Tham khảo liên quan:
Y học cổ truyền Trung Quốc phòng ngừa và điều trị lở miệng như thế nào?
Lở miệng là một bệnh lý thường gặp ở trẻ sơ sinh và trẻ nhỏ, chỉ tình trạng xuất hiện các vết loét nhỏ màu vàng nhạt hoặc trắng trên niêm mạc miệng, bao gồm môi trong, nướu răng, mép lưỡi, má, và vòm miệng. Các vết loét này có thể xuất hiện riêng lẻ hoặc nhiều vết cùng lúc, hình bầu dục, gây đau rát tại chỗ, thường tái phát. Trường hợp nặng có thể ảnh hưởng đến việc ăn uống và nuốt.
Nguyên nhân dẫn đến lở miệng có thể do:
Nhiệt trong thai nhi,
Trẻ nhỏ ăn nhiều thịt, ít rau củ, gây tích nhiệt trong tỳ vị, nhiệt uất hóa hỏa,
Tổn thương tân dịch sau bệnh nhiệt,
Hoặc do vệ sinh miệng không sạch sẽ hay miệng bị tổn thương.
Trong điều trị theo y học cổ truyền, bệnh lở miệng được chia thành ba chứng lớn: tích nhiệt tỳ vị, hỏa tâm thượng viêm, và hỏa hư thượng phù.
Phân loại và điều trị
I/Tích nhiệt tỳ vị:
Triệu chứng: Nhiều vết loét trong miệng, hoặc loét lan rộng, niêm mạc xung quanh đỏ rực, đau rát, từ chối ăn uống, cáu kỉnh khóc nhiều, nước dãi chảy nhiều ở khóe miệng, hơi thở hôi, tiểu ngắn vàng, phân khô, có thể kèm sốt, mặt đỏ. Lưỡi đỏ, rêu lưỡi vàng, mạch trơn nhanh.
Phương pháp điều trị: Thanh nhiệt giải độc, thông tràng, tả hỏa.
Thuốc: Sử dụng bài thuốc Lương cách tán gia giảm, bao gồm: Hoàng cầm, hoàng liên, sơn chi tử, đại hoàng, mang tiêu, đơn trúc diệp, bạc hà. Sắc uống mỗi ngày một thang, chia ba lần.
Điều chỉnh thuốc:
Nếu loét khó lành, thêm nhân trung bạch, ngũ bội tử.
Nếu khát nước, bứt rứt, thêm sinh thạch cao.
Nếu tiểu ngắn và đỏ, thêm sinh địa, mộc thông.
II/Tâm hỏa thượng viêm:
Triệu chứng: Vết loét hoặc tổn thương ở lưỡi, niêm mạc xung quanh đỏ đau, khó khăn khi ăn uống, bồn chồn, miệng khô, tiểu ngắn đỏ, đầu lưỡi đỏ rực, rêu lưỡi mỏng vàng, mạch nhỏ nhanh.
Phương pháp điều trị: Thanh tâm, xả nhiệt, thông tiểu.
Thuốc: Sử dụng bài thuốcTả tâm đạo xích tán gia giảm, bao gồm: Hhoàng liên, sinh địa, mộc thông, đăng tâm, cam thảo. Sắc uống mỗi ngày một thang, chia ba lần.
III/ Hư hoả thượng phù:
Triệu chứng: Loét miệng thưa thớt, lâu lành, tái phát nhiều lần, ít đau, cơ thể gầy yếu, nước miếng trong, hơi thở không hôi rõ rệt, mệt mỏi, hai gò má đỏ, miệng khô nhưng không khát, lưỡi đỏ, rêu ít, mạch nhỏ nhanh.
Phương pháp điều trị: Bổ thận âm, hạ hỏa, quy về gốc.
Thuốc: Sử dụng bài thuốc Lục Vị Địa Hoàng Hoàng gia giảm bao gồm: Sinh địa, thục địa, bắc sa sâm, sơn thù nhục, đơn bì, sơn dược, bạch thược, hoàng bá, cam thảo. Sắc uống mỗi ngày một thang, chia ba lần.
Điều chỉnh thuốc:
Nếu mặt đỏ, chân lạnh: Thêm nhục quế.
Nếu ra mồ hôi đêm, khó ngủ: Thêm toan táo nhân, long cốt (sắc trước).
