Quách Bốc Lạc – Đường dây tư vấn tâm lý Trung Quốc
http://www.zgxl.net
Nhiễm nấm nông ở vùng da kẽ ngón tay, kẽ ngón chân, lòng bàn tay và lòng bàn chân được gọi là nấm da tay và nấm da bàn chân. Khi nấm xâm phạm móng tay hoặc móng chân thì gọi là nấm móng.
Trong các bệnh nấm da nông, nấm da bàn chân có tỷ lệ mắc cao nhất. Đây cũng có thể là nguồn lây gây nấm da tay, nấm da thân và nấm da bẹn, vì vậy cần tích cực phòng ngừa và điều trị.
NGUYÊN NHÂN
Các loại nấm chủ yếu gây nấm da tay và nấm da bàn chân là Trichophyton rubrum, tiếp đến là Trichophyton mentagrophytes dạng thạch cao và Epidermophyton floccosum. Trong đó, Trichophyton rubrum là tác nhân gây bệnh chủ yếu.
Lớp sừng ở lòng bàn tay và lòng bàn chân tương đối dày, bàn chân lại thường ra nhiều mồ hôi nhưng không có tuyến bã nhờn, vì vậy thuận lợi cho nấm xâm nhập. Việc mang giày không thông thoáng và sống trong môi trường ẩm ướt là những yếu tố quan trọng làm bệnh phát sinh hoặc nặng thêm.
Nấm da bàn chân phần lớn lây truyền gián tiếp. Dép và khăn tắm dùng chung ở nhà tắm công cộng, hoặc dùng chung giày và tất, là những phương tiện truyền bệnh chủ yếu.
BIỂU HIỆN LÂM SÀNG
Nấm da bàn chân
Nấm da bàn chân thường được gọi là “cước khí” hoặc “nước ăn chân”. Bệnh thường gặp ở người trưởng thành, tỷ lệ mắc ở miền Nam cao hơn; mùa đông nhẹ, mùa hè nặng. Người thường xuyên mang giày cao su có tỷ lệ mắc bệnh tương đối cao.
Trên lâm sàng, bệnh được chia thành bốn thể:
Do lớp sừng tăng sinh nên da trở nên dày và thô ráp. Vào mùa đông thường xuất hiện nứt da và đau.
Mụn nước thường xuất hiện ở lòng bàn chân. Thành mụn nước dày, khó vỡ, dịch bên trong trong suốt và thường mọc thành từng đám. Vùng da xung quanh mụn nước vẫn bình thường, kèm theo ngứa.
Do vùng da tổn thương thường xuyên ẩm ướt nên bị ngâm mềm và chuyển màu trắng. Sau khi lau hoặc bóc lớp biểu bì sẽ lộ ra bề mặt trợt đỏ. Bệnh thường xuất hiện ở kẽ ngón chân thứ ba và thứ tư, thường gây ngứa dữ dội.
Tổn thương thường nằm ở lòng bàn chân, bờ bàn chân và gót chân, biểu hiện bằng ban đỏ và sẩn.
ĐIỀU TRỊ
Nấm da tay và nấm da bàn chân chủ yếu được điều trị tại chỗ. Cần lựa chọn thuốc chống nấm phù hợp với từng thể bệnh.
Thể mụn nước: Có thể dùng thuốc dạng cồn, cồn acid benzoic phối hợp hoặc cồn Thổ cận bì phối hợp.
Thể ngâm trắng, trợt loét: Nếu dịch rỉ không nhiều, có thể dùng bột rắc chân hoặc bột giữ chân khô thoáng. Nếu dịch rỉ nhiều, có thể dùng dung dịch thuốc tím pha loãng 1:5.000.
Thể tăng sừng: Có thể dùng thuốc mỡ acid benzoic phối hợp.
TÀI LIỆU THAM KHẢO
Hỏi bệnh
Tôi bị nấm da bàn chân. Các ngón chân nổi những mụn nước nhỏ, bong da và hơi ngứa. Da ngón chân cái khô, cứng, dày và nứt rất nghiêm trọng. Ngón chân giữa hơi đỏ, có màu sẫm đen và hơi sưng. Tôi đã bôi Đạt Khắc Ninh nhưng hoàn toàn không thấy cải thiện. Da mu bàn chân trắng nhợt, có các chấm đỏ; sau khi bôi thuốc mỡ Phục Khang Đồng thì đã đỡ hơn.
Giáo sư Ngô Diên Phương, Chủ nhiệm khoa Da liễu, Giám đốc Viện nghiên cứu thuộc Bệnh viện trực thuộc Học viện Y khoa Đại học Thanh Đảo, hướng dẫn nghiên cứu sinh thạc sĩ:
Chào bạn, tôi đã nhận được thư. Tôi đồng ý với chẩn đoán nấm da bàn chân. Bạn nên đổi sang một loại thuốc chống nấm khác như Terbinafin, Môi Khắc, Phái Thụy Tùng hoặc nước thuốc trị nấm; các loại này đều có thể sử dụng.
NẤM DA TAY VÀ NẤM DA BÀN CHÂN
Nấm da tay, tinea manus, là tình trạng nhiễm nấm da xảy ra ở lòng bàn tay và kẽ ngón tay, đôi khi có thể lan đến mu bàn tay.
Nấm da bàn chân, tinea pedis, chủ yếu xảy ra ở lòng bàn chân và kẽ ngón chân, nhưng cũng có thể lan đến mu bàn chân và vùng mắt cá.
Đặc điểm lâm sàng
Tác nhân gây bệnh chủ yếu là Trichophyton rubrum.
