Khái quát
Lưỡi địa đồ, còn gọi là viêm lưỡi di chuyển hoặc du tẩu tính thiệt viêm, là một tình trạng viêm lành tính ở bề mặt lưỡi. Đặc điểm chính là trên mặt lưỡi xuất hiện những mảng đỏ, nhẵn, mất gai lưỡi, xung quanh có bờ trắng hoặc vàng nhạt, hình dạng giống như đường nét trên bản đồ.
Các mảng tổn thương có thể thay đổi hình dạng, kích thước và vị trí trong vài ngày hoặc vài tuần, vì vậy được gọi là “du tẩu”, nghĩa là di chuyển.
Bệnh thường gặp ở trẻ em, nhưng cũng có thể xuất hiện ở người trưởng thành. Phần lớn trường hợp không gây nguy hiểm, không lây nhiễm, không phải ung thư và không cần điều trị đặc hiệu.
Theo Trung y, lưỡi địa đồ có thể được xem xét trong phạm vi các chứng thiệt viêm, thiệt chẩn dị thường, khẩu sang nhẹ hoặc tân dịch bất túc. Bệnh thường liên quan đến Vị âm bất túc, Âm hư hỏa vượng, Tâm Tỳ tích nhiệt, Vị hỏa thượng viêm, Tỳ Vị thấp nhiệt, Tỳ Vị hư nhược hoặc Can uất hóa hỏa.
Nguyên nhân và yếu tố liên quan
Nguyên nhân chính xác của lưỡi địa đồ hiện chưa được xác định đầy đủ. Một số yếu tố có thể liên quan gồm cơ địa di truyền, tinh thần căng thẳng, mất ngủ, lao lực, rối loạn tiêu hóa, cơ địa dị ứng, thiếu máu hoặc thiếu một số vi chất.
Một số người có tiền sử gia đình mắc lưỡi địa đồ. Bệnh cũng có thể xuất hiện đồng thời với lưỡi có rãnh, bệnh da dị ứng hoặc vảy nến, nhưng những mối liên quan này không có nghĩa là mọi trường hợp đều do cùng một nguyên nhân.
Thức ăn cay, chua, nóng, mặn, rượu, thuốc lá, nước súc miệng có cồn hoặc kem đánh răng gây kích ứng có thể làm cảm giác rát lưỡi rõ hơn.
Đặc điểm lâm sàng
Tổn thương thường xuất hiện ở mặt lưng, đầu và hai bên rìa lưỡi.
Trên mặt lưỡi có một hoặc nhiều mảng đỏ, nhẵn, hình tròn, bầu dục hoặc ngoằn ngoèo.
Các mảng đỏ là vùng gai dạng sợi bị mất tạm thời. Những gai dạng nấm có thể vẫn còn và nổi rõ trên nền đỏ.
Xung quanh tổn thương thường có một đường viền màu trắng, vàng nhạt hoặc xám nhạt, hơi nhô lên.
Các mảng có thể lan rộng, hợp lại hoặc thay đổi vị trí, tạo hình ảnh giống như bản đồ.
Vị giác và khả năng vận động của lưỡi phần lớn vẫn bình thường.
Đa số người bệnh không đau. Một số trường hợp có cảm giác tê nhẹ, nóng rát hoặc châm chích, nhất là khi ăn thức cay, chua, nóng hoặc mặn.
Bệnh có thể tự hết rồi tái phát nhiều lần trong nhiều tháng hoặc nhiều năm.
Một số trường hợp có tổn thương tương tự ở niêm mạc môi, má, lợi hoặc sàn miệng, thường được gọi là viêm miệng địa đồ.
Chẩn đoán
Chẩn đoán chủ yếu căn cứ vào hình ảnh lâm sàng và tính chất di chuyển của tổn thương.
Những đặc điểm gợi ý lưỡi địa đồ gồm các mảng đỏ nhẵn mất gai lưỡi, bờ trắng ngoằn ngoèo, thay đổi hình dạng và vị trí theo thời gian, không có khối cứng và không ảnh hưởng rõ đến vận động của lưỡi.
Phần lớn trường hợp không cần xét nghiệm hoặc sinh thiết.
Nếu tổn thương chỉ nằm cố định ở một vị trí, kéo dài không thay đổi, có loét sâu, cứng, sùi, chảy máu hoặc đau tăng dần, cần khám chuyên khoa để loại trừ bệnh lý khác.