Nếu nóng về chiều: Thêm địa cốt bì, tri mẫu.
Nếu tiêu chảy kéo dài, tái phát lở miệng, chủ yếu do tỳ khí yếu: Sử dụng Sâm Lĩnh Bạch Truật Tán, thêm thăng ma, cát căn.
Nếu cần thanh nhiệt, mát máu: Thêm thạch hộc, hạn liên thảo, sinh địa.
Phòng ngừa và chăm sóc
Vệ sinh thực phẩm:–Thực phẩm nên tươi mới, sạch sẽ, đầy đủ dinh dưỡng.-Ăn nhiều rau củ quả, hạn chế thực phẩm cay nóng, khô, chua, cay kích thích.
Vệ sinh răng miệng:–Súc miệng sau khi ăn để giữ vệ sinh răng miệng.
Không dùng vải thô để lau miệng.
Đối với trẻ mắc bệnh cấp tính hoặc suy nhược kéo dài, kiểm tra miệng thường xuyên để phát hiện tổn thương kịp thời và sử dụng thuốc bôi như dầu băng phiến hoặc dầu gan cá để hỗ trợ lành vết loét và giảm đau.
Dụng cụ ăn uống:
Dụng cụ ăn uống của gia đình cần được giữ sạch sẽ và tiệt trùng định kỳ.–Tóm tắt: Lở miệng tái phát-Lở miệng tái phát (hay còn gọi là loét áp-tơ tái phát) là bệnh lý phổ biến nhất trong các bệnh về niêm mạc miệng, thường xuất hiện ở những vùng niêm mạc ít sừng hóa như môi, má, mép lưỡi, và ít gặp ở nướu bám hoặc vòm miệng cứng. Bệnh thường xảy ra ở thanh thiếu niên và phụ nữ nhiều hơn nam giới. Lở miệng tái phát có tính chất tự giới hạn, thường tự khỏi sau khoảng 10 ngày. Nguyên nhân chưa rõ ràng nhưng liên quan đến nhiều yếu tố, như căng thẳng, suy giảm miễn dịch, hoặc rối loạn tiêu hóa.
Phân loại lâm sàng
Loét áp-tơ nhẹ:
Chiếm khoảng 80% trường hợp, các vết loét nhỏ (2-4mm), hình tròn hoặc bầu dục, đau tăng khi ăn uống, tự khỏi sau 7-14 ngày mà không để lại sẹo.
Loét áp-tơ nặng:
Các vết loét lớn (10-30mm), sâu đến lớp niêm mạc hoặc cơ, kéo dài từ vài tuần đến vài tháng, có thể để lại sẹo sau khi lành.
Loét áp-tơ dạng herpes:
Các vết loét nhỏ (1-2mm), xuất hiện với số lượng lớn (vài chục vết), thường gặp ở vùng lưỡi bụng và sàn miệng.
Chẩn đoán phân biệt
Lở miệng tái phát cần phân biệt với các bệnh lý khác như: bệnh Behçet, loét do chấn thương, lao, ung thư ác tính, Crohn, và viêm miệng do herpes. Mỗi bệnh có đặc điểm riêng về kích thước, thời gian kéo dài, triệu chứng toàn thân, và tiền sử tái phát.–Điều trị-Điều trị tại chỗ:–Sử dụng các loại thuốc bôi hoặc súc miệng chống viêm, giảm đau (như tetracycline, chlorhexidine, corticosteroid).
Dùng thuốc gây tê cục bộ để giảm đau trước khi ăn.
Điều trị toàn thân (với trường hợp nặng hoặc tái phát thường xuyên):–Corticosteroid (như prednisone, dexamethasone) để giảm viêm và đau.-Thuốc tăng cường miễn dịch (như thymosin, levamisole) hoặc ức chế miễn dịch (như cyclophosphamide, azathioprine) trong trường hợp cần thiết.
Lưu ý:
Bệnh nhân nên giữ vệ sinh miệng sạch sẽ, tránh các yếu tố kích thích như thực phẩm cay nóng hoặc va chạm cơ học vào niêm mạc. Điều trị nhằm giảm thời gian bệnh, giảm triệu chứng, và hạn chế tái phát.–Y học cổ truyền phân biệt chứng và điều trị lở miệng như thế nào?
