LỞ MIỆNG TRONG TRUNG Y
Lở miệng là tình trạng niêm mạc miệng xuất hiện một hoặc nhiều vết loét nhỏ, thường có màu trắng, vàng nhạt hoặc xám trắng, xung quanh đỏ và đau rát. Vết loét có thể xuất hiện ở mặt trong môi, niêm mạc má, nướu, lưỡi, dưới lưỡi hoặc vòm miệng. Bệnh có thể gặp ở mọi lứa tuổi, thường tái phát, gây đau khi ăn uống, nói chuyện và đôi khi ảnh hưởng đến giấc ngủ.
Trong Trung y, lở miệng thường thuộc phạm vi các chứng Khẩu sang (口疮), Khẩu cam (口疳), Khẩu dương (口疡), Xích khẩu sang (赤口疮). Bệnh có liên quan mật thiết đến Tâm, Tỳ, Vị và Thận. Thực chứng thường do hỏa nhiệt nung nấu, bốc lên miệng lưỡi; hư chứng thường do âm dịch hao tổn, khí huyết suy yếu hoặc dương hư thấp trệ, khiến niêm mạc mất sự nuôi dưỡng và vết loét lâu lành.
Nguyên nhân và bệnh cơ
Ngoại tà xâm nhập
Phong, nhiệt, táo, hỏa hoặc độc tà từ bên ngoài có thể xâm nhập vào cơ thể, theo kinh mạch bốc lên miệng lưỡi, làm niêm mạc sưng đỏ và loét đau.
Tâm Tỳ tích nhiệt
Ăn nhiều thức ăn cay nóng, béo ngọt, nướng rán hoặc ăn uống không điều độ khiến Tỳ Vị tích nhiệt. Nhiệt uất lâu ngày hóa hỏa, theo kinh Tâm và kinh Tỳ bốc lên miệng, gây loét đỏ, đau rát, miệng hôi và đại tiện táo.
Tâm hỏa thượng viêm
Tâm khai khiếu ra lưỡi. Khi Tâm hỏa quá thịnh, hỏa nhiệt thường biểu hiện rõ ở đầu lưỡi, dưới lưỡi hoặc hai bên lưỡi, kèm bồn chồn, mất ngủ, miệng khô và tiểu tiện ngắn đỏ.
Âm hư hỏa vượng
Bệnh lâu ngày, cơ thể suy yếu, lao lực quá độ hoặc nhiệt bệnh làm hao tổn âm dịch. Âm không chế được dương, hư hỏa bốc lên miệng, khiến vết loét tái phát dai dẳng, đau không nhiều nhưng lâu lành.
Khí huyết lưỡng hư
Người thể chất suy nhược, bệnh lâu ngày hoặc sau khi mắc bệnh nặng có thể khí huyết đều hư. Niêm mạc miệng không được nuôi dưỡng đầy đủ nên dễ tổn thương, vết loét nhợt màu, chậm lành và thường xuyên tái phát.
Dương hư thấp trệ
Tỳ Thận dương hư làm vận hóa thủy thấp suy giảm. Thấp tà ngưng trệ ở trung tiêu, theo kinh bốc lên miệng, khiến vết loét tiết nhiều dịch, màu nhạt, đau không rõ, kèm ăn kém, bụng đầy, đại tiện lỏng và tứ chi lạnh.
BIỆN CHỨNG LUẬN TRỊ
Triệu chứng
Trong miệng xuất hiện nhiều vết loét rải rác hoặc các vết loét liền lại thành mảng. Trung tâm ổ loét lõm xuống, phủ giả mạc màu vàng trắng, xung quanh đỏ, sưng và đau rát rõ rệt. Đau tăng khi ăn uống hoặc nói chuyện. Có thể kèm miệng khô, khát nước, bứt rứt, hơi thở hôi, mặt đỏ, tiểu tiện vàng đỏ, đại tiện khô, đôi khi sốt nhẹ. Lưỡi đỏ, rêu vàng, mạch sác có lực.
Phép trị
Thanh tâm tả tỳ, thanh nhiệt giải độc, tiêu sưng giảm đau.
Phương thang
Đạo xích tán hợp Thanh vị thang gia giảm.