Phân biệt với các bệnh khác
Tưa miệng
Tưa miệng do nấm Candida thường tạo thành những mảng trắng giống sữa đông, có thể lau hoặc cạo ra, để lại vùng niêm mạc đỏ và đau. Lưỡi địa đồ là những mảng đỏ nhẵn, có bờ trắng uốn lượn và thường thay đổi vị trí.
Loét miệng
Loét miệng thường là tổn thương lõm, đau rõ, có đáy trắng hoặc vàng và bờ đỏ. Lưỡi địa đồ không phải là vết loét sâu mà là vùng mất gai lưỡi trên bề mặt.
Bạch sản
Bạch sản thường là mảng trắng bám chắc, không dễ lau, không di chuyển và có thể liên quan đến kích thích mạn tính. Lưỡi địa đồ thường có vùng đỏ nhẵn và hình dạng thay đổi.
Viêm lưỡi teo
Viêm lưỡi teo thường làm toàn bộ hoặc phần lớn mặt lưỡi trở nên đỏ, nhẵn và bóng, có thể liên quan đến thiếu sắt, vitamin B12, folat hoặc bệnh toàn thân. Lưỡi địa đồ chỉ mất gai lưỡi từng mảng và có bờ tổn thương tương đối rõ.
Ung thư lưỡi
Ung thư lưỡi thường biểu hiện bằng vết loét hoặc khối sùi kéo dài không lành, tổn thương cứng, dễ chảy máu, đau tăng dần, vận động lưỡi hạn chế, có thể kèm hạch cổ, khó nuốt hoặc sụt cân. Lưỡi địa đồ lành tính, có tính di chuyển và không tạo khối cứng.
Nhận thức theo Trung y
Theo Trung y, lưỡi là nơi biểu hiện tình trạng của Tâm, Tỳ, Vị, khí huyết và tân dịch. Các vùng đỏ nhẵn, mất gai hoặc mất rêu từng mảng thường cho thấy mặt lưỡi không được tân dịch và Âm huyết nhu dưỡng đầy đủ.
Ở trẻ nhỏ, bệnh thường liên quan đến Tỳ Vị chưa kiện toàn, ăn uống không điều độ, tích nhiệt hoặc khí âm bất túc.
Ở người trưởng thành, bệnh có thể liên quan đến Vị âm bất túc, Âm hư hỏa vượng, Can uất hóa hỏa, Tỳ Vị thấp nhiệt hoặc bệnh lâu ngày làm hao thương tân dịch.
Việc biện chứng cần căn cứ vào toàn bộ triệu chứng, không nên chỉ dựa vào hình ảnh lưỡi địa đồ để kết luận một thể bệnh cố định.
Biện chứng luận trị
Vị âm bất túc
Biểu hiện
Trên lưỡi có những mảng đỏ nhẵn, bờ trắng nhạt, thay đổi vị trí; miệng khô, rát nhẹ, thích uống từng ngụm nhỏ, ăn thức cay chua thì khó chịu tăng, ăn kém, đại tiện hơi khô. Lưỡi đỏ, ít rêu; mạch Tế.
Bệnh cơ
Vị âm không đủ, tân dịch không thể đưa lên nhu dưỡng mặt lưỡi, làm gai lưỡi mất từng vùng và lưỡi trở nên đỏ nhẵn.
Phép trị
Dưỡng Vị sinh tân, nhuận táo hòa trung.
Phương thang
Ích vị thang gia giảm.
Có thể căn cứ biểu hiện mà sử dụng Sa sâm, Mạch môn, Sinh địa, Ngọc trúc, Thạch hộc và Thiên hoa phấn.
Âm hư hỏa vượng
Biểu hiện
Lưỡi địa đồ tái phát nhiều lần, vùng đỏ rát rõ; miệng họng khô, lòng bàn tay bàn chân nóng, mất ngủ, có thể ra mồ hôi đêm, lưng gối mỏi. Lưỡi đỏ, ít rêu; mạch Tế Sác.
Bệnh cơ
Âm dịch hao tổn, hư hỏa bốc lên miệng lưỡi, làm mặt lưỡi đỏ rát và gai lưỡi bong mất từng mảng.
Phép trị
Tư Âm giáng hỏa, sinh tân nhuận lưỡi.
Phương thang
Tri bá địa hoàng hoàn hợp Tăng dịch thang gia giảm.
Có thể phối hợp Thục địa, Sơn thù du, Sơn dược, Mẫu đơn bì, Tri mẫu, Hoàng bá, Huyền sâm, Mạch môn và Sinh địa.