Trong y học cổ truyền (YHCT), lở miệng tái phát còn gọi là khẩu sang, khẩu cam, khẩu dương, xích khẩu sang, nhiệt bệnh khẩu sang… Việc chẩn đoán và điều trị theo biện chứng luận trị có thể mang lại hiệu quả tốt. Theo quan điểm của YHCT, nguyên nhân gây lở miệng khá phức tạp:–Bên ngoài thường liên quan đến phong, hỏa, táo tà xung lên, hoặc do miệng không sạch, niêm mạc miệng bị tổn thương tạo điều kiện cho tà độc xâm nhập.
Bên trong có liên quan mật thiết đến chức năng tạng phủ (tâm, tỳ, thận…) bị rối loạn.
Thông thường, trong y học cổ truyền, lở miệng được biện chứng chia thành bốn thể: Tâm tỳ tích nhiệt, Âm hư hỏa vượng, Khí huyết lưỡng hư, Dương hư giáp thấp. Tùy theo chứng trạng, có thể gia giảm vị thuốc để điều trị.–1. Tâm tỳ tích nhiệt (Tâm tỳ cùng tích nhiệt)
Triệu chứng: Trên môi, má, mặt lưỡi, nướu… xuất hiện nhiều vết loét rải rác, kích thước cỡ hạt đậu nành hoặc đậu Hà Lan, hình tròn hoặc bầu dục, một số trường hợp vết loét có thể lan rộng hợp lại thành mảng. Trung tâm ổ loét lõm xuống, bên trên phủ giả mạc màu vàng trắng, xung quanh tấy đỏ, hơi cao lên, cảm giác nóng rát, đau tăng khi nói hoặc ăn. Có thể kèm các triệu chứng toàn thân như sốt, khát nước, bứt rứt, miệng hôi, tiểu đỏ. Lưỡi đỏ, rêu vàng, mạch sác (nhanh) có lực.
Phép trị: Thanh tâm, tả tỳ, tiêu sưng giảm đau.
Phương thuốc: Chọn bài Đạo Xích Tán hợp với Thanh Vị Thang gia giảm. Gồm:
Sinh địa hoàng 12g-Đan bì 12g-Hoàng liên 9g-Đạm trúc diệp 9g-Mộc thông 6g-Hoàng cầm 9g-Chi tử (sơn chi) 9g-Bản lam căn (bản lan căn) 15g-Sinh thạch cao (sắc trước) 24g-Thăng ma 9g-Đại hoàng (cho vào sau) 9g-Cam thảo sảo (phần ngọn) 9g-2. Âm hư hỏa vượng
Triệu chứng: Lở miệng tái phát nhiều lần, chỗ này vừa bớt chỗ khác lại nổi, kéo dài khó khỏi. Vết loét đơn lẻ hoặc 2-3 vết, trung tâm loét lõm nông dạng đĩa, bên trên phủ giả mạc xám trắng, vùng niêm mạc xung quanh nhạt màu hoặc không đỏ, đau không nhiều. Có thể kèm theo miệng khô, nhiều mộng mị, hồi hộp trống ngực, đau mỏi lưng gối… Lưỡi đỏ, ít rêu, mạch tế sác.
Phép trị: Tư âm thanh nhiệt, giáng hỏa, liễm sàng (liễm sang).
Phương thuốc: Chọn bài Lục Vị Địa Hoàng Thang gia giảm. Gồm:
Sinh địa hoàng 12g-Sơn thù nhục 15g-Hoài sơn (hoài sơn dược) 15g-Đan bì 12g-Phục linh 15g-Trạch tả 15g-Địa cốt bì 12g-Kỷ tử (câu kỷ tử) 15g-Thiên môn đông 12g-Hoàng cầm 9g-Hoàng bá 9g-Đương quy 12g-Xích thược 9g-
Triệu chứng: Thường gặp ở người thể chất suy yếu, hoặc sau khi mắc bệnh nặng, bệnh lâu ngày. Lở miệng tái phát dai dẳng, khó lành. Vết loét rải rác, trung tâm ổ loét lõm xuống, bên trên phủ giả mạc màu trắng, vùng niêm mạc xung quanh nhợt nhạt. Có thể kèm theo các biểu hiện như ít hơi lười nói, mệt mỏi tự ra mồ hôi, đánh trống ngực, mất ngủ, môi nhợt… Lưỡi nhạt, rêu mỏng trắng, mạch trầm tế (nhỏ, sâu).