Tổn thương gồm sẩn, sẩn mụn nước và mụn nước. Các tổn thương đã tồn tại lâu ngày thường có hiện tượng bong vảy và tăng sừng.
Bệnh thường diễn biến mạn tính, dễ kèm nhiễm khuẩn thứ phát hoặc chuyển thành dạng chàm. Trong giai đoạn cấp tính, nếu sử dụng thuốc không thích hợp hoặc thuốc có tính kích ứng quá mạnh, có thể gây phản ứng dị ứng do nấm.
Bệnh được chia thành thể mụn nước, thể ngâm trắng trợt loét và thể bong vảy tăng sừng.
Xét nghiệm
Có thể dễ dàng phát hiện nấm gây bệnh trong tổn thương.
Phòng ngừa và điều trị
NẤM DA BÀN CHÂN
Tên gọi khác: Cước khí, nấm bàn chân Hồng Kông, bàn chân vận động viên, thấp khí ở chân.
Khái quát bệnh lý
Nấm da bàn chân là tình trạng nhiễm nấm da xảy ra ở kẽ ngón chân, lòng bàn chân và gót chân.
Bệnh phổ biến trên toàn thế giới, đặc biệt thường gặp ở các vùng nhiệt đới và cận nhiệt đới. Tại Trung Quốc, tỷ lệ mắc nấm da bàn chân tương đối cao. Bệnh có quan hệ rõ rệt với độ tuổi thanh niên và trung niên.
Vận động viên và người lao động chân tay phải mang giày cao su hoặc ủng dài không thông thoáng trong thời gian dài khiến mồ hôi chân khó bay hơi, tạo nên môi trường ấm và ẩm thuận lợi cho nấm sinh trưởng.
Không thường xuyên rửa chân, thay tất hoặc sử dụng chung những đồ dùng như chậu rửa chân, dép, bồn tắm và khăn là những yếu tố quan trọng gây nhiễm nấm. Hồ bơi, nhà tắm và những nơi công cộng tương tự là những địa điểm thường làm bệnh lây lan.
Nấm da bàn chân cũng có thể trở thành nguồn lây sang chính cơ thể người bệnh, gây nấm da thân, nấm da bẹn, nấm da tay và nấm móng. Mức độ hoạt động của bệnh còn liên quan đến mùa, thường nặng hơn vào mùa hè và mùa thu.
ĐIỀU TRỊ
Trường hợp nhẹ có thể bôi thuốc mỡ acid benzoic phối hợp hoặc dung dịch acid salicylic phối hợp. Cũng có thể dùng kem acid undecylenic 10% hoặc thuốc mỡ lưu huỳnh 10%.
Nếu bệnh nặng, tổn thương lan rộng, da tăng sừng và dày rõ rệt, trước tiên cần sử dụng thuốc làm mềm và bong lớp sừng như thuốc mỡ acid salicylic – acid lactic, thuốc mỡ acid salicylic 10% hoặc thuốc mỡ urê 30–40%, có thể dùng theo phương pháp băng kín.
Sau khi lớp sừng mỏng đi, tiếp tục dùng các thuốc nhóm Imidazol như Clotrimazol 3%, Miconazol 2% hoặc Bifonazol 1%. Bôi ngoài da mỗi ngày 1–2 lần, thường phải dùng liên tục trên bốn tuần.
Nếu vùng tổn thương có dịch rỉ, nhiễm khuẩn hoặc mưng mủ, trước tiên cần kiểm soát nhiễm khuẩn và tạm ngừng thuốc chống nấm.
Có thể dùng kháng sinh phổ rộng đường toàn thân; tại chỗ ngâm rửa bằng dung dịch Berberin 1:2.000 hoặc dung dịch thuốc tím 1:8.000. Cũng có thể dùng Mã xỉ hiện, Sinh địa du, Hoàng bá và Minh phàn sắc nước để ngâm rửa, sau đó bôi thuốc kháng khuẩn như thuốc mỡ Rivanol phối hợp hoặc các loại hồ bôi kháng khuẩn khác.
Sau khi kiểm soát được nhiễm khuẩn mới tiếp tục bôi thuốc chống nấm.
Nếu kèm theo chàm hóa, trước tiên điều trị theo phương pháp dành cho bệnh chàm, đồng thời sử dụng thuốc kháng khuẩn. Sau khi tình trạng chàm được kiểm soát mới dùng thuốc chống nấm.
Nếu xuất hiện biến chứng như đơn độc hoặc viêm mô tế bào, cần sử dụng kháng sinh thích hợp.
PHÒNG NGỪA
Cần chú ý vệ sinh cá nhân, không dùng chung khăn mặt, khăn tắm hoặc các đồ dùng tương tự.
Chậu rửa chân cần được rửa thường xuyên; khăn phải được khử trùng định kỳ; tất cần được thay thường xuyên và cần điều trị chứng ra nhiều mồ hôi chân.
Có thể dùng bột rắc chân để giữ bàn chân khô ráo.
Các nhà tắm công cộng cần thực hiện tốt công tác vệ sinh và khử trùng. Dép, khăn tắm và những đồ dùng công cộng khác phải được khử trùng thường xuyên.
BIỂU HIỆN LÂM SÀNG
Nấm da bàn chân được chia thành bốn thể:
Đây là thể tương đối thường gặp, bệnh diễn biến mạn tính. Tổn thương thường xuất hiện ở kẽ ngón chân thứ tư và thứ năm, kẽ ngón thứ ba và thứ tư, cũng như mặt gấp phía dưới các ngón chân.
Bề mặt tổn thương phủ lớp biểu bì trắng, bị ngâm mềm và bong ra cùng với những mảnh vụn da, thường có mùi hôi khó chịu. Khi bóc lớp da mục sẽ lộ ra bề mặt đỏ, ẩm và trợt loét.
