Lời dẫn
Loét dạ dày và loét tá tràng đều thuộc bệnh loét tiêu hóa. Loét dạ dày là ổ loét hình thành trong niêm mạc dạ dày; loét tá tràng nằm ở đoạn đầu của ruột non, ngay sau môn vị. Hai bệnh có nhiều điểm tương đồng về nguyên nhân, biểu hiện và biến chứng, nên thường được gọi chung là loét dạ dày – tá tràng.
Ổ loét là một tổn thương thực thể ăn sâu qua lớp niêm mạc, khác với tình trạng viêm đỏ hoặc trợt nông thông thường. Nếu ổ loét ăn vào mạch máu có thể gây xuất huyết; nếu ăn xuyên thành dạ dày hoặc tá tràng có thể gây thủng; nếu hình thành sẹo ở vùng môn vị hoặc hành tá tràng có thể cản trở đường xuống của thức ăn.
Hai nguyên nhân quan trọng nhất của bệnh là nhiễm Helicobacter pylori và sử dụng thuốc giảm đau kháng viêm không steroid như aspirin, ibuprofen, naproxen hoặc diclofenac. Thuốc lá, rượu bia, bệnh nặng, stress cơ thể, dùng nhiều thuốc cùng lúc và một số bệnh nền có thể làm nguy cơ tăng thêm hoặc khiến ổ loét chậm lành.
Trong Trung y, bệnh thường thuộc phạm vi Vị quản thống (胃脘痛), Vị thống (胃痛), Thôn toan (吞酸), Tào tạp (嘈杂), Bĩ mãn (痞满), Ẩu thổ (呕吐), Thổ huyết (吐血) và Hắc tiện (黑便). Bệnh cơ căn bản là Vị khí mất hòa giáng, khí cơ trung tiêu uất trệ và Vị lạc bị tổn thương.
Chú ý
Nôn ra máu, chất nôn giống bã cà phê, đi ngoài phân đen dính và hôi, đau bụng đột ngột dữ dội, bụng cứng, choáng, ngất, vã mồ hôi lạnh hoặc da xanh tái là những dấu hiệu cần cấp cứu.
Không tự dùng thuốc hoạt huyết, thuốc cầm máu Trung y, thuốc giảm đau kháng viêm hoặc bài thuốc dân gian khi nghi xuất huyết hay thủng ổ loét.
Người đang dùng aspirin, thuốc chống đông hoặc thuốc chống kết tập tiểu cầu vì bệnh tim mạch không được tự ý ngừng thuốc. Cần trao đổi với bác sĩ để cân bằng nguy cơ tim mạch và nguy cơ chảy máu tiêu hóa.
Đông y có thể hỗ trợ điều hòa Tỳ Vị, giảm đau, hòa Vị, dưỡng âm, ôn trung và phục hồi thể trạng, nhưng không thay thế nội soi, thuốc giảm acid, phác đồ diệt H. pylori, nội soi cầm máu hoặc phẫu thuật khi có biến chứng.
LOÉT DẠ DÀY – TÁ TRÀNG LÀ GÌ?
Dạ dày và tá tràng thường xuyên tiếp xúc với acid, pepsin, dịch mật và thức ăn. Bình thường, niêm mạc được bảo vệ bởi lớp nhầy, bicarbonat, tuần hoàn tại chỗ và khả năng phục hồi của tế bào.
Khi các yếu tố bảo vệ suy yếu hoặc yếu tố gây tổn thương tăng lên, acid và men tiêu hóa có thể ăn sâu vào thành dạ dày hoặc tá tràng, tạo thành ổ loét.
Ổ loét có thể:
Nông hoặc sâu.
Nhỏ hoặc lớn.
Chỉ có một ổ hoặc nhiều ổ.
Đang hoạt động, đang lành hoặc đã tạo sẹo.
Không chảy máu hoặc đang xuất huyết.
Loét dạ dày và loét tá tràng không thể được phân biệt chắc chắn chỉ qua triệu chứng. Nội soi vẫn là phương pháp quan trọng để xác định vị trí, hình thái và mức độ tổn thương.
SO SÁNH LOÉT DẠ DÀY VÀ LOÉT TÁ TRÀNG
Loét dạ dày
Ổ loét nằm trong dạ dày.
Đau có thể xuất hiện hoặc tăng sau ăn.
Người bệnh dễ đầy bụng, nhanh no, buồn nôn và sợ ăn.
Có thể giảm cân nếu đau kéo dài.
Một số trường hợp cần lấy sinh thiết để loại trừ tổn thương ác tính.