Phép trị: Kiện tỳ ích thận, bổ dưỡng khí huyết.
Phương thuốc: Chọn bài Bát Trân Thang gia vị. Gồm:
Đảng sâm 15g Vân linh (phục linh) 12g-Bạch truật 12g-Bạch biển đậu 9g-Đương quy 12g-Xuyên khung 12g-Xích thược 9g-Thục địa hoàng 12g-Sơn thù nhục 15g-Nhục quế 12g-A giao (hòa tan) 11g
-4. Dương hư giáp thấp
Triệu chứng: Thường gặp ở người dương khí hư sẵn, hoặc do dùng quá nhiều thuốc hàn lương dẫn đến chẩn đoán và điều trị không đúng. Lở miệng tái phát lâu ngày, khó khỏi. Vết loét rải rác, trung tâm ổ loét lõm xuống, bên trên phủ giả mạc màu trắng, có nhiều dịch tiết, niêm mạc viền quanh không đỏ rõ. Có thể kèm da mặt tái sạm, tứ chi lạnh, miệng nhạt, đại tiện lỏng, kém ăn, vùng thượng vị đầy tức… Lưỡi nhạt, rêu trắng nhớt, mạch hoạt hoặc nhu.
Phép trị: Ôn dương kiện tỳ, trừ thấp, làm lành vết loét.
Phương thuốc: Chọn bài Phụ Tử Lý Trung Thang gia giảm. Gồm:
Phụ tử 9g-Đảng sâm 15g-Phục linh 12g-Bạch truật 12g-Liên tử 12g-Bạch biển đậu 9g-Cát cánh (kê huyết đằng) 12g-Chích cam thảo 6g
-Các phương pháp khác trong YHCT
Bên cạnh việc dùng thuốc uống theo biện chứng luận trị, y học cổ truyền còn áp dụng nhiều phương pháp điều trị tại chỗ và hỗ trợ:–Dùng thuốc bột thổi (thổi thuốc), thuốc bôi, nước súc miệng, thuốc đắp, châm cứu…
Thuốc bột để thổi: Băng phiến tán (băng hàn tán), Thiếc loại tán, Liễu hoa tán, Thanh xuy khẩu tán, Tây qua sương (bột dưa hấu)… thường được thổi trực tiếp vào ổ loét.
Thuốc bôi tại chỗ: Dầu lòng đỏ trứng gà, khỉ sương (trên vỏ hồng?), thường dùng cho chứng âm hư hỏa vượng.
Nước trà xanh đặc, các loại thuốc súc miệng: Dùng để thanh nhiệt giải độc, tiêu sưng làm liền loét, phù hợp với các chứng thực nhiệt.
Nếu vết loét lâu ngày không lành, có thể dùng ngô thù du (ngô thù du) sao khô, tán bột, trộn dấm cũ, dán vào huyệt Dũng Tuyền mỗi tối trước khi ngủ, nhằm dẫn hỏa quy nguyên, cho hỏa bốc lên được dẫn xuống dưới qua tính cay nóng của dược vật.–Châm cứu-Huyệt thường dùng: Liêm tuyền, Hợp cốc, Khúc trì, Thông lý, Thần môn, Thiếu xung, Túc tam lý… Mỗi lần chọn 2~-3 huyệt, kích thích vừa phải, lưu kim 5-10 phút, thay đổi huyệt luân phiên.
Huyệt chích thuốc: Chọn Khiên chính, Khúc trì, Giáp xa, Thủ tam lý… Mỗi lần lấy 2 huyệt, luân phiên nhau, tiêm vitamin B1 (0,5ml) hoặc đương quy dịch (1,0ml).
Phương pháp chích nặn máu: Dùng tam lăng châm hoặc hào châm, chích nặn máu ngay trên ổ loét, thường áp dụng với ổ loét sưng đỏ, khó lành.
Châm tai: Chọn các huyệt ở loa tai như Khẩu, Thiệt, Thần môn, Vị, Vỏ não dưới, Nội tiết, Thượng thận, Tỳ, Tâm… Mỗi lần có thể chọn một số huyệt, dán hạt vương bất lưu hành lên huyệt, mỗi ngày day ấn 3 lần, mỗi lần 10 phút, mỗi 3 lần lại đổi huyệt một lần, luân phiên hai tai.
Ly Trường Xuân dịch