Thành phần tham khảo: Sinh địa hoàng, đan bì, hoàng liên, đạm trúc diệp, mộc thông, hoàng cầm, chi tử, bản lam căn, sinh thạch cao, thăng ma, đại hoàng, cam thảo sao.
Gia giảm
Vết loét đỏ, sưng và đau nhiều: gia kim ngân hoa, liên kiều, bồ công anh.
Miệng khát, bứt rứt rõ: gia tri mẫu, thiên hoa phấn.
Đại tiện táo: gia đại hoàng, mang tiêu.
Tiểu tiện ngắn đỏ: gia hoạt thạch, xa tiền tử.
Vết loét lâu liền: có thể gia nhân trung bạch, ngũ bội tử.
Triệu chứng
Vết loét thường xuất hiện ở đầu lưỡi, dưới lưỡi hoặc hai bên lưỡi. Niêm mạc quanh vết loét đỏ, nóng và đau. Người bệnh dễ bồn chồn, mất ngủ, miệng khô, khát nước, tiểu tiện ít và đỏ. Đầu lưỡi đỏ rực, rêu mỏng vàng, mạch tế sác hoặc sác.
Phép trị
Thanh tâm tả hỏa, lợi niệu dẫn nhiệt đi xuống.
Phương thang
Tả tâm đạo xích tán gia giảm.
Thành phần tham khảo: Hoàng liên, sinh địa hoàng, mộc thông, đạm trúc diệp, đăng tâm thảo, cam thảo sao.
Gia giảm
Mất ngủ, hồi hộp: gia liên tử tâm, toan táo nhân.
Tiểu tiện nóng rát: gia biển súc, cù mạch.
Miệng khô, lưỡi đỏ ít rêu: gia mạch môn đông, huyền sâm.
Triệu chứng
Lở miệng tái phát nhiều lần, chỗ cũ vừa lành thì chỗ mới lại xuất hiện. Vết loét thường ít, tương đối nông, xung quanh không đỏ nhiều, đau nhẹ nhưng lâu lành. Có thể kèm miệng khô nhưng không muốn uống nhiều, họng khô, nóng lòng bàn tay bàn chân, bốc hỏa về chiều, ra mồ hôi trộm, mất ngủ, nhiều mộng, đau mỏi lưng gối. Lưỡi đỏ, ít rêu hoặc không rêu, mạch tế sác.
Phép trị
Tư âm giáng hỏa, thanh nhiệt, liễm sang.
Phương thang
Lục vị địa hoàng thang gia giảm.
Thành phần tham khảo: Sinh địa hoàng hoặc thục địa hoàng, sơn thù nhục, hoài sơn dược, đan bì, phục linh, trạch tả, địa cốt bì, câu kỷ tử, thiên môn đông, hoàng bá, tri mẫu, đương quy, xích thược.
Gia giảm
Gò má đỏ, chân lạnh, hỏa phù ở trên: gia nhục quế lượng nhỏ để dẫn hỏa quy nguyên.
Ra mồ hôi trộm, mất ngủ: gia toan táo nhân, mẫu lệ, long cốt.
Nóng về chiều rõ: gia thanh hao, miết giáp, địa cốt bì.
Miệng họng khô nhiều: gia mạch môn đông, thạch hộc, huyền sâm.
Triệu chứng
Thường gặp ở người thể chất suy yếu, người mắc bệnh lâu ngày hoặc sau một đợt bệnh nặng. Vết loét tái phát dai dẳng, trung tâm lõm, phủ giả mạc màu trắng, niêm mạc xung quanh nhợt nhạt, ít đỏ, đau không nhiều nhưng khó lành. Người bệnh thường mệt mỏi, ít hơi, lười nói, sắc mặt nhợt, môi nhạt, hồi hộp, mất ngủ, tự ra mồ hôi. Lưỡi nhạt, rêu trắng mỏng, mạch trầm tế hoặc tế nhược.
Phép trị
Kiện Tỳ ích khí, dưỡng huyết sinh cơ.
Phương thang
Bát trân thang gia giảm.
Thành phần tham khảo: Đảng sâm, bạch truật, phục linh, chích cam thảo, đương quy, xuyên khung, bạch thược, thục địa hoàng.