Tổn thương tái phát nhiều lần có thể lan ra xung quanh, chủ yếu lan đến lòng bàn chân và mu bàn chân. Người bệnh thường kèm ra nhiều mồ hôi chân. Vào mùa hè bệnh nặng rõ rệt, ngứa dữ dội; việc gãi thường xuyên dễ gây nhiễm khuẩn thứ phát.
Đây cũng là thể tương đối thường gặp. Da tăng sừng và dày lên, kèm viêm nhẹ, có màu đỏ sẫm, trên bề mặt phủ một lớp vảy trắng nhỏ mịn như bột.
Tổn thương chủ yếu xuất hiện ở lòng bàn chân, có thể kèm thể kẽ chân và nấm móng. Vào mùa đông thường xuất hiện các vết nứt, có thể gây nhiễm khuẩn thứ phát.
Bệnh kéo dài, triệu chứng tương đối nhẹ nhưng dai dẳng và khó điều trị.
Tổn thương thường xuất hiện ở lòng bàn chân và kẽ ngón chân. Ban da phần lớn là những mụn nước nhỏ, sẩn mụn nước hoặc thậm chí bọng nước lớn.
Tổn thương có thể tự khỏi nhưng dễ tái phát và cũng dễ kèm nhiễm khuẩn thứ phát.
Bệnh tiến triển nhanh. Ban đầu tổn thương là mụn nước và mụn mủ, có biểu hiện giống bệnh chàm; sau đó nhanh chóng kèm nhiễm khuẩn, mưng mủ và hình thành ổ loét.
Tổn thương thường gặp ở mặt gấp của ngón chân và phần trước lòng bàn chân.
Nấm da bàn chân thường có diễn biến kéo dài. Hình thái tổn thương rất đa dạng, nhưng phần lớn có một hình thái chiếm ưu thế, đồng thời kèm theo các dạng tổn thương khác; cũng có thể chuyển từ thể này sang thể khác.
CHẨN ĐOÁN
Khi tại kẽ ngón chân hoặc lòng bàn chân xuất hiện mụn nước, mụn mủ, bong vảy, ngâm trắng, trợt loét, tăng sừng, da dày hoặc nứt da thì cần nghĩ đến khả năng nấm da bàn chân.
Có thể xác định chẩn đoán khi xét nghiệm trực tiếp nấm cho kết quả dương tính.
CHẨN ĐOÁN PHÂN BIỆT
Nguyên bản không trình bày nội dung cụ thể ở mục này.
BIẾN CHỨNG
Nguyên bản không trình bày nội dung cụ thể ở mục này.
NGUYÊN NHÂN
Tại Trung Quốc, các tác nhân chủ yếu gây nấm da bàn chân gồm Trichophyton rubrum, Trichophyton mentagrophytes dạng thạch cao, Epidermophyton floccosum và Trichophyton rosaceum.
Ngoài ra còn có Trichophyton tonsurans, Microsporum ferrugineum, Microsporum lanosum và Microsporum gypseum. Nấm Candida cũng có thể gây tổn thương tương tự nấm da bàn chân.
NẤM DA BÀN CHÂN
Tinea pedis
NGUYÊN NHÂN VÀ CƠ CHẾ PHÁT BỆNH
Bệnh thường được gọi là “nấm bàn chân Hồng Kông” hoặc “thấp khí ở chân”.
Các tác nhân gây bệnh gồm Trichophyton rubrum, chiếm khoảng 64%; Trichophyton mentagrophytes dạng thạch cao, khoảng 13,5%; Epidermophyton floccosum, khoảng 11%; và Trichophyton rosaceum, khoảng 6,3%.
BIỂU HIỆN LÂM SÀNG
Tổn thương thường bắt đầu từ kẽ ngón chân thứ ba và thứ tư. Trên lâm sàng bệnh được chia thành năm thể:
Những mụn nước nhỏ mọc thành đám hoặc rải rác thường xuất hiện ở lòng bàn chân và bờ bàn chân. Thành mụn nước dày; sau khi khô tạo thành vảy hình vòng. Một số mụn nước có thể hợp lại thành bọng nước lớn.
Người bệnh cảm thấy ngứa. Do gãi, đôi khi tổn thương kèm nhiễm khuẩn, biểu hiện bằng đỏ, sưng, trợt loét và có dịch mủ, đồng thời có thể kèm viêm hạch bạch huyết và viêm mạch bạch huyết.
Thể này tương đối ít gặp. Ban đầu thường có viêm nhẹ và bong vảy ở kẽ ngón chân thứ ba và thứ tư, sau đó dần lan đến lòng bàn chân, bờ bàn chân và gót chân.
Tổn thương đang hoạt động biểu hiện bằng ban đỏ và sẩn, thậm chí có những đám mụn nước nhỏ.
Da ở kẽ ngón chân, đặc biệt là kẽ ngón thứ ba và thứ tư, bị ngâm trắng. Do đi lại và ma sát liên tục, lớp biểu bì bị bong ra, để lộ bề mặt đỏ, ẩm và trợt loét, kèm một ít dịch rỉ.
Da lòng bàn chân, bờ bàn chân hoặc gót chân thô ráp, tăng sừng và dày lên, vào mùa đông dễ nứt.
Tổn thương từ nấm da bàn chân lan lên mu bàn chân, biểu hiện bằng những tổn thương hình nửa vòng hoặc nhiều vòng, kèm ngứa.
