.
Tỳ-10 Huyết hải
Nằm mặt trong đùi, phía trên gối.
Có tác dụng điều huyết, dưỡng huyết, thường phối hợp trong táo bón thể Huyết hư.
Đại trường-4 Hợp cốc
Nằm ở mu bàn tay.
Có tác dụng điều khí, thanh nhiệt, phối hợp trong nhiệt bí và khí bí.
Phụ nữ mang thai không nên tự kích thích mạnh.
Đại trường-11 Khúc trì
Nằm ở đầu ngoài nếp gấp khuỷu tay.
Có tác dụng thanh nhiệt và điều hòa kinh Đại trường, thường dùng trong táo bón thể nhiệt.
Đốc-14 Đại chùy
Nằm ở vùng gáy, dưới đốt sống cổ thứ bảy.
Có tác dụng thanh nhiệt và điều hòa dương khí. Không cần day mạnh trong táo bón thông thường.
Bàng quang-18 Can du
Nằm ở lưng, hai bên cột sống.
Có tác dụng sơ Can, điều khí, thường phối hợp trong khí bí.
Bàng quang-20 Tỳ du
Có tác dụng kiện Tỳ, ích khí, hỗ trợ vận hóa.
Bàng quang-21 Vị du
Điều hòa Vị khí, hỗ trợ tiêu hóa.
Bàng quang-23 Thận du
Bổ Thận, thường dùng trong táo bón Âm hư hoặc dương hư.
Bàng quang-25 Đại trường du
Điều lý Đại trường, hỗ trợ truyền tống và thông tiện.
Phế-6 Khổng tối
Nằm ở mặt trước cẳng tay, thuộc kinh Phế.
Theo kinh nghiệm Trung y, huyệt này thường được dùng trong bệnh trĩ và chảy máu hậu môn. Tuy nhiên, bấm huyệt không thay thế việc khám khi trĩ đau nhiều hoặc chảy máu kéo dài.
Đởm-26 Đới mạch
Nằm ở vùng eo, ngang rốn.
Có thể dùng để điều khí vùng bụng và hai bên sườn. Không nên ấn sâu khi đau bụng chưa rõ nguyên nhân.
Vị-34 Lương khâu
Nằm phía trước ngoài đùi, trên xương bánh chè.
Có tác dụng lý khí, chỉ thống trong một số chứng đau vùng dạ dày – ruột.
Không nên cho rằng bấm đau nhói tại huyệt chứng tỏ đã tìm đúng bệnh hoặc đúng huyệt.
CÁCH XOA BÓP TOÀN THÂN
Tư thế nằm ngửa
Người bệnh nằm ngửa, co nhẹ hai gối và kê gối dưới khoeo nếu cần. Tư thế này giúp cơ bụng thả lỏng hơn so với duỗi thẳng hai chân.
Người thực hiện đứng hoặc ngồi bên cạnh.
Làm ấm vùng bụng
Xoa hai bàn tay vào nhau cho ấm.
Có thể đặt tay lên bụng trong vài nhịp thở để người bệnh làm quen với sự tiếp xúc.
Có thể dùng khăn ấm trong thời gian ngắn nếu người bệnh thấy dễ chịu.
Không dùng túi chườm quá nóng và không chườm khi có sốt, viêm cấp, da mất cảm giác hoặc đau bụng chưa rõ nguyên nhân.
Xoa vùng thượng vị
Dùng lòng bàn tay xoa nhẹ vùng quanh Nhâm-12 Trung quản.
Thao tác theo vòng tròn nhỏ, chậm và đều, không ấn sâu vào vùng thượng vị.
Thời gian khoảng một đến hai phút.
Xoa quanh rốn
Dùng lòng bàn tay hoặc bốn đầu ngón tay xoa nhẹ quanh rốn theo vòng tròn thuận chiều kim đồng hồ.
Bắt đầu bằng vòng nhỏ, sau đó mở rộng dần.