Gia giảm
Ăn kém, đại tiện lỏng: gia hoài sơn dược, bạch biển đậu, liên tử.
Hồi hộp, mất ngủ: gia toan táo nhân, viễn chí, long nhãn nhục.
Vết loét lâu liền: gia hoàng kỳ, bạch cập, a giao.
Tái phát sau tiêu chảy kéo dài: có thể dùng Sâm linh bạch truật tán gia thăng ma, cát căn.
Triệu chứng
Vết loét tái phát lâu ngày, thường rải rác, trung tâm lõm, phủ giả mạc màu trắng, tiết nhiều dịch, niêm mạc xung quanh không đỏ rõ, cảm giác đau nhẹ. Người bệnh có thể kèm sắc mặt nhợt hoặc sạm, tứ chi lạnh, miệng nhạt, ăn uống kém, bụng đầy, đại tiện lỏng, mệt mỏi, sợ lạnh. Lưỡi nhạt, rêu trắng nhớt, mạch nhu, hoãn hoặc trầm trì.
Phép trị
Ôn dương kiện Tỳ, hóa thấp, sinh cơ liễm sang.
Phương thang
Phụ tử lý trung thang gia giảm.
Thành phần tham khảo: Chế phụ tử, đảng sâm, bạch truật, can khương, phục linh, liên tử, bạch biển đậu, chích cam thảo.
Gia giảm
Đại tiện lỏng kéo dài: gia nhục đậu khấu, bổ cốt chỉ.
Phù nhẹ, tiểu ít: gia trạch tả, xa tiền tử.
Vết loét nhiều dịch, lâu lành: gia bạch cập, ý dĩ nhân, hoàng kỳ.
Tứ chi lạnh rõ, đau bụng thích ấm: gia nhục quế.
PHƯƠNG PHÁP ĐIỀU TRỊ HỖ TRỢ
Thuốc dùng tại chỗ
Một số loại thuốc bột cổ truyền thường được dùng để rắc hoặc thổi nhẹ lên bề mặt vết loét, như Băng bằng tán, Thiếc loại tán, Thanh xuy khẩu tán hoặc Tây qua sương. Thuốc tại chỗ chủ yếu có tác dụng thanh nhiệt, giải độc, giảm đau và hỗ trợ làm liền niêm mạc.
Không nên tự ý dùng các loại bột thuốc không rõ thành phần, đặc biệt ở trẻ nhỏ, phụ nữ mang thai hoặc người có cơ địa dị ứng.
Súc miệng
Có thể dùng nước muối sinh lý hoặc nước súc miệng dịu nhẹ để giữ sạch khoang miệng. Với chứng thực nhiệt, một số trường hợp có thể dùng nước sắc kim ngân hoa, liên kiều, cúc hoa hoặc trà xanh loãng để súc miệng sau khi đã được người có chuyên môn hướng dẫn.
Đắp Ngô thù du tại huyệt Dũng tuyền
Đối với lở miệng thuộc hư hỏa thượng phù, một số phương pháp dân gian và ngoại trị Trung y dùng Ngô thù du sao khô, tán bột, trộn với giấm thành hồ, đắp vào huyệt Thận-1 Dũng tuyền ở lòng bàn chân trước khi ngủ. Mục đích là dẫn hỏa đi xuống, giúp hư hỏa quy nguyên.
Phương pháp này chỉ thích hợp với thể hư hỏa, không nên áp dụng máy móc cho mọi trường hợp lở miệng.
Châm cứu
Huyệt thường dùng gồm:
Nhâm-23 Liêm tuyền
Đại trường-4 Hợp cốc
Đại trường-11 Khúc trì
Tâm-5 Thông lý
Tâm-7 Thần môn
Tâm-9 Thiếu xung
Vị-36 Túc tam lý
Tùy từng thể bệnh có thể phối hợp thêm:
Tâm Tỳ tích nhiệt: Đại trường-4 Hợp cốc, Đại trường-11 Khúc trì, Tỳ-6 Tam âm giao, Vị-44 Nội đình.
Tâm hỏa thượng viêm: Tâm-8 Thiếu phủ, Tâm-9 Thiếu xung, Tâm bào-8 Lao cung.
