Phương pháp ngoại trị trong phụ khoa thường được dùng nhiều nhất đối với các bệnh vùng tiền âm. Vị trí bệnh biến chủ yếu biểu hiện tại cục bộ tiền âm, nhưng phản ứng và ảnh hưởng tại chỗ có thể lan đến toàn thân. Ngược lại, có một số bệnh tiền âm lại là biểu hiện cục bộ của bệnh biến toàn thân tại vùng tiền âm. Vì vậy, trong điều trị vừa cần dùng thuốc tại chỗ, vừa cần phối hợp với nội trị để điều chỉnh toàn thân.
Bệnh tiền âm phần nhiều do tà độc, bệnh trùng gây nên, thường phát sinh các bệnh biến như sưng nề, mủ nhọt, loét, trợt nát, v.v. Trong các phương pháp ngoại trị, thường chọn các nhóm thuốc thanh nhiệt, giải độc, sát trùng, thu liễm.
Thuốc thanh nhiệt thường dùng có Hoàng bá, Hoàng liên, Tri mẫu, v.v.
Thuốc giải độc thường dùng có Kim ngân hoa, Bồ công anh, Thổ phục linh, Ngư tinh thảo, Bại tương thảo, Bạch hoa xà thiệt thảo, v.v.
Thuốc sát trùng thường dùng có Khổ sâm, Hạc sắt, Xà sàng tử, Bách bộ, Hùng hoàng, Bạch đầu ông, v.v.
Thuốc thu liễm thường dùng có Ô mai, Ngũ bội tử, Xích thạch chi, Ô tặc cốt, Hải cáp phấn, Khô phàn, v.v.
Dưới đây trình bày các phương pháp ngoại trị chủ yếu trong phụ khoa.
Phương pháp xông rửa là dùng nước thuốc để xông hơi và rửa vùng ngoại âm tại chỗ. Phương pháp này chủ yếu dùng cho các bệnh biến ngoại âm như ngứa, thấp chẩn, sưng nề, loét, v.v.
Cách dùng
Các vị thuốc được dùng cần gói lại rồi sắc. Nước thuốc bắt buộc phải được đun sôi 20 đến 30 phút mới được dùng ngoài.
Khi dùng, đổ nước thuốc vào chậu riêng, nhân lúc còn nóng để xông vùng bệnh. Trước xông, sau rửa. Khi nhiệt độ vừa phải, có thể dùng để rửa ngoại âm hoặc ngồi ngâm trong chậu. Mỗi lần khoảng 10 phút.
Người có vết loét không nên ngâm rửa trực tiếp.
Bảy ngày là một liệu trình. Mỗi ngày dùng 1 thang, sắc 2 lần, chia sáng và tối để xông rửa.
Ý nghĩa lâm sàng
Xông rửa có tác dụng đưa thuốc trực tiếp đến vùng bệnh, giúp thanh nhiệt, táo thấp, chỉ dương, tiêu thũng, giải độc. Hơi nóng giúp khí huyết tại chỗ lưu thông hơn, nước thuốc giúp làm sạch dịch tiết và giảm kích thích cục bộ.
Tuy nhiên, nhiệt độ phải vừa phải, không được quá nóng để tránh bỏng hoặc làm tổn thương niêm mạc. Khi có loét, rách, chảy máu, đau rát nhiều hoặc nghi nhiễm trùng nặng, cần thận trọng và nên xử lý theo hướng chuyên khoa.
Phương pháp xối rửa là dùng nước thuốc để xối rửa âm đạo và ngoại âm. Phương pháp này chủ yếu dùng cho bệnh biến âm đạo và cổ tử cung, như viêm âm đạo do trùng roi, viêm âm đạo do nấm, viêm âm đạo không đặc hiệu, viêm cổ tử cung cấp mạn, trợt cổ tử cung, v.v.
Cách dùng
Các vị thuốc cần được gói lại rồi sắc, đun sôi 20 đến 30 phút. Khi nước thuốc có nhiệt độ thích hợp, gần tương đương thân nhiệt, cho vào dụng cụ xối rửa để tiến hành xối rửa.