ĐIỀU TRỊ
Điều trị toàn thân
Đối với nấm da bàn chân nặng, có thể cân nhắc dùng thuốc chống nấm toàn thân như Griseofulvin 0,2 g, ngày 3 lần, nhưng không nên kéo dài liệu trình quá mức.
Hoặc dùng Ketoconazol 200 mg, ngày 1 lần, thông thường không quá ba tuần.
Terbinafin 125 mg, ngày 2 lần. Sau khoảng 3–5 tuần, triệu chứng ngứa và ban đỏ có thể giảm; sau 6–8 tuần, bong vảy và tăng sừng có thể biến mất.
Điều trị tại chỗ
Nếu dịch rỉ rõ rệt, trước tiên dùng dung dịch acid boric 3% đắp ướt. Khi hết rỉ dịch, bôi dung dịch Resorcinol phối hợp tại chỗ.
Sau khi tình trạng viêm giảm, chuyển sang bôi thuốc mỡ acid salicylic phối hợp hoặc cồn Thổ cận bì phối hợp.
Có thể dùng thuốc mỡ acid salicylic phối hợp bôi tại chỗ hoặc ngâm bằng thuốc Trung dược.
Cũng có thể dùng tám vị Trung dược có tác dụng ức chế nấm tương đối tốt gồm Hoàng liên, Xạ can, Đinh hương, Thổ cận bì, Bán chi liên, Kim tiền thảo, Thân cân thảo và Long đởm, lấy lượng bằng nhau, tán bột và trộn đều. Mỗi lần dùng 50 g, thêm 100 ml dầu đậu, sắc rồi bỏ bã, lấy dầu bôi ngoài. Cũng có thể bôi kem Terbinafin 1%.
Có thể bôi cồn acid salicylic phối hợp, cồn Thổ cận bì phối hợp, kem Econazol 1%, kem Ketoconazol phối hợp hoặc cồn hay kem kháng nấm 1%.
Trong một báo cáo dùng gel Bifonazol 1% điều trị cho 329 trường hợp nấm da bàn chân, sau ba tuần có 276 trường hợp khỏi về lâm sàng và xét nghiệm nấm âm tính.
Có thể ngâm rửa bằng dung dịch thuốc tím 1:5.000 hoặc đắp ướt bằng dung dịch Rivanol 0,1%.
Nếu kèm sốt và sưng hạch bạch huyết, có thể sử dụng kháng sinh toàn thân.
NẤM DA BÀN CHÂN VÀ NẤM DA TAY
Tên gọi khác hoặc tên thường gọi
Nấm da bàn chân: Lở kẽ ngón chân, nấm bàn chân Hồng Kông, cước khí, thấp khí.
Nấm da tay: Nga chưởng phong.
TÌNH HÌNH PHÁT BỆNH
PHÂN THỂ LÂM SÀNG
Đây là thể hoạt động cấp tính hoặc bán cấp.
Tổn thương thường xuất hiện ở kẽ ngón chân, lòng bàn chân, lòng bàn tay và phần gần của các ngón tay.
Thành mụn nước dày và căng, dịch bên trong trong, có thể mọc rải rác hoặc tập trung thành đám.
Sau khi mụn nước khô sẽ xuất hiện bong vảy, thường có hình vòng hoặc dạng cổ áo.
Tổn thương dễ kèm nhiễm khuẩn thứ phát.
Đây là thể mạn tính và tương đối thường gặp.
Da thô ráp, khô, tăng sừng, dày lên và có vảy, có thể kèm theo nứt da.
Tổn thương thường xuất hiện ở lòng bàn chân, bờ bàn chân, gót chân, lòng bàn tay và các ngón tay.
Tổn thương thường gặp ở kẽ ngón chân, đặc biệt là kẽ ngón thứ ba và thứ tư, hoặc ở mặt gấp phía dưới ngón tay và ngón chân.
Tổn thương dễ kèm nhiễm khuẩn thứ phát.
ĐIỀU TRỊ NẤM DA BÀN CHÂN
Nguồn bài viết: Tạp chí phổ biến kiến thức y dược “Cầu y vấn dược – Khai quyển hữu ích”
Tác giả: Lý Yến
Đối với việc điều trị nấm da bàn chân, trong dân gian thường tồn tại hai quan niệm phổ biến.
Một số người cho rằng “cước khí” không phải là bệnh, không cần điều trị; thậm chí cho rằng mắc cước khí có thể tránh được những bệnh khác. Theo quan niệm này, thay vì để các cơ quan khác trong cơ thể mắc bệnh nghiêm trọng, thà cứ để cước khí tồn tại.
Có một người bệnh bị nhiễm nấm da bàn chân từ khi còn trẻ. Ban đầu ông rất coi trọng, kiên trì dùng thuốc và đã chữa khỏi hoàn toàn. Sau đó, nghe người lớn tuổi nói rằng mắc nấm da bàn chân có thể phòng tránh bệnh nặng, ông lại mượn giày thể thao của một người bạn đang mắc bệnh để đi, cố ý làm mình nhiễm nấm trở lại. Ông để bệnh kéo dài hơn hai mươi năm, đến khi xuất hiện nhiễm khuẩn nghiêm trọng mới đến bệnh viện khám.
Chuyện này nghe có vẻ buồn cười, nhưng thực tế quan niệm như vậy vẫn tồn tại trong suy nghĩ của không ít người.
Nấm da bàn chân do nhiễm nấm gây ra, không có mối liên hệ tất yếu với bệnh của các cơ quan khác trong cơ thể. Quan niệm cho rằng mắc nấm da bàn chân có thể phòng bệnh hoàn toàn không có căn cứ khoa học.