Loét tá tràng
Ổ loét thường nằm ở hành tá tràng.
Đau thường xuất hiện khi đói hoặc vào ban đêm.
Ăn vào hoặc dùng thuốc giảm acid có thể giúp giảm đau tạm thời.
Bệnh thường có tính chu kỳ và dễ tái phát nếu H. pylori chưa được loại trừ.
Điểm chung
Cả hai đều có thể gây:
Đau thượng vị.
Nóng rát hoặc cồn cào.
Ợ chua, ợ hơi.
Buồn nôn.
Xuất huyết.
Thủng.
Hẹp đường ra của dạ dày.
Thiếu máu.
NGUYÊN NHÂN VÀ YẾU TỐ NGUY CƠ
Nhiễm Helicobacter pylori
H. pylori sống trong lớp nhầy của dạ dày, gây viêm kéo dài và làm suy yếu hàng rào bảo vệ niêm mạc. Nếu không được điều trị, vi khuẩn có thể làm ổ loét tái phát sau khi thuốc giảm acid đã ngừng.
Thuốc giảm đau kháng viêm
Aspirin, ibuprofen, naproxen và diclofenac làm giảm prostaglandin có tác dụng bảo vệ niêm mạc. Nguy cơ cao hơn khi:
Dùng liều cao hoặc kéo dài.
Người bệnh lớn tuổi.
Có tiền sử loét hoặc xuất huyết.
Dùng đồng thời corticoid.
Dùng thuốc chống đông hoặc chống kết tập tiểu cầu.
Uống nhiều rượu.
Aspirin liều thấp vẫn có thể làm tăng nguy cơ chảy máu, nhưng nếu đang dùng để phòng bệnh tim mạch thì không được tự ngừng.
Thuốc lá
Hút thuốc làm ổ loét lâu lành và tăng nguy cơ tái phát.
Rượu bia
Rượu có thể kích thích niêm mạc, làm đau tăng, cản trở quá trình lành và làm nguy cơ xuất huyết cao hơn.
Stress cơ thể nặng
Bỏng rộng, chấn thương nặng, phẫu thuật lớn, nhiễm trùng huyết hoặc bệnh nặng phải điều trị hồi sức có thể dẫn đến tổn thương niêm mạc do stress.
Ăn uống không điều độ
Thức ăn cay, chua, cà phê, ăn quá no hoặc bỏ bữa không phải là nguyên nhân duy nhất tạo ổ loét, nhưng có thể làm triệu chứng nặng hơn ở người đã mắc bệnh.
Bệnh nền và thuốc phối hợp
Bệnh gan, thận, tim mạch, rối loạn đông máu hoặc dùng nhiều thuốc cùng lúc có thể làm nguy cơ xuất huyết và biến chứng tăng lên.
TRIỆU CHỨNG THƯỜNG GẶP
Đau hoặc nóng rát thượng vị
Đau ở vùng trên rốn, dưới mũi ức. Cảm giác đau có thể là:
Đau âm ỉ.
Nóng rát.
Cồn cào như đói.
Đau tức.
Đau sau ăn.
Đau vào ban đêm.
Đầy bụng và nhanh no
Người bệnh ăn ít đã thấy đầy, thức ăn chậm tiêu hoặc khó chịu sau bữa ăn.
Ợ chua và ợ hơi
Có thể kèm vị chua trong miệng, nóng rát sau xương ức hoặc cảm giác khí nghịch lên.
Buồn nôn và nôn
Nôn ra máu hoặc chất màu nâu đen là dấu hiệu nguy hiểm.
Chán ăn và sụt cân
Sụt cân không rõ nguyên nhân, nhất là ở người lớn tuổi, cần được kiểm tra sớm.
Thiếu máu
Chảy máu rỉ rả từ ổ loét có thể gây:
Mệt mỏi.
Da xanh.
Chóng mặt.
Hồi hộp.
Hơi thở ngắn khi gắng sức.
Không có triệu chứng rõ
Một số người, đặc biệt người cao tuổi hoặc người dùng NSAID, có thể chỉ phát hiện ổ loét khi đã xuất huyết hoặc thiếu máu.
BIẾN CHỨNG
Chảy máu tiêu hóa
Ổ loét ăn vào mạch máu có thể gây xuất huyết âm thầm hoặc chảy máu ồ ạt.
Biểu hiện gồm:
Nôn máu đỏ tươi.
Nôn chất giống bã cà phê.
Đi ngoài phân đen.
