Khái quát
Liệu pháp bài thạch bằng Trung y là phương pháp sử dụng thuốc, châm cứu và điều dưỡng nhằm điều hòa khí cơ Can Đởm, thanh lợi thấp nhiệt, hỗ trợ dịch mật lưu thông và giảm một số triệu chứng do sỏi mật gây ra.
Phép bài thạch không có nghĩa là mọi viên sỏi đều có thể được đẩy ra ngoài. Khả năng sỏi di chuyển phụ thuộc vào vị trí, kích thước, số lượng, hình dạng viên sỏi, đường kính đường mật, tình trạng hẹp, mức độ viêm và chức năng co bóp của túi mật.
Trong Trung y, bệnh sỏi mật thường được xem xét trong phạm vi các chứng:
Hiếp thống 脅痛.
Đởm trướng 膽脹.
Hoàng đản 黃疸.
Phúc thống 腹痛.
Vị quản thống 胃脘痛.
Âu thổ 嘔吐.
Bệnh vị chủ yếu ở Can và Đởm, đồng thời liên quan mật thiết với Tỳ, Vị và Tam tiêu.
Bệnh cơ căn bản
Can Đởm khí trệ
Can chủ sơ tiết, Đởm chứa và bài tiết dịch mật. Khi tình chí không điều hòa, khí cơ uất trệ, chức năng sơ tiết của Can suy giảm, Đởm khí cũng khó thông.
Dịch mật lưu hành không thuận, người bệnh thường đau tức hạ sườn, ngực bụng đầy, hay thở dài, buồn nôn và miệng đắng.
Tỳ hư sinh thấp
Ăn uống không điều độ, dùng nhiều thức béo ngọt hoặc bệnh kéo dài làm Tỳ mất kiện vận.
Thủy thấp không hóa, lâu ngày tích thành đàm trọc. Đàm thấp khiến dịch mật thêm đặc và làm khí cơ Can Đởm càng khó lưu thông.
Thấp nhiệt uẩn kết
Thấp tích lâu có thể hóa nhiệt. Nhiễm khuẩn đường mật, ứ mật, thức ăn nhiều dầu mỡ và rượu đều có thể làm thấp nhiệt tăng lên.
Thấp nhiệt uẩn ở Can Đởm gây đau hạ sườn, miệng đắng, ngán dầu mỡ, tiểu vàng, vàng da và rêu lưỡi vàng nhớt.
Khí trệ huyết ứ
Khí trệ kéo dài làm huyết hành không thông. Sỏi kích thích, viêm tái diễn và tắc nghẽn lâu ngày khiến huyết ứ lưu lại ở vùng Can Đởm.
Đau thường cố định, đau như châm, lưỡi tím hoặc có điểm ứ huyết.
Đàm, thấp, ứ kết thành sỏi
Sỏi là bệnh lý hữu hình. Theo Trung y, quá trình hình thành thường không do một nguyên nhân đơn độc mà là kết quả của khí trệ, thấp nhiệt, đàm trọc và huyết ứ cùng tích tụ lâu ngày.
Vì vậy, điều trị không nên chỉ nhằm đẩy sỏi ra ngoài mà còn cần điều chỉnh bệnh cơ khiến sỏi hình thành.
Nguyên tắc điều trị
Tùy từng thể bệnh, có thể vận dụng:
Sơ Can lý khí.
Thanh nhiệt lợi thấp.
Lợi Đởm thông phủ.
Kiện Tỳ hóa đàm.
Hành khí hoạt huyết.
Hòa Vị giáng nghịch.
Ích khí dưỡng huyết khi bệnh kéo dài.
Các vị thường được dùng gồm Sài hồ, Uất kim, Nhân trần, Kim tiền thảo, Hoàng cầm, Chỉ xác, Mộc hương, Diên hồ sách, Kê nội kim, Bạch thược và Phục linh.
Đại hoàng, Mang tiêu và các thuốc công hạ chỉ được cân nhắc trong một số thực chứng rõ ràng, không được dùng với mục đích gây tiêu chảy mạnh để tống sỏi.