Ngược lại, trên lâm sàng thường gặp những trường hợp nấm da bàn chân gây ra các biến chứng khác, có trường hợp khá nghiêm trọng. Vì vậy, khi mắc nấm da bàn chân cần coi trọng và điều trị triệt để.
Một số người khác cho rằng nấm da bàn chân quá dai dẳng, không thể chữa khỏi. Trên thị trường có rất nhiều nước thuốc, thuốc mỡ, lót giày bảo vệ sức khỏe và các sản phẩm điều trị khác. Nhiều người bệnh cho biết họ đã thử nhiều sản phẩm, nhưng các sản phẩm này chỉ có tác dụng tạm thời, bệnh nhanh chóng tái phát và không thể điều trị tận gốc, vì vậy họ mất niềm tin vào khả năng chữa khỏi.
Thực ra, nếu lựa chọn thuốc hợp lý và áp dụng đúng phương pháp, nấm da bàn chân hoàn toàn có thể chữa khỏi.
Bệnh thường tái phát có thể do những yếu tố sau:
Người bệnh thích vận động, chân ra nhiều mồ hôi, thường xuyên mang giày thể thao hoặc các loại giày không thông thoáng, không thay tất thường xuyên. Nấm dễ sinh trưởng trong môi trường ẩm tối.
Dùng chung khăn mặt, khăn tắm, chậu rửa chân, dép và những đồ dùng khác với người khác có thể gây lây nhiễm chéo.
Người bệnh tự cho rằng triệu chứng đã đỡ nên ngừng thuốc, trong khi nấm chưa bị tiêu diệt hoàn toàn và tiếp tục sinh sôi với số lượng lớn. Vì vậy, ngay cả khi triệu chứng đã cải thiện, vẫn cần tiếp tục dùng thuốc thêm một thời gian.
Những bệnh như đái tháo đường làm sức đề kháng của cơ thể suy giảm. Trong trường hợp này cần ưu tiên kiểm soát bệnh toàn thân.
ĐIỀU TRỊ BẰNG THUỐC
Có nhiều loại thuốc chống nấm dùng ngoài da để điều trị nấm da bàn chân.
Các thuốc được bào chế tại bệnh viện như lưu huỳnh 10%, acid acetic băng 10%, acid benzoic và acid salicylic 6–12%, cũng như các thuốc nhóm Azol, đều có tác dụng chống nấm.
Ngoài ra còn có dung dịch trị nấm số 1, thuốc bùn trị nấm và những chế phẩm tương tự.
Các thuốc bán trên thị trường như thuốc mỡ Clotrimazol, kem Đạt Khắc Ninh, thuốc dùng một lần trị nấm chân, kem Lamisil, kem Phái Thụy Tùng, kem Môi Khắc và kem Phu Kỳ đều có hiệu quả tương đối tốt.
Tuy nhiên, không nên sử dụng một cách tùy tiện. Cần căn cứ vào biểu hiện lâm sàng của từng thể nấm da bàn chân để lựa chọn thuốc thích hợp.
Trường hợp kẽ ngón chân trợt loét và rỉ dịch
Không được dùng ngay thuốc có tính kích ứng mạnh, cũng không nên lập tức bôi kem hoặc thuốc mỡ. Trước tiên cần làm cho bề mặt tổn thương se lại và khô, sau đó mới dùng thuốc.
Có thể dùng dung dịch thuốc tím 1:8.000 đắp ướt. Khi pha, lấy một ít bột thuốc tím hòa với nước ấm cho đến khi nước có màu hồng nhạt. Không nên pha màu quá đậm vì nồng độ quá cao có thể ăn mòn da.
Sau đó bôi thuốc dạng dầu hoặc rắc bột thuốc. Khi da đã khô, chuyển sang dùng kem hoặc thuốc mỡ Lamisil, Môi Khắc hoặc thuốc chống nấm tương tự.
Trường hợp da dày, khô và bong tróc
Có thể lựa chọn thuốc mỡ.
Nếu da tăng sừng và dày nghiêm trọng, thuốc chống nấm khó thấm vào da. Trước tiên có thể dùng thuốc mỡ acid salicylic 10% hoặc thuốc mỡ acid benzoic phối hợp để làm mềm lớp sừng, sau đó mới dùng thuốc chống nấm.
Nếu da nứt rõ rệt, mỗi lần có thể ngâm chân bằng nước ấm để làm mềm lớp sừng, sau đó bôi thuốc mỡ dạng dầu tại chỗ, dùng màng nhựa bọc kín và quấn băng bên ngoài. Sau 24–48 giờ tháo bỏ rồi tiếp tục bôi thuốc chống nấm.
Trường hợp bàn chân nổi mụn nước nhỏ nhưng chưa vỡ
Có thể ngâm bằng dung dịch acid boric 3%, sau đó sử dụng thuốc chống nấm dạng thuốc mỡ, kem hoặc dung dịch.
Trường hợp kèm nhiễm khuẩn
Về nguyên tắc, trước tiên cần điều trị nhiễm khuẩn tại chỗ.
Có thể dùng dung dịch Furacilin hoặc dung dịch Berberin 1:2.000 đắp ướt.
Một phương pháp có hiệu quả khác là dùng nước sắc Trung dược để ngâm. Có thể dùng Mã xỉ hiện 30 g, Sinh địa du 30 g, Minh phàn 10 g; sắc nước rồi ngâm hoặc đắp ướt mỗi ngày 20–30 phút.
Sau khi kiểm soát được nhiễm khuẩn mới bôi thuốc chống nấm.
Nếu nhiễm khuẩn nghiêm trọng, có thể dùng kháng sinh đường uống như Cephalexin, Midecamycin hoặc Erythromycin theo chỉ định chuyên môn.