Mệt, chóng mặt, ngất.
Tim đập nhanh.
Huyết áp giảm.
Thủng dạ dày hoặc tá tràng
Khi ổ loét xuyên qua toàn bộ thành ống tiêu hóa, dịch dạ dày hoặc tá tràng tràn vào ổ bụng, gây viêm phúc mạc.
Biểu hiện thường là:
Đau bụng đột ngột dữ dội.
Bụng cứng.
Không dám cử động.
Vã mồ hôi lạnh.
Buồn nôn hoặc nôn.
Choáng.
Đây là cấp cứu ngoại khoa. Không được ăn uống, chườm nóng hoặc tự uống thuốc giảm đau để chờ theo dõi tại nhà.
Hẹp môn vị hoặc tá tràng
Loét tái phát gần môn vị hoặc hành tá tràng có thể để lại sẹo hẹp, làm thức ăn không đi xuống được.
Biểu hiện gồm:
Đầy bụng nhiều sau ăn.
Nôn thức ăn đã ăn từ nhiều giờ trước.
Nôn xong thấy nhẹ bụng.
Sụt cân.
Mất nước.
Rối loạn điện giải.
Tái phát
Ổ loét dễ tái phát khi:
H. pylori chưa được diệt.
Tiếp tục dùng NSAID.
Hút thuốc.
Uống rượu.
Dùng thuốc không đủ thời gian.
Nguy cơ ác tính
Loét tá tràng rất hiếm khi liên quan đến ung thư, nhưng loét dạ dày có thể cần sinh thiết để loại trừ tổn thương ác tính, nhất là khi ổ loét lớn, bờ không đều hoặc người bệnh có thiếu máu, sụt cân và ăn kém kéo dài.
CHẨN ĐOÁN
Nội soi dạ dày – tá tràng
Nội soi giúp:
Xác định vị trí ổ loét.
Đánh giá kích thước và độ sâu.
Phát hiện dấu hiệu đang chảy máu.
Lấy mẫu xét nghiệm H. pylori.
Lấy sinh thiết khi cần.
Thực hiện cầm máu nội soi.
Xét nghiệm H. pylori
Có thể dùng:
Test hơi thở.
Xét nghiệm kháng nguyên trong phân.
Xét nghiệm từ mẫu sinh thiết khi nội soi.
Sau điều trị, người bệnh thường cần kiểm tra lại để xác nhận đã loại trừ được vi khuẩn.
Xét nghiệm máu
Dùng để đánh giá:
Thiếu máu.
Mức độ mất máu.
Chức năng gan thận.
Điện giải.
Khả năng đông máu.
Xét nghiệm phân
Có thể tìm máu ẩn khi nghi ổ loét chảy máu rỉ rả.
Đánh giá thuốc đang dùng
Cần thông báo đầy đủ việc sử dụng:
Aspirin.
Ibuprofen.
Naproxen.
Diclofenac.
Corticoid.
Thuốc chống đông.
Thuốc chống kết tập tiểu cầu.
Thuốc điều trị loãng xương.
ĐIỀU TRỊ THEO Y HỌC HIỆN ĐẠI
Thuốc giảm tiết acid
Thuốc ức chế bơm proton thường được sử dụng để giảm acid và tạo điều kiện cho ổ loét lành.
Diệt H. pylori
Khi xét nghiệm dương tính, cần sử dụng phác đồ phối hợp thuốc giảm acid và kháng sinh. Người bệnh phải uống đủ liều, đủ thời gian và không tự bỏ thuốc khi thấy bớt đau.
Sau điều trị, cần kiểm tra lại theo hướng dẫn để xác nhận H. pylori đã được loại trừ.
Điều chỉnh NSAID
Nếu ổ loét liên quan đến thuốc giảm đau kháng viêm, bác sĩ có thể cân nhắc:
Ngừng thuốc.
Giảm liều.
Đổi sang thuốc khác.
Bổ sung thuốc bảo vệ dạ dày.
Không tự ngừng aspirin đang dùng vì bệnh tim mạch.
Điều trị xuất huyết
Có thể bao gồm:
Nhập viện.
Truyền dịch.
Truyền máu khi cần.
Thuốc giảm tiết acid đường tĩnh mạch.
Nội soi cầm máu.
Can thiệp mạch hoặc phẫu thuật trong một số trường hợp.
Điều trị thủng
Thủng loét thường cần phẫu thuật hoặc xử trí ngoại khoa khẩn cấp. Không nên chờ nhiều giờ tại nhà để theo dõi.