Biện chứng luận trị
Can uất khí trệ
Biểu hiện
Đau tức hoặc đau quặn vùng hạ sườn, đau có thể lan ra lưng, ngực bụng đầy, hay thở dài, ợ hơi, miệng đắng, ăn kém; lưỡi rêu mỏng, mạch huyền.
Bệnh cơ
Can mất sơ tiết, Đởm khí không thông, Vị khí không hòa.
Phép trị
Sơ Can lý khí, lợi Đởm, hòa Vị, chỉ thống.
Phương thang
Sài Hồ Sơ Can Tán gia giảm.
Sài hồ, Bạch thược, Chỉ xác, Hương phụ, Diên hồ sách, Xuyên luyện tử, Uất kim, Trần bì, Cam thảo.
Đau rõ có thể gia Kim linh tử.
Buồn nôn có thể gia Bán hạ chế, Trúc nhự.
Đau cố định có thể gia Đan sâm, Xích thược khi không có nguy cơ xuất huyết.
Can Đởm thấp nhiệt
Biểu hiện
Đau hạ sườn, miệng đắng, ngán dầu mỡ, buồn nôn, tiểu vàng, táo bón, có thể vàng da hoặc sốt; lưỡi đỏ, rêu vàng nhớt, mạch huyền sác hoặc hoạt sác.
Bệnh cơ
Thấp nhiệt uẩn kết ở Can Đởm, dịch mật lưu thông không thuận.
Phép trị
Thanh nhiệt lợi thấp, sơ Can lợi Đởm.
Phương thang
Nhân Trần Cao Thang hoặc Đại Sài Hồ Thang gia giảm.
Nhân trần, Hoàng cầm, Chi tử, Sài hồ, Bạch thược, Chỉ thực, Uất kim, Bán hạ chế.
Có sỏi nhỏ có thể gia Kim tiền thảo và Kê nội kim với mục đích hỗ trợ.
Chú ý
Đau hạ sườn kèm sốt, rét run và vàng da có thể là viêm đường mật cấp. Đây là tình trạng cần điều trị tại bệnh viện, không được chỉ dùng thuốc thanh nhiệt hoặc bài thạch.
Đởm hỏa xí thịnh
Biểu hiện
Đau nóng rát vùng hạ sườn và thượng vị, đau lan vai lưng, miệng đắng, họng khô, đại tiện táo, lưỡi đỏ, rêu vàng khô, mạch huyền sác.
Bệnh cơ
Uất nhiệt hóa hỏa, Đởm phủ không thông.
Phép trị
Thanh Đởm tả hỏa, sơ lợi khí cơ, hòa Vị.
Phương thang
Đại Sài Hồ Thang gia giảm.
Sài hồ, Hoàng cầm, Bạch thược, Chỉ thực, Bán hạ chế, Uất kim, Diên hồ sách.
Đại hoàng chỉ dùng khi có táo kết và lý thực rõ.
Không sử dụng Mang tiêu hoặc thuốc công hạ liều lớn tại nhà.
Đàm thấp khí trệ
Biểu hiện
Đau tức hạ sườn, bụng đầy, ăn kém, buồn nôn, người nặng nề, đại tiện thất thường; lưỡi rêu trắng hoặc vàng dày nhớt, mạch huyền hoạt.
Bệnh cơ
Tỳ hư sinh đàm thấp, đàm khí trở trệ Can Đởm.
Phép trị
Kiện Tỳ hóa đàm, lý khí lợi Đởm.
Phương thang
Ôn Đởm Thang hợp Hương Sa Lục Quân Tử Thang gia giảm.
Bán hạ chế, Trần bì, Phục linh, Trúc nhự, Chỉ thực, Đảng sâm, Bạch truật, Mộc hương, Sa nhân.
Khí trệ huyết ứ
Biểu hiện
Đau cố định vùng hạ sườn, đau như châm, bệnh tái phát kéo dài, lưỡi tím hoặc có điểm ứ huyết, mạch huyền sáp.
Bệnh cơ
Khí trệ lâu ngày, huyết ứ trở lạc.
Phép trị
Hành khí hoạt huyết, thông lạc chỉ thống.
Phương thang
Cách Hạ Trục Ứ Thang gia giảm.
Đan sâm, Uất kim, Xích thược, Đương quy, Xuyên khung, Diên hồ sách, Chỉ xác.