Đối với nấm da bàn chân dai dẳng, nếu không có chống chỉ định, có thể sử dụng thuốc chống nấm đường uống như Lamisil, Terbinafin; Sporanox, Itraconazol; hoặc Diflucan, Fluconazol.
Những thuốc uống này có hiệu quả tốt, nhưng cần chú ý các phản ứng bất lợi có thể xảy ra. Người có chức năng gan suy giảm không được tự ý sử dụng.
BA LOẠI VIÊM NGHIÊM TRỌNG DO NẤM DA BÀN CHÂN GÂY RA
Nguồn bài viết: Tạp chí phổ biến kiến thức y dược “Cầu y vấn dược – Khai quyển hữu ích”
Tác giả: Chu Chi Hải
Khi nói đến bệnh ở chân, điều đầu tiên mọi người thường nghĩ đến là nấm da bàn chân. Tuy nhiên, một số người lại cho rằng đây chỉ là bệnh nhỏ, không đáng quan tâm.
Người có quan niệm này thường xem nhẹ nấm da bàn chân, chỉ điều trị qua loa hoặc mặc cho bệnh tiếp tục phát triển.
Trên thực tế, ngoài việc gây nấm da tay, nấm móng, nấm da thân và nấm da bẹn, nấm da bàn chân còn có thể gây ba loại viêm nhiễm nghiêm trọng.
Viêm mạch bạch huyết cấp tính, thường gọi là “đường đỏ”, là loại viêm thứ nhất do nấm da bàn chân gây ra.
Nấm da bàn chân thể ngâm trắng trợt loét hoặc thể mụn nước, khi kèm nhiễm khuẩn và mưng mủ, rất dễ gây viêm mạch bạch huyết cấp.
Ban đầu, tại ổ nấm xuất hiện các triệu chứng đỏ, sưng, nóng và đau. Sau đó, một đường đỏ nhanh chóng chạy từ dưới lên trên, dọc theo cẳng chân hướng về vùng khoeo.
Các hạch bạch huyết lân cận sưng và đau khi ấn. Người bệnh có thể kèm nhiều triệu chứng toàn thân với mức độ khác nhau như sợ lạnh, sốt, đau đầu, chán ăn và mệt mỏi.
Nếu không điều trị kịp thời, đường đỏ có thể lan đến vùng bẹn.
Đơn độc là loại viêm thứ hai do nấm da bàn chân gây ra. Trung y gọi bệnh này là “lưu hỏa”.
Các y thư cổ đã sớm ghi chép về bệnh. Trong Chư bệnh nguyên hậu luận có đoạn nói đại ý rằng: “Đơn là trên cơ thể người đột nhiên xuất hiện màu đỏ như được bôi chu sa, vì vậy gọi là đơn; bệnh có thể phát ở tay chân hoặc ở bụng, phạm vi có thể lớn bằng lòng bàn tay.”
Nấm da bàn chân chủ yếu gây đơn độc ở cẳng chân. Bệnh thường khởi phát đột ngột. Người bệnh sợ lạnh, sốt, đau đầu, buồn nôn, nôn và đau khớp; thân nhiệt có thể tăng trên 39°C.
Đồng thời, hạch bạch huyết vùng bẹn bên bệnh sưng to, số lượng bạch cầu tăng.
Ở người bệnh nhẹ, vùng da mắt cá chân chỉ xuất hiện ban đỏ thoáng qua, sau đó bong vảy.
Ở người bệnh nặng, ban đầu da xuất hiện mảng đỏ kèm sưng. Do phù nề, vùng viêm hơi nhô cao hơn vùng da xung quanh, ranh giới với da lành rõ ràng và lan rộng nhanh. Khi sờ có cảm giác nóng, ấn đau rõ.
Một số người có ban đỏ và phù nề nghiêm trọng hoặc xuất hiện mụn nước. Một số ít có thể bị hoại tử mô tại chỗ.
Ở người cao tuổi hoặc cơ thể suy yếu, bệnh còn có thể gây viêm thận, áp-xe dưới da, nhiễm khuẩn huyết và các biến chứng khác.
Nếu đơn độc tái phát nhiều lần, các mạch bạch huyết có thể bị tắc nghẽn, gây phù bạch huyết mạn tính. Lâu ngày, mô sợi ở vùng bệnh tăng sinh, da trở nên dày, thô ráp và cứng, giống như da voi. Dân gian gọi tình trạng này là “chân voi”, y học gọi là phù chân voi.
Viêm mô tế bào là loại viêm thứ ba do nấm da bàn chân gây ra, thường xuất hiện tại vùng tổn thương nấm.
Mô mềm ở vùng nhiễm khuẩn tương đối lỏng lẻo, vì vậy viêm dễ lan ra xung quanh. Đôi khi viêm có thể lan đến các mô sâu hơn, thậm chí đến gân và xương.
Bề mặt da đỏ và sưng rõ, kèm phù ấn lõm. Trong trường hợp nghiêm trọng có thể xuất hiện mụn nước. Ranh giới giữa vùng bệnh và mô xung quanh không rõ ràng; trung tâm tổn thương thường xảy ra hoại tử.
Đối với viêm mô tế bào ở sâu, biểu hiện đỏ và sưng tại chỗ có thể không rõ; chỉ thấy phù tại chỗ và đau khi ấn sâu.
Người bệnh có những triệu chứng toàn thân gần giống viêm mạch bạch huyết và đơn độc như sốt cao, sợ lạnh, mệt mỏi và chán ăn.
Viêm mô tế bào thường hình thành áp-xe sau khoảng một tuần, đồng thời có thể gây viêm mạch bạch huyết hoặc nhiễm khuẩn huyết.