Điều trị hẹp
Có thể cần thuốc, nội soi nong chỗ hẹp hoặc phẫu thuật tùy nguyên nhân và mức độ.
TRUNG Y NHẬN THỨC BỆNH NHƯ THẾ NÀO?
Trung y không phân chia dạ dày và tá tràng theo cách gọi giải phẫu hiện đại. Việc nhận định căn cứ vào tính chất đau, quan hệ với ăn uống, biểu hiện nóng lạnh, đầy tức, ợ chua, buồn nôn, đại tiện, lưỡi và mạch.
Vị chủ thu nạp và lấy hòa giáng làm thuận. Khi Vị khí không giáng thì sinh ợ hơi, ợ chua, buồn nôn và nôn.
Tỳ chủ vận hóa. Tỳ khí suy yếu làm thức ăn khó tiêu, khí huyết sinh hóa không đủ, Vị lạc thiếu sự nuôi dưỡng và ổ loét khó hồi phục.
Can chủ sơ tiết. Can khí uất kết có thể hoành nghịch phạm Vị, khiến đau và đầy tăng khi cảm xúc thay đổi.
Bệnh mới phát thường thiên về khí trệ, hàn, nhiệt, thấp hoặc thực tích. Bệnh kéo dài có thể chuyển thành Tỳ Vị hư hàn, Vị âm bất túc, huyết ứ trở lạc hoặc khí huyết lưỡng hư.
Loét tá tràng có biểu hiện đói đau, đêm đau, ăn vào giảm thường gặp ở thể Tỳ Vị hư hàn, nhưng không thể chỉ căn cứ vào đặc điểm này để quyết định phương thuốc.
BIỆN CHỨNG LUẬN TRỊ
Chứng trạng
Đau tức vùng thượng vị, đau lan sang hai bên sườn, bụng đầy, ợ hơi, ợ chua, buồn nôn. Đau tăng khi lo âu, tức giận hoặc căng thẳng; thường hay thở dài. Rêu lưỡi mỏng, mạch huyền.
Bệnh cơ
Can khí uất kết, hoành nghịch phạm Vị, làm khí cơ trung tiêu không thông và Vị khí mất hòa giáng.
Phép trị
Sơ Can lý khí, hòa Vị chỉ thống.
Phương thang
Sài hồ sơ can tán hợp Kim linh tử tán gia giảm.
Phương thang: Sài hồ, hương phụ, chỉ xác, bạch thược, xuyên khung, trần bì, cam thảo, xuyên luyện tử, diên hồ sách.
Gia giảm
Ợ chua nhiều: gia ô tặc cốt, ngõa lăng tử.
Buồn nôn: gia bán hạ, trúc nhự.
Mất ngủ, lo âu: gia toan táo nhân, hợp hoan bì.
Ý nghĩa phương
Sài hồ, hương phụ, chỉ xác và trần bì sơ Can lý khí. Bạch thược hòa Can, hoãn cấp chỉ thống. Xuyên khung, xuyên luyện tử và diên hồ sách giúp hành khí, thông lạc và giảm đau.
Chứng trạng
Đau nóng rát vùng thượng vị, đau lan sang mạn sườn, ợ chua, miệng đắng, miệng khô, dễ cáu, đại tiện táo, tiểu tiện vàng. Lưỡi đỏ, rêu vàng, mạch huyền sác.
Bệnh cơ
Can khí uất lâu hóa nhiệt, nhiệt phạm Vị, làm Vị khí nghịch và Vị lạc bị kích thích.
Phép trị
Sơ Can thanh nhiệt, hòa Vị giáng nghịch.
Phương thang
Hóa can tiễn hợp Tả kim hoàn gia giảm.
Phương thang: Thanh bì, trần bì, bạch thược, mẫu đơn bì, chi tử, trạch tả, chiết bối mẫu, hoàng liên, ngô thù du lượng rất nhỏ, cam thảo.
Gia giảm
Ợ chua nhiều: gia ô tặc cốt, ngõa lăng tử.
Đau nhiều: gia diên hồ sách, xuyên luyện tử.
Đại tiện táo: cân nhắc gia đại hoàng lượng nhỏ.
Chứng trạng
Đau âm ỉ vùng thượng vị, đau kéo dài, thích ấm, thích xoa; đói đau hoặc đau về đêm, ăn thức ăn ấm thì dễ chịu. Người bệnh ăn kém, đầy bụng, nôn nước trong, đại tiện lỏng, mệt và tay chân lạnh. Lưỡi nhạt, rêu trắng, mạch trầm trì hoặc hư nhược.