Chú ý
Không tự dùng thuốc hoạt huyết mạnh khi có rối loạn đông máu, xuất huyết đường mật, đang dùng thuốc chống đông hoặc chuẩn bị phẫu thuật.
Tỳ khí hư
Biểu hiện
Bệnh kéo dài, ăn ít, mệt mỏi, bụng đầy, phân lỏng, sắc mặt nhợt vàng; lưỡi nhạt có dấu răng, mạch nhu nhược.
Bệnh cơ
Tỳ mất kiện vận, thấp trọc khó hóa, chính khí suy.
Phép trị
Kiện Tỳ ích khí, hòa Vị hóa thấp.
Phương thang
Hương Sa Lục Quân Tử Thang hoặc Sâm Linh Bạch Truật Tán gia giảm.
Đảng sâm, Bạch truật, Phục linh, Trần bì, Bán hạ chế, Mộc hương, Sa nhân, Sơn dược, Ý dĩ nhân, Cam thảo.
Các vị thường dùng
Kim tiền thảo
Thanh nhiệt lợi thấp, lợi Đởm.
Có thể hỗ trợ trong một số trường hợp thấp nhiệt và sỏi nhỏ, nhưng không bảo đảm làm tan hoặc bài sạch sỏi.
Không dùng liều rất lớn kéo dài.
Nhân trần
Thanh lợi thấp nhiệt, lợi Đởm và thoái hoàng.
Vàng da do tắc nghẽn cơ học không thể chỉ điều trị bằng Nhân trần.
Uất kim
Hành khí giải uất, hoạt huyết, lợi Đởm và hỗ trợ thoái hoàng.
Người đang dùng thuốc chống đông cần thận trọng.
Kê nội kim
Tiêu thực hóa tích, kiện vận Tỳ Vị, thường được phối hợp trong các chứng kết tụ.
Kê nội kim không trực tiếp nghiền hoặc làm vỡ viên sỏi.
Sài hồ
Sơ Can và điều đạt khí cơ Thiếu dương.
Bạch thược
Dưỡng huyết, nhu Can, hoãn cấp và hỗ trợ giảm co thắt.
Mộc hương, Chỉ xác
Hành khí, điều Trung, thường dùng khi đầy trướng và khí trệ.
Đại hoàng
Thanh nhiệt thông phủ.
Không lấy việc đi tiêu nhiều lần làm dấu hiệu sỏi đang được bài xuất.
Mang tiêu
Có tác dụng tả hạ mạnh, dễ gây mất nước và rối loạn điện giải.
Không dùng thường quy trong bệnh sỏi mật.
Giới hạn của liệu pháp bài thạch
Sỏi túi mật
Sỏi túi mật khó bài vì ống túi mật nhỏ, cong và hẹp.
Sỏi lớn, nhiều viên, túi mật chứa đầy sỏi hoặc túi mật mất khả năng co bóp thường không thích hợp với phép bài thạch.
Nếu kích thích túi mật co bóp quá mạnh, sỏi có thể mắc ở cổ túi mật hoặc rơi xuống ống mật chủ, gây đau quặn, viêm đường mật hoặc viêm tụy.
Sỏi ống mật chủ
Sỏi nhỏ đôi khi có thể tự đi xuống tá tràng, nhưng cũng có nguy cơ mắc kẹt.
Khi có tắc nghẽn, vàng da hoặc viêm đường mật, nội soi lấy sỏi và dẫn lưu thường giữ vai trò quyết định.
Sỏi đường mật trong gan
Sỏi thường nằm sâu trong các nhánh nhỏ và đi kèm hẹp đường mật.
Chỉ dùng thuốc bài thạch thường khó đạt kết quả căn bản.
Sỏi lớn hoặc vôi hóa
Sỏi lớn, sỏi bám chặt, sỏi đã vôi hóa và sỏi hỗn hợp thường khó di chuyển hoặc hòa tan.
Không nên căn cứ một ngưỡng kích thước cố định để tự quyết định điều trị; cần đánh giá bằng hình ảnh và ý kiến chuyên khoa.
Đánh giá hiệu quả
Hết đau không có nghĩa sỏi đã hết.