Ba loại viêm do nấm da bàn chân gây ra nêu trên hoàn toàn không phải là bệnh nhẹ. Trường hợp nặng có thể đe dọa tính mạng.
Để phòng ngừa ba loại viêm này, phương pháp tốt nhất là phòng bệnh và điều trị triệt để nấm da bàn chân.
Khi phát hiện bất kỳ biểu hiện viêm nào nêu trên, cần nhanh chóng đi khám để kiểm soát tình trạng viêm càng sớm càng tốt.
BÀN VỀ NGUYÊN NHÂN GÂY NẤM DA BÀN CHÂN
Nguồn bài viết: Tạp chí phổ biến kiến thức y dược “Cầu y vấn dược – Khai quyển hữu ích”
Tác giả: Lạc Trọng Trí
Nấm da bàn chân chính là bệnh thường được gọi là “cước khí”. Đây là bệnh ngoài da ở bàn chân do nấm da gây bệnh gây ra.
Bệnh có tính lây truyền, thường xuất hiện ở một bên chân; nếu kéo dài, cả hai bàn chân đều có thể mắc bệnh.
Nấm da bàn chân phổ biến trên toàn thế giới, đặc biệt thường gặp ở các vùng nhiệt đới và cận nhiệt đới. Tại Trung Quốc, tỷ lệ mắc bệnh cũng tương đối cao.
Theo một cuộc khảo sát trên 110.000 người tại Thượng Hải năm 1975, tỷ lệ mắc nấm da bàn chân là 36,76%. Tại miền Nam Trung Quốc, tỷ lệ có thể đạt 50–60%. Trong một số nghề nghiệp hoặc tập thể, tỷ lệ thậm chí có thể lên đến 80–100%.
Tại sao tỷ lệ mắc nấm da bàn chân lại cao như vậy? Điều này cần được xem xét từ các nguyên nhân hình thành bệnh.
Lòng bàn chân và kẽ ngón chân không có tuyến bã nhờn, vì vậy thiếu các acid béo có khả năng ức chế nấm sợi trên da. Chức năng bảo vệ sinh lý của những vùng này tương đối yếu.
Trong khi đó, tuyến mồ hôi ở những vị trí này lại rất phong phú, lượng mồ hôi tiết ra nhiều. Không khí khó lưu thông khiến khu vực tại chỗ luôn ẩm và ấm, thuận lợi cho nấm sợi phát triển.
Ngoài ra, lớp sừng ở lòng bàn chân tương đối dày. Chất keratin trong lớp sừng là nguồn dinh dưỡng phong phú cho nấm, tạo điều kiện thuận lợi để nấm sinh trưởng.
Ra nhiều mồ hôi ở lòng bàn chân là một yếu tố thúc đẩy quan trọng của nấm da bàn chân.
Trong thời kỳ mang thai, do thay đổi nội tiết, khả năng chống nhiễm nấm của da ở phụ nữ giảm nên dễ mắc bệnh.
Người béo phì có kẽ ngón chân thường xuyên ẩm và bị mồ hôi ngâm mềm nên cũng dễ mắc nấm da bàn chân.
Chấn thương da bàn chân làm phá vỡ chức năng bảo vệ của da cũng là một yếu tố gây bệnh.
Người mắc đái tháo đường thiếu insulin, dẫn đến rối loạn chuyển hóa. Hàm lượng đường trong da tăng làm sức đề kháng suy giảm, vì vậy cũng dễ mắc nấm da bàn chân.
Lạm dụng kháng sinh, sử dụng corticosteroid hoặc thuốc ức chế miễn dịch trong thời gian dài có thể làm mất cân bằng hệ vi sinh bình thường trên da, từ đó làm tăng tính cảm thụ đối với nấm.
Sự phát bệnh còn liên quan đến thói quen sinh hoạt. Thói quen vệ sinh không tốt thường làm tỷ lệ mắc bệnh tăng lên.
Một số người không chú ý vệ sinh bàn chân, giày và tất, tạo môi trường thuận lợi cho nấm sinh sôi.
Một số người còn thường dùng tay cạy hoặc ngoáy các kẽ ngón chân, làm tổn thương da bàn chân và khiến nấm lan rộng.
Nếu trong gia đình có người mắc nấm da bàn chân nhưng không được điều trị thích hợp, lại tiếp xúc gần với người khác, bệnh có thể lây truyền qua tiếp xúc.
Đồ dùng của người mắc bệnh nếu không được khử trùng, người khỏe mạnh sử dụng lại cũng dễ bị nhiễm nấm.
Cần nói thêm rằng trong sinh hoạt hằng ngày, nhiều người thường nhầm lẫn giữa “cước khí” và “bệnh cước khí”, nhưng thực tế đây là hai bệnh hoàn toàn khác nhau.
“Cước khí” là nấm da bàn chân, còn “bệnh cước khí” là bệnh do thiếu vitamin B1.
Sau khi phát bệnh, người thiếu vitamin B1 có thể xuất hiện viêm nhiều dây thần kinh và liệt cơ ở tứ chi. Vùng mắt cá chân thường bị phù và đỏ da với mức độ khác nhau.
Những biểu hiện này liên quan đến sự giãn các mạch máu nhỏ do tác động thần kinh – mạch máu hoặc do các chất có tính acid kích thích. Tình trạng phù có thể dần nặng hơn, lan đến đầu gối, đùi, thậm chí toàn thân.
Do triệu chứng chủ yếu biểu hiện ở hai chân nên bệnh được gọi là “bệnh cước khí”.