Không cần day trực tiếp vào rốn.
Xoa theo đường đi của đại tràng
Đường đi cơ bản:
Bắt đầu từ bụng dưới bên phải.
Xoa lên vùng bụng trên bên phải.
Xoa ngang qua bụng trên sang bên trái.
Sau đó xoa xuống bụng dưới bên trái.
Đây là chiều đi tương đối của đại tràng lên, đại tràng ngang và đại tràng xuống.
Mỗi vòng thực hiện chậm rãi. Có thể lặp lại khoảng 10–20 vòng tùy khả năng chịu đựng.
Ấn huyệt Vị-25 Thiên khu
Đặt đầu ngón tay lên hai bên rốn.
Ấn nhẹ theo chiều vuông góc với thành bụng, giữ vài giây rồi thả.
Lặp lại từ 5–10 lần.
Không cần cố tạo cảm giác đau, tê hoặc căng mạnh.
Ấn vùng bụng dưới
Có thể day nhẹ Nhâm-6 Khí hải, Nhâm-4 Quan nguyên và Vị-27 Đại cự.
Lực phải nhẹ hơn vùng cơ ở tay chân vì bụng chứa nhiều cơ quan nội tạng.
Phụ nữ mang thai, người vừa phẫu thuật bụng, người có thoát vị hoặc phình động mạch chủ bụng không nên tự ấn sâu vùng này.
Tư thế nằm sấp
Người bệnh nằm sấp và kê gối mỏng dưới bụng hoặc cổ chân nếu cần.
Người thực hiện dùng lòng bàn tay, mô ngón cái hoặc đầu ngón tay day nhẹ hai bên cột sống.
Các vùng có thể tác động gồm:
Bàng quang-18 Can du.
Bàng quang-20 Tỳ du.
Bàng quang-21 Vị du.
Bàng quang-23 Thận du.
Bàng quang-25 Đại trường du.
Không ấn trực tiếp lên các mỏm gai cột sống.
Lăn hoặc xoa vùng thắt lưng – xương cùng
Có thể dùng lòng bàn tay hoặc mô bàn tay xoa dọc hai bên cơ cạnh cột sống vùng thắt lưng và xương cùng.
Lực vừa phải, không gây đau.
Người loãng xương, đau cột sống, từng gãy đốt sống hoặc đang dùng thuốc chống đông cần đặc biệt thận trọng.
TỰ XOA BỤNG TẠI NHÀ
Chuẩn bị
Nên thực hiện khi:
Không quá no.
Không quá đói.
Không có đau bụng cấp.
Không buồn nôn hoặc nôn.
Có thể nằm hoặc ngồi thoải mái.
Nên chờ ít nhất khoảng một giờ sau bữa ăn lớn.
Tư thế
Nằm ngửa, co gối và thả lỏng cơ bụng.
Có thể kê một chiếc gối dưới đầu gối.
Thở chậm
Hít vào bằng mũi để bụng hơi nâng lên.
Thở ra chậm, để bụng thả lỏng.
Không nín thở trong khi ấn.
Cách xoa
Đặt bàn tay ở bụng dưới bên phải.
Xoa nhẹ lên phía trên.
Di chuyển ngang sang vùng bụng trái.
Tiếp tục xoa xuống bụng dưới bên trái.
Có thể chồng hai tay nếu cần, nhưng không dùng trọng lượng toàn thân để ép vào bụng.
Thời gian
Có thể thực hiện khoảng 5–10 phút mỗi lần.
Mỗi ngày một lần hoặc vài lần trong tuần tùy sự dễ chịu.
Không cần kéo dài nếu bụng đau, buồn nôn hoặc khó chịu.
Thời điểm
Buổi sáng sau khi thức dậy hoặc sau bữa sáng thường là thời điểm thuận lợi.
Sau khi xoa, có thể uống một lượng nước phù hợp, đi bộ nhẹ và ngồi đại tiện trong tư thế đúng.