Thấy một vật giống sỏi trong phân cũng không đủ để xác nhận bài sỏi.
Hiệu quả cần được đánh giá bằng:
Siêu âm.
Xét nghiệm chức năng gan.
MRCP hoặc phương pháp hình ảnh khác khi cần.
Theo dõi triệu chứng và biến chứng.
Không nên lọc phân rồi tự kết luận đã bài sạch sỏi, vì cặn thức ăn và phân kết có thể dễ bị nhầm với sỏi.
Vai trò của châm cứu
Châm cứu có thể hỗ trợ:
Giảm cảm giác đau nhẹ.
Giảm buồn nôn.
Điều hòa khí cơ.
Hỗ trợ vận động đường tiêu hóa.
Giúp người bệnh thư giãn.
Các huyệt thường dùng
Đởm-24 Nhật nguyệt.
Can-14 Kỳ môn.
Bàng quang-19 Đởm du.
Đởm-34 Dương lăng tuyền.
Đởm-40 Khâu khư.
Can-3 Thái xung.
Nhâm-12 Trung quản.
Vị-36 Túc tam lý.
Tâm bào-6 Nội quan.
Châm cứu không bảo đảm làm sạch sỏi. Do có thể làm thay đổi vận động túi mật và đường mật, việc kích thích mạnh còn có nguy cơ khiến sỏi di chuyển đến vị trí gây tắc.
Không châm cứu hoặc bấm huyệt mạnh khi người bệnh sốt cao, vàng da tăng, đau dữ dội, nôn liên tục, huyết áp thấp hoặc nghi viêm tụy, thủng túi mật và viêm phúc mạc.
Nhĩ châm
Có thể lựa chọn các vùng Can, Đởm, Tá tràng, Thần môn và Giao cảm để hỗ trợ giảm căng thẳng và khó chịu.
Không sử dụng nhĩ châm với mục đích cưỡng ép bài sỏi.
Không phối hợp với bữa ăn nhiều chất béo.
Những nghiệm phương không nên sử dụng
Kim tiền thảo liều rất lớn
Không dùng 125–250 g hoặc nhiều hơn mỗi ngày trong thời gian dài.
Liều lớn có thể gây rối loạn tiêu hóa, mất nước và ảnh hưởng chức năng thận.
Dịch mật lợn, dê hoặc động vật khác
Không uống hoặc dùng dịch mật động vật để làm thuốc.
Dịch mật có nguy cơ nhiễm khuẩn, độc tính và thành phần không kiểm soát được.
Tiêu thạch, Hỏa tiêu, Bạch phàn
Không tự uống những khoáng chất này để phá sỏi.
Chúng có thể gây độc, tổn thương tiêu hóa và rối loạn điện giải.
Mang tiêu, Đại hoàng liều cao
Không dùng để tạo tiêu chảy mạnh nhằm đẩy sỏi.
Nhân hạt óc chó, đường và dầu mè liều lớn
Phương chứa nhiều đường và chất béo, có thể kích thích túi mật co bóp và không phù hợp với người béo phì, rối loạn lipid máu hoặc đau sau thức ăn béo.
Nhĩ thạch và xương cá nghiền
Không có căn cứ đáng tin cậy cho thấy bột xương hoặc sỏi tai cá có thể làm tan sỏi mật.
Phương pháp tổng công bài thạch
Khái quát
Phương pháp tổng công cũ phối hợp Trung dược lợi mật, morphin để làm cơ thắt Oddi co lại, amyl nitrit hoặc châm cứu để làm cơ thắt giãn đột ngột, sau đó cho ăn trứng chiên dầu để kích thích túi mật co bóp mạnh.
Mục đích là tạo áp lực cao trong đường mật rồi mở cơ thắt đột ngột để đẩy sỏi ra ngoài.
Nguy cơ
Phương pháp này có thể gây:
Đau quặn mật dữ dội.
Sỏi mắc kẹt.
Viêm tụy.
Viêm đường mật.
Tăng áp lực đường mật.
Suy hô hấp do morphin.
Hạ huyết áp và rối loạn tim mạch do amyl nitrit.
Nôn và hít sặc.
Mất nước, rối loạn điện giải.
Trì hoãn nội soi hoặc phẫu thuật cần thiết.