Do trong âm đạo có nhiều nếp gấp, dịch tiết và tác nhân gây bệnh không dễ được rửa sạch hoàn toàn, nên phương pháp lau rửa âm đạo thường có hiệu quả tốt hơn. Có thể ngồi trong chậu nước thuốc; đối với phụ nữ đã kết hôn, có thể dùng kẹp giữ bông thấm nước thuốc để lau rửa âm đạo. Rửa càng sạch và đúng cách thì hiệu quả càng tốt.
Bảy ngày là một liệu trình. Mỗi ngày dùng 1 thang, sắc 2 lần, chia sáng và tối để xối rửa. Nếu ngồi rửa trong chậu, mỗi lần 5 đến 10 phút.
Ý nghĩa lâm sàng
Xối rửa giúp làm sạch khí hư, giảm mùi hôi, giảm ngứa rát, đồng thời đưa thuốc thanh nhiệt, giải độc, táo thấp, sát trùng đến vùng âm đạo và cổ tử cung. Phương pháp này phù hợp với các chứng đới hạ, âm dương, thấp nhiệt hạ chú hoặc thấp trùng sinh sôi.
Tuy nhiên, không nên xối rửa quá sâu, quá mạnh hoặc quá thường xuyên nếu không có chỉ định, vì có thể làm rối loạn môi trường âm đạo. Khi có thai, sau sinh mới, sau thủ thuật phụ khoa hoặc đang ra huyết, cần đặc biệt thận trọng.
Phương pháp nạp thuốc là đặt thuốc dùng ngoài vào vòm âm đạo và vùng cổ tử cung. Phương pháp này chủ yếu dùng cho bệnh biến cổ tử cung và âm đạo, như viêm cổ tử cung mạn, trợt cổ tử cung, ung thư cổ tử cung, viêm âm đạo do trùng roi, viêm âm đạo do nấm, viêm âm đạo không đặc hiệu, viêm âm đạo tuổi già, v.v.
Cách dùng
Thuốc ngoại trị được chế thành dạng viên đặt, cao, bột tùy theo nhu cầu, sau đó khử khuẩn và để sẵn dùng.
Sau khi ngoại âm hoặc âm đạo đã được làm sạch, viên đặt có thể đặt vào vòm sau âm đạo. Cách này có thể hướng dẫn người bệnh tự thao tác nếu phù hợp.
Dạng cao có thể bôi lên gạc vô khuẩn. Dạng bột có thể chấm lên bông có dây. Các dạng này nên do nhân viên y tế thao tác theo quy trình, đặt lên vùng tổn thương.
Bảy đến mười lần là một liệu trình. Mỗi ngày hoặc cách ngày đặt thuốc một lần.
Ý nghĩa lâm sàng
Nạp thuốc giúp thuốc lưu lại tương đối lâu tại vùng bệnh, thích hợp với các tổn thương mạn tính của âm đạo và cổ tử cung, hoặc những trường hợp cần thuốc tác động trực tiếp lên vùng tổn thương.
Khi dùng phương pháp này cần chú ý vô khuẩn, tránh làm trầy xước niêm mạc. Nếu có đau rát tăng, ra huyết, dị ứng, khí hư hôi hơn hoặc sốt, cần ngừng thuốc và kiểm tra lại.
Phương pháp dán đắp là dùng gạc vô khuẩn thấm nước thuốc, bột thuốc hoặc cao thuốc rồi đắp lên vùng bệnh. Phương pháp này chủ yếu dùng cho bệnh biến ngoại âm hoặc vú, như sưng nề ngoại âm, loét ngoại âm, sau rạch áp xe ngoại âm, viêm tuyến vú cấp hoặc hồi sữa, v.v.
Cách dùng
Nếu dùng thuốc nước, lấy gạc vô khuẩn thấm nước thuốc rồi đắp lên vùng bệnh.
Nếu dùng thuốc bột, có thể rắc trực tiếp lên bề mặt vết loét đã vỡ theo chỉ định.
Nếu dùng cao thuốc, bôi cao lên gạc vô khuẩn, đắp lên vùng bệnh, sau đó phủ gạc và cố định.