XOA BÓP THEO THỂ BỆNH
Thể nhiệt bí
Biểu hiện
Phân khô cứng.
Miệng khô.
Tiểu vàng.
Bụng đầy.
Lưỡi đỏ, rêu vàng khô.
Nguyên tắc
Thanh nhiệt, điều khí, thông phủ.
Huyệt tham khảo
Nhâm-12 Trung quản.
Vị-25 Thiên khu.
Đại trường-11 Khúc trì.
Đại trường-4 Hợp cốc.
Đốc-14 Đại chùy.
Cách thực hiện
Xoa bụng với nhịp đều và lực vừa.
Day Vị-25 Thiên khu, Đại trường-11 Khúc trì và Đại trường-4 Hợp cốc.
Không cần ấn mạnh Nhâm-4 Quan nguyên trong nhiệt bí.
Không chườm nóng khi người bệnh có biểu hiện thực nhiệt rõ.
Thể khí bí
Biểu hiện
Muốn đại tiện nhưng khó đi.
Phân không nhất thiết khô.
Bụng trướng.
Ngực sườn đầy.
Hay thở dài.
Triệu chứng tăng khi căng thẳng.
Nguyên tắc
Sơ Can, lý khí, điều hòa Đại trường.
Huyệt tham khảo
Can-13 Chương môn.
Can-14 Kỳ môn.
Nhâm-17 Đản trung.
Can-3 Thái xung.
Tam tiêu-6 Chi câu.
Vị-25 Thiên khu.
Cách thực hiện
Xoa nhẹ vùng bụng và hai bên mạn sườn.
Day Nhâm-17 Đản trung và Can-3 Thái xung.
Kết hợp thở chậm, kéo dài thì thở ra.
Không ấn sâu vùng Can-14 Kỳ môn hoặc dưới bờ sườn phải.
Thể khí hư
Biểu hiện
Phân không quá khô nhưng khó đẩy.
Rặn ra mồ hôi.
Hơi thở ngắn.
Sau đại tiện mệt.
Ăn kém.
Nguyên tắc
Kiện Tỳ, ích khí, hỗ trợ truyền tống.
Huyệt tham khảo
Vị-36 Túc tam lý.
Nhâm-6 Khí hải.
Bàng quang-20 Tỳ du.
Bàng quang-21 Vị du.
Vị-25 Thiên khu.
Cách thực hiện
Thao tác chậm, nhẹ và kéo dài hơn.
Có thể chườm ấm vừa phải nếu không có biểu hiện nhiệt.
Không dùng lực mạnh hoặc kéo dài đến khi người bệnh mệt.
Thể Huyết hư
Biểu hiện
Phân khô.
Sắc mặt nhợt.
Chóng mặt.
Hồi hộp.
Môi lưỡi nhạt.
Nguyên tắc
Dưỡng huyết, nhuận táo, kiện Tỳ.
Huyệt tham khảo
Tỳ-10 Huyết hải.
Tỳ-6 Tam âm giao.
Vị-36 Túc tam lý.
Bàng quang-17 Cách du.
Vị-25 Thiên khu.
Thao tác
Day nhẹ và đều.
Không bấm mạnh ở người thiếu máu, suy nhược hoặc dễ bầm tím.
Thể Hàn bí, dương hư
Biểu hiện
Phân khó đi.
Bụng lạnh, thích ấm.
Tay chân lạnh.
Lưng gối mỏi lạnh.
Tiểu trong.
Nguyên tắc
Ôn dương, điều khí, thông tiện.
Huyệt tham khảo
Nhâm-4 Quan nguyên.
Nhâm-6 Khí hải.
Bàng quang-23 Thận du.
Vị-36 Túc tam lý.
Tỳ-6 Tam âm giao.
Cách thực hiện
Xoa nhẹ vùng bụng dưới và lưng.
Có thể phối hợp khăn ấm hoặc chườm ấm vừa phải.