Bệnh cơ
Tỳ Vị dương khí suy, trung tiêu không được ôn dưỡng, khí huyết không đủ nuôi dưỡng Vị lạc.
Phép trị
Ôn trung kiện Tỳ, hòa Vị chỉ thống.
Phương thang
Hoàng kỳ kiến trung thang gia giảm.
Phương thang: Hoàng kỳ, quế chi, bạch thược, sinh khương, đại táo, chích cam thảo, di đường, đảng sâm, bạch truật.
Gia giảm
Đau lạnh nhiều: gia cao lương khương, hương phụ.
Nôn nhiều: gia bán hạ, trần bì, sa nhân.
Đại tiện lỏng: gia phục linh, hoài sơn dược.
Ổ loét lâu lành nhưng không có dấu chảy máu: có thể cân nhắc gia bạch cập, ô tặc cốt dưới sự theo dõi của thầy thuốc.
Chứng trạng
Đau thượng vị đột ngột sau ăn lạnh, uống lạnh hoặc nhiễm lạnh; đau co thắt, gặp ấm giảm, gặp lạnh tăng; buồn nôn, nôn nước trong, miệng nhạt và không khát. Rêu lưỡi trắng, mạch khẩn.
Bệnh cơ
Hàn tà xâm phạm Vị quản, làm khí cơ co rút và Vị khí nghịch lên.
Phép trị
Ôn Vị tán hàn, lý khí chỉ thống.
Phương thang
Lương phụ hoàn gia giảm.
Phương thang: Cao lương khương, hương phụ, sinh khương, trần bì, bán hạ, cam thảo.
Gia giảm
Đau nhiều: gia diên hồ sách, mộc hương.
Nôn nhiều: gia sa nhân.
Tỳ khí hư kèm theo: gia đảng sâm, bạch truật.
Chứng trạng
Đau âm ỉ hoặc nóng nhẹ vùng thượng vị, đói nhưng ăn không nhiều, miệng họng khô, đại tiện hơi táo. Lưỡi đỏ, ít rêu hoặc có vết nứt, mạch tế sác.
Bệnh cơ
Vị âm hao tổn, tân dịch không đủ để nhu dưỡng niêm mạc, Vị mất nhu nhuận và hòa giáng.
Phép trị
Dưỡng âm ích Vị, sinh tân chỉ thống.
Phương thang
Ích vị thang hợp Sa sâm mạch đông thang gia giảm.
Phương thang: Bắc sa sâm, mạch môn đông, sinh địa hoàng, ngọc trúc, thạch hộc, thiên hoa phấn, bạch thược, cam thảo.
Gia giảm
Đau âm ỉ: gia phật thủ, diên hồ sách.
Ợ chua: gia ô tặc cốt, ngõa lăng tử.
Đại tiện khô: gia hỏa ma nhân, huyền sâm.
Chứng trạng
Thượng vị đầy tức hoặc nóng rát, miệng đắng, miệng nhớt, buồn nôn, ăn kém, cơ thể nặng nề, đại tiện dính hoặc không thoải mái, tiểu tiện vàng. Lưỡi đỏ, rêu vàng nhớt, mạch hoạt sác.
Bệnh cơ
Thấp nhiệt uẩn kết ở trung tiêu, làm Tỳ mất vận hóa và Vị mất hòa giáng.
Phép trị
Thanh nhiệt hóa thấp, hòa trung giáng nghịch.
Phương thang
Liên phác ẩm gia giảm.
Phương thang: Hoàng liên, hậu phác, thạch xương bồ, bán hạ, bạch đậu khấu, chi tử, lô căn, hoắc hương, trần bì, phục linh.
Gia giảm
Buồn nôn: gia trúc nhự.
Miệng đắng rõ: gia hoàng cầm, nhân trần.
Đầy bụng nhiều: gia chỉ thực, mộc hương.
Chứng trạng
Đau đầy vùng thượng vị sau khi ăn quá no hoặc dùng nhiều thức ăn khó tiêu; ợ hơi có mùi thức ăn, ợ chua, buồn nôn. Nôn hoặc đại tiện xong thì bụng nhẹ hơn. Rêu lưỡi dày nhớt, mạch hoạt.
Bệnh cơ
Thức ăn đình trệ trong Vị, làm khí cơ bế tắc và Vị khí không giáng.
Phép trị
Tiêu thực đạo trệ, hòa Vị giáng nghịch.
Phương thang
Bảo hòa hoàn gia giảm.