Tâm Tỳ tích nhiệt
Biểu hiện
Lưỡi có những mảng đỏ nhẵn, bờ trắng hoặc vàng nhạt, đau rát; miệng hôi, ngủ không yên, tiểu tiện vàng, đại tiện táo. Trẻ nhỏ có thể quấy khóc, ăn uống thất thường. Lưỡi đỏ, rêu vàng mỏng hoặc bong từng mảng; mạch Sác.
Bệnh cơ
Tâm Tỳ tích nhiệt, hỏa nhiệt bốc lên miệng lưỡi, làm tổn thương tân dịch và khiến gai lưỡi bong tróc.
Phép trị
Thanh Tâm tả Tỳ, sinh tân giảm rát.
Phương thang
Đạo xích tán hợp Tả hoàng tán gia giảm.
Nếu miệng rát rõ, có thể gia Kim ngân hoa, Liên kiều, Mạch môn hoặc Huyền sâm.
Vị hỏa thượng viêm
Biểu hiện
Lưỡi đỏ rát, các mảng bản đồ rõ; miệng khô khát, thích uống mát, hơi thở hôi, lợi có thể sưng đau, đại tiện táo, tiểu tiện vàng. Lưỡi đỏ, rêu vàng hoặc bong rêu từng mảng; mạch Hồng Sác.
Bệnh cơ
Vị hỏa thịnh, theo kinh bốc lên miệng lưỡi, hun đốt tân dịch và làm mặt lưỡi mất sự nhu dưỡng.
Phép trị
Thanh Vị tả hỏa, sinh tân giảm rát.
Phương thang
Thanh vị tán gia giảm.
Có thể gia Thạch cao, Tri mẫu, Mạch môn, Huyền sâm hoặc Lô căn tùy biểu hiện.
Tỳ Vị thấp nhiệt
Biểu hiện
Lưỡi địa đồ kèm rêu nhầy, miệng nhớt, hơi thở hôi, bụng đầy, ăn kém, đại tiện dính hoặc không đều, tiểu tiện vàng. Lưỡi đỏ, rêu vàng nhầy xen lẫn những vùng bong đỏ; mạch Hoạt Sác.
Bệnh cơ
Tỳ mất kiện vận, thấp tụ ở trung tiêu, thấp lâu hóa nhiệt và bốc lên miệng lưỡi.
Phép trị
Thanh nhiệt hóa thấp, hòa Vị sinh tân.
Phương thang
Cam lộ tiêu độc đan gia giảm.
Nếu miệng nhớt, rêu nhầy rõ, có thể gia Hoắc hương, Bội lan và Trần bì; ăn kém có thể gia Kê nội kim và Sa nhân.
Tỳ Vị hư nhược
Biểu hiện
Bệnh kéo dài hoặc tái phát; người mệt, ăn kém, sắc mặt nhợt, bụng đầy, đại tiện lỏng hoặc phân nát, dễ ngoại cảm. Lưỡi nhạt, rêu trắng mỏng hoặc bong từng vùng; mạch Nhu Nhược.
Bệnh cơ
Tỳ Vị hư yếu, khí huyết và tân dịch sinh hóa không đầy đủ, mặt lưỡi mất sự nuôi dưỡng; thấp trọc lại dễ đình tụ, khiến bệnh kéo dài.
Phép trị
Kiện Tỳ ích khí, hòa Vị sinh tân, hóa thấp nhẹ.
Phương thang
Tham linh bạch truật tán gia giảm.
Có thể phối hợp Đảng sâm, Bạch truật, Phục linh, Sơn dược, Liên tử, Bạch biển đậu, Ý dĩ nhân, Sa nhân và Cam thảo.
Can uất hóa hỏa
Biểu hiện
Lưỡi địa đồ hoặc cảm giác rát lưỡi tăng khi căng thẳng, mất ngủ hoặc giận dữ; miệng đắng, ngực sườn đầy tức, hay thở dài, dễ cáu, ngủ không yên. Lưỡi đỏ, rêu mỏng hoặc bong từng mảng; mạch Huyền Sác.
Bệnh cơ
Can khí uất kết, uất lâu hóa hỏa; hỏa nhiệt bốc lên miệng lưỡi, đồng thời làm Vị khí bất hòa và tân dịch phân bố không đều.
Phép trị
Sơ Can giải uất, thanh nhiệt, dưỡng Âm sinh tân.
Phương thang
Đan chi tiêu dao tán gia giảm.