Không chườm quá nóng hoặc dùng cứu tại nhà nếu người bệnh giảm cảm giác da.
TÁO BÓN KÈM CHƯỚNG BỤNG
Nguyên nhân
Chướng bụng có thể do phân lưu lại, tích hơi, ăn uống không phù hợp hoặc nhu động ruột chậm.
Tuy nhiên, chướng bụng rõ kèm đau, nôn và bí trung tiện có thể là dấu hiệu tắc ruột. Trường hợp này không được xoa bóp.
Cách xoa nhẹ
Nếu chỉ đầy hơi nhẹ:
Làm ấm bàn tay.
Xoa vùng thượng vị và quanh rốn.
Xoa theo đường đi của đại tràng.
Kết hợp thở chậm và đi bộ nhẹ.
Có thể day Vị-36 Túc tam lý, Tỳ-6 Tam âm giao và Tam tiêu-6 Chi câu.
Không cần bấm đến mức tê tức mạnh.
Xoa dưới bờ sườn
Hai bàn tay đặt nhẹ ở vùng thượng vị.
Vuốt theo bờ sườn sang hai bên rồi trở lại giữa.
Có thể thực hiện thành những đường cong nhẹ, không cần ép sát vào bờ xương.
Không ấn sâu phía dưới bờ sườn phải hoặc trái vì vùng này có gan, lách và các cơ quan khác.
TÁO BÓN KÈM ĐAU BỤNG
Nguyên tắc an toàn
Không đúng khi cho rằng táo bón thông thường không gây đau bụng. Táo bón có thể gây đau quặn, đầy tức hoặc khó chịu.
Tuy nhiên, đau bụng có nhiều nguyên nhân. Không nên tự xác định là “co thắt đại tràng” rồi dùng bấm huyệt để trì hoãn khám.
Có thể xoa bóp nhẹ khi:
Đau nhẹ.
Đã từng được xác định liên quan đến táo bón chức năng.
Vẫn trung tiện được.
Không nôn.
Không sốt.
Bụng không cứng.
Không có máu nhiều trong phân.
Huyệt tham khảo
Đởm-26 Đới mạch.
Vị-34 Lương khâu.
Vị-36 Túc tam lý.
Tâm bào-6 Nội quan.
Vị-25 Thiên khu.
Cách thực hiện
Day nhẹ từng huyệt trong thời gian ngắn.
Không ấn đến mức đau nhói.
Kết hợp thở chậm và chườm ấm vừa phải nếu đau giảm khi gặp ấm.
Không chườm nóng khi đau kèm sốt, tiêu chảy máu hoặc viêm cấp.
Dấu hiệu cần ngừng ngay
Đau tăng.
Buồn nôn.
Vã mồ hôi.
Chóng mặt.
Bụng cứng.
Không trung tiện được.
TÁO BÓN KÈM THỪA CÂN HOẶC BÉO PHÌ
Thừa cân không phải nguyên nhân trực tiếp của mọi trường hợp táo bón. Một số người thừa cân bị táo bón do:
Ít vận động.
Ăn ít chất xơ.
Ăn nhiều thức ăn tinh chế.
Ngồi lâu.
Dùng thuốc.
Rối loạn chuyển hóa.
Xoa bóp chỉ có vai trò hỗ trợ thư giãn và đại tiện, không làm giảm mỡ đáng kể.
Huyệt tham khảo
Vị-25 Thiên khu.
Vị-27 Đại cự.
Vị-36 Túc tam lý.
Tỳ-6 Tam âm giao.
Tam tiêu-6 Chi câu.
Vận động phối hợp
Đi bộ.
Ngồi xuống – đứng lên với ghế chắc chắn.
Nâng gối luân phiên.
Co duỗi chân.
Tập cơ bụng nhẹ.
Động tác nằm sấp đá gót về phía mông có thể giúp vận động cơ đùi nhưng không phải cách kích thích ruột đặc hiệu.