Phương thang: Sơn tra, thần khúc, bán hạ, phục linh, trần bì, liên kiều, lai phục tử, mạch nha, kê nội kim.
Gia giảm
Đầy trướng nhiều: gia chỉ thực, hậu phác.
Nôn nhiều: gia sinh khương, trúc nhự.
Ợ chua nhiều: gia ô tặc cốt, ngõa lăng tử.
Chứng trạng
Đau thượng vị cố định, đau như kim châm, đau tăng về đêm hoặc khi ấn; bệnh kéo dài, sắc mặt tối, lưỡi tím hoặc có điểm ứ, mạch sáp.
Bệnh cơ
Bệnh lâu ngày nhập lạc, khí trệ dẫn đến huyết ứ, Vị lạc bất thông.
Phép trị
Hoạt huyết hóa ứ, lý khí chỉ thống.
Phương thang
Đan sâm ẩm hợp Thất tiếu tán gia giảm.
Phương thang: Đan sâm, đàn hương, sa nhân, bồ hoàng, ngũ linh chi, diên hồ sách, uất kim, bạch thược, cam thảo.
Gia giảm
Đau nhiều: gia mộc hương, xuyên luyện tử.
Khí hư: gia hoàng kỳ, đảng sâm.
Chú ý
Không dùng phép hoạt huyết khi đang nôn máu, đi ngoài phân đen, thiếu máu tiến triển hoặc đang sử dụng thuốc chống đông.
Chứng trạng
Có tiền sử chảy máu rỉ rả, phân đen từng đợt hoặc thiếu máu; người mệt, sắc mặt nhợt, hồi hộp, ăn kém, đại tiện lỏng. Lưỡi nhạt, mạch tế nhược.
Bệnh cơ
Tỳ khí hư không đủ khả năng thống nhiếp huyết, trong khi ổ loét làm lạc mạch bị tổn thương.
Phép trị
Kiện Tỳ ích khí, nhiếp huyết.
Phương thang
Hoàng thổ thang gia giảm.
Phương thang: Táo tâm thổ, bạch truật, phụ tử chế lượng nhỏ, sinh địa hoàng, a giao, hoàng cầm, cam thảo, đảng sâm, hoàng kỳ.
Chú ý
Đây chỉ là phương tham khảo theo biện chứng. Chảy máu tiêu hóa không được điều trị tại nhà bằng phương thuốc này.
Chứng trạng
Sau khi chảy máu hoặc bệnh kéo dài, người bệnh mệt, chóng mặt, hồi hộp, sắc mặt nhợt, hơi thở ngắn, ăn kém và đau âm ỉ nhẹ. Lưỡi nhạt, mạch tế nhược.
Bệnh cơ
Chảy máu làm huyết hư, bệnh lâu ngày làm khí hư, Tỳ Vị suy yếu và Vị lạc khó hồi phục.
Phép trị
Ích khí dưỡng huyết, kiện Tỳ hòa Vị.
Phương thang
Quy tỳ thang hợp Hương sa lục quân tử thang gia giảm.
Phương thang: Đảng sâm, hoàng kỳ, bạch truật, phục linh, đương quy, long nhãn nhục, toan táo nhân, viễn chí, mộc hương, sa nhân, trần bì, bán hạ, chích cam thảo, sinh khương, đại táo.
Gia giảm
Thiếu máu rõ: cân nhắc gia a giao, thục địa hoàng nếu tiêu hóa chịu được.
Ăn kém: gia kê nội kim, mạch nha.
Đau âm ỉ: gia bạch thược.
Chứng trạng
Thượng vị đầy tức, buồn nôn, ợ hơi, ợ chua, bụng sôi; có lúc nóng rát, có lúc lạnh bụng, ăn kém, đại tiện không điều hòa. Rêu lưỡi vàng trắng lẫn nhau, mạch huyền hoặc hoạt.
Bệnh cơ
Hàn và nhiệt cùng tồn tại, Vị khí không hòa, thăng giáng thất thường. Dùng thuốc thuần hàn hoặc thuần nhiệt đều khó thích hợp.
Phép trị
Tân khai khổ giáng, điều hòa hàn nhiệt, hòa Vị tiêu bĩ.
Phương thang
Bán hạ tả tâm thang gia giảm.
Phương thang: Bán hạ, hoàng cầm, hoàng liên, can khương, đảng sâm hoặc nhân sâm, đại táo, chích cam thảo.
Gia giảm
Ợ chua: gia ô tặc cốt, ngõa lăng tử.