Mỗi ngày hoặc cách ngày thay thuốc một lần, cho đến khi khỏi.
Ý nghĩa lâm sàng
Dán đắp có thể giúp thuốc tiếp xúc trực tiếp với vùng sưng, loét, mủ nhọt hoặc tổn thương ngoài da. Tùy loại thuốc, phép này có thể thanh nhiệt giải độc, tiêu thũng bài nùng, thu liễm sinh cơ, giảm đau hoặc hỗ trợ làm lành.
Khi vết thương có mủ nhiều, sưng nóng đỏ đau tăng, sốt, hoặc tổn thương lan rộng, cần xử lý ngoại khoa và chống nhiễm trùng kịp thời, không nên chỉ dựa vào dán đắp.
Nguyên tắc cần tuân thủ khi dùng ngoại trị trong phụ khoa
Tất cả chế phẩm dùng ngoài như viên đặt, cao, bột đều phải được bào chế theo quy trình thao tác chuẩn, sau khi khử khuẩn mới dùng. Tất cả nước thuốc tự sắc để dùng ngoài đều phải đun sôi trên 20 đến 30 phút mới được sử dụng.
Vùng điều trị cần được làm sạch hoặc sát khuẩn theo thường quy.
Trong vòng 3 ngày trước và sau kỳ kinh, không nên dùng các phương pháp ngoại trị đưa vào trong âm đạo. Trong thời kỳ mang thai và sau sinh mới, nên hạn chế dùng ngoại trị, trừ khi có nhu cầu đặc biệt và có chỉ định phù hợp.
Trong thời gian điều trị bằng thuốc dùng ngoài, cần kiêng giao hợp và không tắm bồn.
Từ quan niệm chỉnh thể, cần nhấn mạnh nguyên tắc kết hợp ngoại trị tại chỗ với điều trị toàn thân, làm nổi bật biện chứng luận trị. Ngoại trị không phải chỉ là xử lý phần ngọn ở bên ngoài, mà phải đặt trong tương quan với tạng phủ, khí huyết, thấp nhiệt, độc tà, hư thực và tình trạng toàn thân của người bệnh.
Chú ý lâm sàng
Ngoại trị trong phụ khoa có ưu điểm là thuốc đến trực tiếp vùng bệnh, tác dụng tại chỗ tương đối rõ, đặc biệt đối với ngứa, khí hư, sưng nề, loét, thấp chẩn, viêm âm đạo, viêm cổ tử cung và một số bệnh vùng vú. Tuy nhiên, vùng tiền âm là nơi niêm mạc mềm, dễ kích ứng, dễ nhiễm khuẩn, vì vậy thao tác phải sạch, thuốc phải phù hợp và không nên dùng quá mạnh.
Khi người bệnh có thai, sau sinh, đang ra huyết, có vết loét sâu, đau tăng, sốt, khí hư hôi, nghi bệnh lây truyền qua đường tình dục hoặc nghi khối u, cần thăm khám chuyên khoa trước khi dùng ngoại trị.
Không nên tự ý dùng thuốc bột, thuốc đắp, thuốc ngâm không rõ nguồn gốc cho vùng âm hộ, âm đạo hoặc cổ tử cung. Những thuốc có tính ăn mòn, kích thích mạnh hoặc chưa được khử khuẩn có thể làm niêm mạc tổn thương nặng hơn.
Nói tóm lại
Ngoại trị pháp trong phụ khoa chủ yếu dùng cho các bệnh vùng tiền âm, âm đạo, cổ tử cung, ngoại âm và vú. Các phương pháp thường dùng gồm xông rửa, xối rửa, nạp thuốc và dán đắp.
Thuốc thường dùng có các nhóm thanh nhiệt, giải độc, sát trùng, thu liễm. Tuy nhiên, ngoại trị phải đi cùng nguyên tắc an toàn, sạch, đúng chỉ định và biện chứng. Có bệnh tại chỗ thì xử lý tại chỗ; có bệnh toàn thân thì cần điều chỉnh toàn thân. Cục bộ và chỉnh thể không tách rời nhau, đó là điểm quan trọng khi vận dụng ngoại trị trong Trung y phụ khoa.