Bấm “vùng phản xạ ruột” ở gan bàn chân không có vị trí chính xác tương ứng với cơ quan nội tạng. Có thể xoa chân để thư giãn nhưng không nên xem đây là phương pháp điều trị đặc hiệu cho táo bón.
TÁO BÓN KÈM TĂNG HUYẾT ÁP
Táo bón không phải nguyên nhân trực tiếp phổ biến gây tăng huyết áp. Tuy nhiên, rặn đại tiện có thể làm huyết áp và nhu cầu làm việc của tim tăng tạm thời.
Ở người tăng huyết áp, bệnh mạch vành hoặc tiền sử đột quỵ, cần làm mềm phân để tránh phải rặn quá sức.
Huyệt có thể day nhẹ
Thận-1 Dũng tuyền.
Vị-36 Túc tam lý.
Tỳ-6 Tam âm giao.
Tâm bào-6 Nội quan.
Không nên dùng búa cao su gõ mạnh lòng bàn chân trong nhiều phút. Cách này có thể gây bầm tím, đau, tổn thương mô hoặc không phù hợp với người tiểu đường, bệnh mạch máu ngoại vi và giảm cảm giác bàn chân.
Xoa bóp không thay thế thuốc hạ huyết áp.
Nếu đau đầu, đau ngực, khó thở, yếu liệt hoặc huyết áp tăng rất cao, cần được đánh giá y tế.
TÁO BÓN KÈM BỆNH TRĨ
Táo bón, phân cứng và rặn nhiều có thể làm trĩ nặng hơn. Trĩ đau hoặc chảy máu lại khiến người bệnh sợ đại tiện, tạo thành vòng tuần hoàn.
Mục tiêu chính là:
Làm mềm phân.
Không nhịn đại tiện.
Tránh rặn kéo dài.
Giảm thời gian ngồi bồn cầu.
Điều trị trĩ khi cần.
Xoa vùng xương cùng
Người bệnh nằm sấp.
Dùng lòng bàn tay hoặc mô ngón cái xoa nhẹ vùng hai bên xương cùng.
Không ấn trực tiếp mạnh lên xương cụt hoặc vùng đau.
Bấm Phế-6 Khổng tối
Có thể day nhẹ hai bên cẳng tay.
Mỗi lần day trong thời gian ngắn, lực vừa phải.
Không nên kỳ vọng bấm huyệt làm búi trĩ đang sa hoặc huyết khối co lại.
Khi cần đi khám
Trĩ chảy máu nhiều.
Đau dữ dội.
Búi trĩ sa không đẩy vào được.
Sốt.
Có khối sưng nóng quanh hậu môn.
Máu trộn lẫn trong phân.
Chảy máu kéo dài.
NGUYÊN TẮC DÙNG LỰC
Không dùng một mức lực cố định như 3–5 kg vì mỗi vùng cơ thể, mỗi người và mỗi bệnh trạng khác nhau.
Lực phù hợp là lực:
Tăng dần từ nhẹ.
Không gây đau sắc hoặc đau sâu.
Không làm người bệnh nín thở.
Không để lại bầm tím.
Không gây buồn nôn hoặc chóng mặt.
Người cao tuổi, trẻ em, phụ nữ mang thai, người đang dùng thuốc chống đông và người suy nhược cần dùng lực nhẹ hơn.
NHỊP THỞ
Khi ấn, có thể thở ra chậm.
Khi thả tay, hít vào tự nhiên.
Không cần cố phối hợp quá máy móc.
Quan trọng nhất là không nín thở hoặc gồng toàn thân.
TẦN SUẤT
Có thể xoa bụng nhẹ mỗi ngày nếu người bệnh cảm thấy dễ chịu.
Bấm huyệt có thể thực hiện một lần mỗi ngày hoặc vài lần mỗi tuần.