Đầy bụng: gia hậu phác, chỉ thực.
Ăn uống kém: gia sa nhân, kê nội kim.
CHÂM CỨU VÀ BẤM HUYỆT
Châm cứu có thể hỗ trợ giảm đau thượng vị, đầy bụng, buồn nôn và điều hòa Vị khí trong giai đoạn ổn định.
Huyệt thường dùng
Nhâm-12 Trung quản
Tâm bào-6 Nội quan
Vị-36 Túc tam lý
Tỳ-4 Công tôn
Vị-21 Lương môn
Bàng quang-21 Vị du
Bàng quang-20 Tỳ du
Can-3 Thái xung
Bàng quang-17 Cách du
Tỳ-10 Huyết hải
Tỳ-6 Tam âm giao
Phối huyệt tham khảo
Đau thượng vị: Nhâm-12 Trung quản, Vị-36 Túc tam lý, Tâm bào-6 Nội quan, Vị-21 Lương môn.
Can khí phạm Vị: Nhâm-12 Trung quản, Tâm bào-6 Nội quan, Can-3 Thái xung, Đởm-34 Dương lăng tuyền.
Tỳ Vị hư hàn: Nhâm-12 Trung quản, Vị-36 Túc tam lý, Bàng quang-20 Tỳ du, Bàng quang-21 Vị du, Nhâm-6 Khí hải.
Vị âm bất túc: Nhâm-12 Trung quản, Tâm bào-6 Nội quan, Vị-36 Túc tam lý, Tỳ-6 Tam âm giao.
Huyết ứ Vị lạc: Nhâm-12 Trung quản, Bàng quang-17 Cách du, Tỳ-10 Huyết hải, Tâm bào-6 Nội quan; không áp dụng khi đang chảy máu.
Buồn nôn: Tâm bào-6 Nội quan, Nhâm-12 Trung quản, Vị-36 Túc tam lý.
Không châm cứu hoặc bấm mạnh để trì hoãn cấp cứu khi có nôn máu, phân đen, đau bụng dữ dội, bụng cứng hoặc choáng.
Cứu ngải chỉ phù hợp với thể Tỳ Vị hư hàn, biểu hiện đau âm ỉ, thích ấm, đại tiện lỏng, lưỡi nhạt rêu trắng. Không cứu khi đau nóng rát, sốt, táo bón, rêu vàng, nôn máu hoặc phân đen.
ĐIỀU DƯỠNG ĂN UỐNG
Nguyên tắc chung
Ăn đúng giờ.
Không để quá đói rồi ăn quá no.
Nhai kỹ, ăn chậm.
Chia nhỏ bữa nếu dễ đầy.
Không cần ăn liên tục hai giờ một lần nếu không có chỉ định.
Không ăn vặt thường xuyên để “trung hòa acid,” vì có thể làm tăng năng lượng và rối loạn bữa ăn.
Tránh rượu bia và thuốc lá.
Hạn chế món làm triệu chứng tăng rõ.
Không nằm ngay sau ăn.
Không kiêng khem quá mức dẫn đến suy dinh dưỡng.
Thức ăn cay, chua hoặc nhiều chất xơ không cần bị cấm hoàn toàn ở mọi người. Cần căn cứ vào khả năng dung nạp và giai đoạn bệnh.
Sữa không phải thuốc trị loét. Sữa có thể làm dịu tạm thời nhưng cũng có thể kích thích dạ dày tiết acid trở lại.
Một số món ăn tham khảo
Thể Tỳ Vị hư hàn
Cháo hoài sơn dược, liên tử. Phù hợp khi đau âm ỉ, ăn kém và đại tiện phân nát.
Thể Vị âm bất túc
Cháo bắc sa sâm, mạch môn đông. Phù hợp với miệng khô, lưỡi ít rêu và đau nóng nhẹ.
Thể khí huyết hư
Cháo hoài sơn dược, liên tử, đại táo lượng vừa. Người có đường huyết cao cần điều chỉnh lượng gạo và đại táo.
Thể thấp nhiệt
Cháo ý dĩ nhân, phục linh lượng vừa. Không phù hợp khi bụng lạnh hoặc tiêu lỏng nhiều.
Thể thực tích
Sau khi giảm đau và buồn nôn, có thể dùng cháo hoài sơn dược phối kê nội kim lượng nhẹ.
Không tự dùng tam thất, bồ hoàng, ngũ linh chi, đan sâm hoặc các vị hoạt huyết khi có nguy cơ xuất huyết.