Âm hư hỏa vượng: Thận-3 Thái khê, Thận-6 Chiếu hải, Tỳ-6 Tam âm giao.
Khí huyết hư: Vị-36 Túc tam lý, Nhâm-6 Khí hải, Nhâm-12 Trung quản, Bàng quang-20 Tỳ du.
Dương hư thấp trệ: Nhâm-4 Quan nguyên, Nhâm-6 Khí hải, Bàng quang-23 Thận du, Vị-36 Túc tam lý.
Châm cứu cần do người có chuyên môn thực hiện. Không nên tự châm, chích hoặc nặn máu tại ổ loét vì có thể gây chảy máu, nhiễm trùng và làm tổn thương niêm mạc nặng hơn.
PHÒNG NGỪA VÀ CHĂM SÓC
Giữ vệ sinh răng miệng
Đánh răng nhẹ nhàng bằng bàn chải mềm, súc miệng sau khi ăn và tránh dùng vật thô ráp lau niêm mạc miệng. Dụng cụ ăn uống cần được giữ sạch, nhất là trong gia đình có trẻ nhỏ.
Điều chỉnh ăn uống
Nên dùng thức ăn mềm, dễ tiêu, đủ dinh dưỡng; tăng rau xanh và trái cây phù hợp; uống đủ nước. Hạn chế thức ăn cay nóng, nướng rán, quá mặn, quá chua, quá cứng hoặc quá nóng vì có thể kích thích vết loét.
Tránh tổn thương niêm mạc
Cần kiểm tra răng sắc cạnh, răng giả, niềng răng hoặc thói quen cắn môi, cắn má. Những kích thích cơ học kéo dài có thể làm vết loét tái phát tại cùng một vị trí.
Giữ sinh hoạt điều độ
Ngủ đủ, hạn chế căng thẳng kéo dài và tránh làm việc quá sức. Ở người thường xuyên tái phát, sự suy nhược, mất ngủ và rối loạn tiêu hóa có thể là những yếu tố liên quan mật thiết.
Không tự ý dùng thuốc kéo dài
Không nên tự dùng corticosteroid, thuốc kháng sinh, thuốc ức chế miễn dịch hoặc các bài thuốc thanh nhiệt hàn lương trong thời gian dài. Dùng thuốc không đúng thể bệnh có thể làm tổn thương Tỳ Vị, khiến bệnh kéo dài hoặc chuyển từ thực chứng sang hư chứng.
KHI NÀO CẦN ĐI KHÁM
Phần lớn các vết loét miệng nhẹ có thể tự lành trong khoảng một đến hai tuần. Tuy nhiên, cần đi khám khi có một trong các biểu hiện sau:
Vết loét kéo dài quá hai tuần không lành.
Vết loét lớn, sâu, chảy máu hoặc ngày càng lan rộng.
Loét tái phát liên tục với số lượng nhiều.
Kèm sốt cao, nổi hạch, phát ban, đau mắt, loét bộ phận sinh dục hoặc đau khớp.
Người bệnh ăn uống khó khăn, sụt cân hoặc suy nhược rõ.
Vết loét xuất hiện cố định tại một vị trí, bờ cứng, nền sùi hoặc dễ chảy máu.
Trẻ nhỏ bỏ bú, bỏ ăn, sốt hoặc có dấu hiệu mất nước.
Những trường hợp này cần được kiểm tra để phân biệt với loét do chấn thương, nhiễm herpes, bệnh Behçet, bệnh đường ruột, bệnh tự miễn, thiếu vi chất hoặc tổn thương ác tính.
Nói tóm lại
Theo Trung y, lở miệng không chỉ là tổn thương tại niêm mạc mà còn phản ánh sự mất điều hòa của Tâm, Tỳ, Vị, Thận, khí huyết và âm dương. Thể thực nhiệt thường biểu hiện bằng vết loét đỏ, sưng, nóng và đau nhiều; thể hư thường tái phát dai dẳng, màu nhạt, ít đỏ và lâu lành. Điều trị cần căn cứ vào toàn bộ chứng trạng, sắc lưỡi, rêu lưỡi, mạch tượng và thể chất, không nên chỉ thấy loét miệng là dùng thuốc thanh nhiệt.
Trường Xuân biên soạn