Vì vậy, không nên áp dụng phương pháp tổng công hoặc tiểu tổng công trong điều trị thông thường, đặc biệt không được thực hiện tại nhà.
Không dùng morphin, thuốc giãn mạch, bữa ăn nhiều chất béo và châm cứu theo trình tự để cưỡng ép bài sỏi.
Điều trị phối hợp Trung Tây y
Vai trò hợp lý của Trung y
Trung y có thể được cân nhắc để:
Giảm đầy bụng và buồn nôn.
Sơ Can lý khí.
Kiện Tỳ, hỗ trợ tiêu hóa.
Điều dưỡng thể trạng trước và sau can thiệp.
Hỗ trợ phục hồi sau khi tắc nghẽn đã được giải trừ.
Vai trò của điều trị hiện đại
Nội soi, dẫn lưu hoặc phẫu thuật giữ vai trò chính khi có:
Sỏi ống mật chủ.
Viêm đường mật.
Vàng da tắc nghẽn.
Viêm tụy do sỏi.
Viêm túi mật tái diễn.
Hẹp đường mật.
Áp-xe gan.
Sỏi đường mật trong gan phức tạp.
Không nên xem việc phối hợp Trung Tây y là sử dụng đồng thời càng nhiều thuốc và thủ thuật càng tốt. Phối hợp cần có mục tiêu rõ, tránh tương tác và không trì hoãn giải trừ tắc nghẽn.
Điều dưỡng ăn uống
Ăn đúng giờ
Không bỏ bữa hoặc nhịn đói kéo dài.
Không ăn quá no.
Hạn chế bữa nhiều dầu mỡ
Không dùng trứng chiên, dầu hoặc thịt mỡ để kích thích túi mật co bóp nhằm bài sỏi.
Bảo đảm dinh dưỡng
Dùng đủ protein từ cá, thịt nạc, trứng luộc hoặc hấp, đậu phụ và sữa ít béo nếu dung nạp được.
Ăn rau và trái cây nguyên quả với lượng phù hợp.
Kiểm soát đường và thể trọng
Hạn chế nước ngọt, bánh kẹo và thức ăn giàu năng lượng.
Giảm cân từ từ, không nhịn ăn cực đoan.
Dấu hiệu cần khám sớm
Đau hạ sườn tái diễn.
Đầy bụng và buồn nôn sau ăn.
Miệng đắng kéo dài.
Nước tiểu sẫm.
Vàng mắt nhẹ.
Sụt cân không rõ nguyên nhân.
Dấu hiệu cần cấp cứu
Đau hạ sườn phải dữ dội kéo dài.
Sốt cao hoặc rét run.
Vàng da tăng nhanh.
Nôn liên tục.
Đau lan ra lưng kèm nôn nhiều.
Bụng cứng hoặc đau lan rộng.
Huyết áp giảm.
Chóng mặt hoặc ngất.
Lú lẫn hoặc ngủ gà.
Tiểu ít.
Kết luận
Theo Trung y, sỏi mật hình thành trên cơ sở Can Đởm khí trệ, Tỳ hư sinh thấp, thấp nhiệt, đàm trọc và huyết ứ kết tụ lâu ngày.
Liệu pháp bài thạch có thể hỗ trợ điều hòa khí cơ, lợi Đởm và cải thiện một số triệu chứng trong những trường hợp được lựa chọn phù hợp. Tuy nhiên, hiệu quả làm sạch sỏi nhìn chung hạn chế, đặc biệt đối với sỏi túi mật, sỏi lớn, sỏi vôi hóa và sỏi đường mật trong gan kèm hẹp.
Không nên sử dụng thuốc công hạ mạnh, dịch mật động vật, khoáng chất có độc hoặc phương pháp tổng công để cưỡng ép bài sỏi.
Nói tóm lại, mục tiêu điều trị không chỉ là đẩy viên sỏi ra ngoài mà còn phải bảo đảm đường mật thông suốt, kiểm soát viêm và phòng biến chứng. Khi có sốt, vàng da, đau dữ dội hoặc viêm tụy, việc nội soi, dẫn lưu hay phẫu thuật giữ vai trò quyết định.
Trường Xuân biên soạn