Không cần ấn mỗi huyệt đúng 10 lần. Có thể day nhẹ trong khoảng 20–30 giây rồi chuyển huyệt, căn cứ khả năng chịu đựng.
Nếu xoa bóp nhiều ngày không cải thiện, cần đánh giá lại nguyên nhân và phương pháp điều trị.
NHỮNG TRƯỜNG HỢP KHÔNG NÊN XOA BỤNG
Đau bụng dữ dội hoặc chưa rõ nguyên nhân.
Bụng cứng.
Bụng chướng tăng nhanh.
Nôn liên tục.
Bí trung tiện.
Sốt.
Tiêu chảy có máu.
Chảy máu tiêu hóa.
Nghi viêm ruột thừa.
Nghi tắc ruột.
Viêm tụy cấp.
Phình động mạch chủ bụng.
Vừa phẫu thuật ổ bụng.
Thoát vị nghẹt.
Chấn thương bụng.
Thai kỳ có đau bụng, ra máu hoặc cơn co.
Người đang điều trị ung thư vùng bụng nếu chưa được bác sĩ cho phép.
THẬN TRỌNG
Người loãng xương.
Người dùng thuốc chống đông.
Người dễ bầm tím.
Người có rối loạn đông máu.
Người bị bệnh gan, lách to.
Người có máy hoặc ống dẫn dưới da ở vùng bụng.
Người giảm cảm giác do đái tháo đường hoặc bệnh thần kinh.
Người cao tuổi suy yếu.
Trẻ nhỏ.
Phụ nữ mang thai.
Người có bệnh tim mạch không ổn định.
DẤU HIỆU CẦN ĐI KHÁM
Táo bón kéo dài dù đã thay đổi ăn uống và sinh hoạt.
Máu trong phân hoặc phân đen.
Sụt cân không rõ nguyên nhân.
Thiếu máu.
Đau bụng kéo dài.
Bụng chướng, nôn hoặc bí trung tiện.
Phân nhỏ bất thường kéo dài.
Phải dùng tay hỗ trợ đại tiện.
Táo bón xen kẽ tiêu chảy.
Táo bón mới xuất hiện ở người lớn tuổi.
Phụ thuộc thuốc nhuận tràng hoặc thụt tháo.
Đau ngực, khó thở hoặc chóng mặt khi rặn.
Nói tóm lại
Xoa bóp và bấm huyệt có thể hỗ trợ điều trị táo bón chức năng bằng cách giúp cơ thể thư giãn, điều hòa khí cơ và hỗ trợ hoạt động của Đại trường.
Phương pháp căn bản là xoa nhẹ bụng theo đường đi của đại tràng, từ bụng dưới bên phải đi lên, sang trái rồi đi xuống bụng dưới bên trái. Có thể phối hợp các huyệt Vị-25 Thiên khu, Nhâm-12 Trung quản, Nhâm-6 Khí hải, Vị-36 Túc tam lý, Tam tiêu-6 Chi câu và Bàng quang-25 Đại trường du.
Thể nhiệt bí thiên về điều khí và thanh nhiệt; khí bí chú trọng sơ Can, lý khí; khí hư và Huyết hư cần thủ pháp nhẹ, phối hợp kiện Tỳ, ích khí, dưỡng huyết; Hàn bí có thể xoa ấm nhẹ khi không có chống chỉ định.
Không cần ấn mạnh đến đau hoặc bắt buộc phải có cảm giác tê tức. Xoa bóp càng không được dùng để trì hoãn khám khi có đau bụng dữ dội, nôn, sốt, chướng bụng hoặc bí trung tiện.
Hiệu quả tốt hơn khi phối hợp ăn đủ chất xơ, uống đủ nước, vận động, không nhịn đại tiện và ngồi đúng tư thế. Nếu táo bón kéo dài hoặc có dấu hiệu cảnh báo, cần tìm nguyên nhân và điều trị thích hợp.
Trường Xuân biên soạn