Nếu mất ngủ có thể gia Toan táo nhân và Dạ giao đằng; miệng khô rõ có thể gia Huyền sâm, Ngọc trúc hoặc Mạch môn.
Điều trị và chăm sóc
Không có triệu chứng thì không cần dùng thuốc. Phần lớn trường hợp chỉ cần theo dõi và giải thích để người bệnh yên tâm.
Khi lưỡi rát, nên tạm tránh thức ăn cay, chua, nóng, mặn, rượu, thuốc lá và những thực phẩm làm triệu chứng tăng.
Giữ vệ sinh răng miệng bằng bàn chải mềm và kem đánh răng dịu nhẹ.
Không cạo mạnh hoặc bóc phần bờ trắng quanh tổn thương.
Có thể súc miệng nhẹ bằng nước muối sinh lý. Không nên pha nước muối quá mặn vì có thể làm vùng lưỡi đỏ nhẵn đau rát hơn.
Hạn chế các loại nước súc miệng chứa nhiều cồn hoặc có tính sát khuẩn mạnh nếu gây khô và kích ứng.
Nếu có rát kéo dài, mệt mỏi, da xanh, tê bì, rụng tóc, móng giòn hoặc ăn kém, cần kiểm tra thiếu máu, sắt, vitamin B12, folat hoặc các vi chất khác theo chỉ định.
Không tự ý sử dụng thuốc kháng nấm khi chưa xác định có nhiễm nấm.
Không tự dùng corticosteroid, thuốc gây tê hoặc thuốc thanh nhiệt đắng lạnh kéo dài.
Điều dưỡng ăn uống
Nên ăn thức mềm, ấm vừa, thanh đạm và dễ tiêu.
Uống đủ nước nếu không có chống chỉ định.
Ngủ nghỉ đầy đủ, hạn chế thức khuya và lao lực.
Giảm căng thẳng tinh thần vì stress có thể làm cảm giác rát rõ hơn.
Người Vị âm bất túc có thể dùng cháo Sa sâm, Mạch môn hoặc Ngọc trúc với lượng vừa phải.
Người Tỳ Vị hư có thể dùng cháo Hoài sơn, Ý dĩ nhân hoặc Liên tử.
Người thấp nhiệt nên hạn chế thức ăn béo ngọt, chiên nướng và đồ uống có cồn.
Dược thiện chỉ có ý nghĩa hỗ trợ, không thay thế việc chẩn đoán và điều trị khi có bệnh toàn thân đi kèm.
Chú ý
Cần đi khám nếu tổn thương trên lưỡi có một trong những biểu hiện sau:
Tổn thương chỉ nằm cố định ở một vị trí và không thay đổi.
Vết loét kéo dài không lành.
Có khối cứng, sùi hoặc bờ gồ ghề.
Dễ chảy máu.
Đau tăng dần.
Lưỡi vận động hạn chế.
Nuốt đau, khó nuốt hoặc khàn tiếng.
Nổi hạch cổ.
Sụt cân không rõ nguyên nhân.
Không nên tự chẩn đoán mọi vùng đỏ hoặc trắng trên lưỡi là lưỡi địa đồ, đặc biệt ở người hút thuốc, uống rượu nhiều hoặc có tổn thương kéo dài.
Nói tóm lại
Lưỡi địa đồ là một tình trạng viêm lành tính của bề mặt lưỡi, biểu hiện bằng những vùng đỏ nhẵn mất gai lưỡi, có bờ trắng hoặc vàng nhạt và thường thay đổi hình dạng, vị trí. Bệnh không lây, không phải ung thư và đa số không cần điều trị đặc hiệu.
Theo Trung y, bệnh thường liên quan đến Vị âm bất túc, Âm hư hỏa vượng, Tâm Tỳ tích nhiệt, Vị hỏa, Tỳ Vị thấp nhiệt, Tỳ Vị hư nhược hoặc Can uất hóa hỏa. Việc điều trị cần căn cứ vào toàn bộ biểu hiện hư thực, hàn nhiệt và tình trạng tân dịch, không nên dùng một phương cố định cho mọi trường hợp.
Trọng điểm chăm sóc là giữ vệ sinh miệng nhẹ nhàng, tránh thức ăn gây kích thích, ngủ nghỉ đầy đủ, điều hòa tinh thần và theo dõi những dấu hiệu bất thường. Khi tổn thương không di chuyển, loét, cứng, chảy máu hoặc kéo dài không lành, cần khám chuyên khoa để loại trừ bệnh lý khác.
Trường Xuân biên soạn