SINH HOẠT VÀ PHÒNG TÁI PHÁT
Điều trị H. pylori đầy đủ
Không bỏ thuốc giữa chừng. Kiểm tra lại sau điều trị khi được hướng dẫn.
Thận trọng với thuốc giảm đau
Không tự dùng aspirin, ibuprofen, naproxen hoặc diclofenac để giảm đau thông thường nếu có tiền sử loét.
Bỏ thuốc lá
Thuốc lá làm ổ loét chậm lành và dễ tái phát.
Ngưng rượu bia
Rượu làm triệu chứng nặng và tăng nguy cơ chảy máu.
Ngủ nghỉ điều độ
Thiếu ngủ và căng thẳng có thể làm cảm giác đau, đầy và buồn nôn rõ hơn.
Tập vận động nhẹ
Đi bộ hoặc vận động vừa sức có lợi cho thể trạng. Không vận động mạnh ngay sau khi ăn hoặc trong giai đoạn đang đau nhiều, thiếu máu hay xuất huyết.
Tái khám
Loét dạ dày có thể cần nội soi lại để kiểm tra lành và loại trừ tổn thương ác tính. Việc tái khám căn cứ vị trí ổ loét, hình ảnh nội soi, kết quả sinh thiết và tình trạng người bệnh.
NHỮNG ĐIỀU NÊN LÀM
Đi khám khi đau thượng vị kéo dài hoặc tái phát.
Nội soi khi có chỉ định.
Xét nghiệm và điều trị H. pylori đầy đủ.
Thông báo tất cả thuốc đang sử dụng cho bác sĩ.
Dùng thuốc giảm acid đúng thời gian.
Ăn uống điều độ và vừa sức.
Bỏ thuốc lá, ngừng rượu bia.
Tái khám nếu triệu chứng trở lại sau khi ngừng thuốc.
Đi cấp cứu khi nôn máu, phân đen, choáng hoặc đau bụng dữ dội.
NHỮNG ĐIỀU KHÔNG NÊN LÀM
Không tự mua kháng sinh để diệt H. pylori.
Không tự bỏ dở phác đồ.
Không tự dùng NSAID để giảm đau dạ dày.
Không tự ngừng aspirin hoặc thuốc chống đông đang dùng vì bệnh tim mạch.
Không tự gây nôn hoặc rửa dạ dày.
Không chườm nóng khi đau bụng dữ dội chưa rõ nguyên nhân.
Không dùng rượu thuốc hoặc thuốc cay nóng khi đang loét.
Không dùng thuốc hoạt huyết khi có dấu hiệu xuất huyết.
Không coi phân đen là hiện tượng bình thường khi kèm mệt, chóng mặt hoặc đau bụng.
Không trì hoãn khám khi sụt cân, thiếu máu, nôn kéo dài hoặc nuốt nghẹn.
Nói tóm lại
Loét dạ dày và tá tràng là những tổn thương thực thể của niêm mạc đường tiêu hóa. Hai nguyên nhân quan trọng nhất là H. pylori và thuốc giảm đau kháng viêm không steroid. Bệnh có thể gây đau thượng vị, nóng rát, đầy bụng, buồn nôn, ợ chua, đói đau hoặc đau sau ăn; nhưng cũng có thể âm thầm cho đến khi xuất huyết.
Theo Trung y, bệnh thuộc phạm vi Vị quản thống, Vị thống, Thôn toan, Bĩ mãn, Ẩu thổ và Huyết chứng. Bệnh cơ căn bản là Vị khí mất hòa giáng, khí cơ uất trệ và Vị lạc bị tổn thương. Các thể thường gặp gồm Can khí phạm Vị, Can Vị uất nhiệt, Tỳ Vị hư hàn, hàn tà phạm Vị, Vị âm bất túc, thấp nhiệt trung trở, thực tích thương Vị, huyết ứ Vị lạc, Tỳ hư huyết thất nhiếp, khí huyết lưỡng hư và hàn nhiệt thác tạp.
Điều trị cần tìm và giải quyết nguyên nhân, không chỉ làm giảm đau. H. pylori cần được điều trị đúng phác đồ; thuốc gây loét cần được điều chỉnh an toàn; loét dạ dày cần sinh thiết hoặc theo dõi lại khi có chỉ định. Đông y có thể hỗ trợ điều hòa Tỳ Vị và phục hồi thể trạng theo biện chứng, nhưng không thay thế nội soi, thuốc giảm acid, điều trị H. pylori và xử trí cấp cứu khi có xuất huyết hoặc thủng.
Trường Xuân biên soạn