Có thể thấy, “cước khí”, tức nấm da bàn chân, không phải là “bệnh cước khí” do thiếu vitamin B1.
NGHIỆM PHƯƠNG TRUNG DƯỢC ĐIỀU TRỊ NẤM DA BÀN CHÂN
Nguồn bài viết: Tạp chí phổ biến kiến thức y dược “Cầu y vấn dược – Khai quyển hữu ích”
Tác giả: Trịnh Hân
Trong Trung y, nấm da bàn chân được gọi là cước thấp khí hoặc xú điền loa.
Bệnh được cho là do thấp nhiệt uất chứa bên trong, lại bị ngoại phong xâm nhập, khiến phong thấp uất ở cơ phu; hoặc do thấp nhiệt bên trong thịnh rồi phát ra ngoài da.
Phép điều trị chủ yếu là thanh nhiệt táo thấp, khu phong sát trùng.
Căn cứ vào biểu hiện lâm sàng của nấm da bàn chân, cần lựa chọn phương pháp điều trị ngoài da khác nhau.
Dùng Khổ sâm 30 g; Hoàng bá, Địa phu tử, Bạch tiên bì mỗi vị 20 g; Khô phàn 15 g. Sắc nước, bỏ bã, để nguội ấm rồi ngâm vùng bệnh, mỗi lần 30 phút. Sau khi lau khô, rắc một ít Thanh đại tán, ngày 2 lần.
Dùng phương trên, thêm Bồ công anh 30 g và Mã xỉ hiện 30 g. Sắc nước, bỏ bã, để nguội ấm rồi ngâm vùng bệnh, mỗi lần 30 phút. Phương pháp này có thể giúp giảm đau.
Dùng Lục nhất tán gồm Hoạt thạch 6 g và Sinh cam thảo 1 g, tán bột; trộn với bột Khô phàn theo tỷ lệ 7:1.
Sau khi rửa chân bằng nước ấm, rắc bột thuốc vào kẽ ngón chân, ngày 2 lần.
Dùng phương ngâm giấm: Khổ sâm, Đại toán và Thạch lựu bì mỗi vị 10 g; Sử quân tử và Uy linh tiên mỗi vị 20 g.
Ngâm các vị thuốc trong 1 kg giấm lâu năm trong 48 giờ, sau đó đun sôi bằng lửa nhỏ, bỏ bã và để nguội dùng dần.
Trước khi đi ngủ, ngâm vùng bệnh 20–30 phút, mỗi ngày 1 lần, bảy ngày là một liệu trình.
Sau khi ngâm bằng phương giấm nói trên, bôi thêm Hùng hoàng cao hoặc Thiên ma cao để hoạt huyết và nuôi dưỡng da.
Theo lý luận Trung y, nấm da bàn chân tuy là bệnh ngoài da nhưng có quan hệ mật thiết với ngũ tạng lục phủ, kinh lạc và các cơ quan trong cơ thể, vì vậy không thể xem nhẹ phương pháp điều trị bên trong.
Trong khi sử dụng phương pháp điều trị ngoài da, có thể phối hợp thang thuốc Trung dược.
Phương thuốc: Kim ngân đằng, Khổ sâm mỗi vị 30 g; Hoàng cầm, Bạch tiên bì, Địa phu tử, Xà sàng tử mỗi vị 15 g; Hoàng bá, Thục đại hoàng, Thương truật mỗi vị 10 g.
Mỗi ngày dùng một thang, sắc hai lần, mỗi lần đun khoảng 30 phút, chia uống hai lần. Phương có tác dụng thanh giải thấp tà và nhiệt độc, nhằm điều trị căn nguyên của bệnh.
NỨT DA VÀ NẤM DA BÀN CHÂN
Nguồn bài viết: Tạp chí phổ biến kiến thức y dược “Cầu y vấn dược – Khai quyển hữu ích”
Tác giả: Kỳ Ngọc Thanh
Nứt da chính là tình trạng thường được gọi là “nứt miệng da”. Bệnh thường xảy ra ở lòng bàn tay, lòng bàn chân, môi, khóe miệng, vùng xung quanh hậu môn và một số vị trí khác.
Tình trạng này hình thành do da khô hoặc viêm mạn tính làm tính đàn hồi của da suy giảm hoặc mất đi, cộng thêm tác động của ngoại lực.
Nứt da thường gặp nhất ở bàn chân. Có lúc vết nứt chạy theo đường vân da; vết ngắn dưới 1 cm, vết dài có thể vượt quá 2 cm.
Vết nứt sâu có thể gây chảy máu nhẹ và đau.
Tình trạng này thường gặp vào mùa lạnh, ở người làm việc ngoài trời hoặc thường xuyên tiếp xúc với các chất hòa tan chất béo hay hút nước.
TẠI SAO BÀN CHÂN DỄ BỊ NỨT DA?
Điều này có quan hệ mật thiết với đặc điểm giải phẫu của da bàn chân và tác động của các yếu tố bên ngoài.
Lớp sừng ở gót chân vốn đã tương đối dày, lại thường xuyên phải chịu lực nên dễ nứt.
Da ở lòng bàn chân không có nang lông và tuyến bã nhờn. Vào mùa đông khô hanh, do thiếu lớp chất nhờn bảo vệ nên da dễ nứt.
Các kích thích cơ học như ma sát, chèn ép hoặc chấn thương cũng có thể thúc đẩy bệnh phát sinh.
Nhiều bệnh ngoài da có thể gây nứt da, chẳng hạn nấm da tay chân, chàm mạn tính, chứng tăng sừng lòng bàn tay bàn chân, bệnh vảy cá và cước lạnh.
Trong nấm da bàn chân có một thể gọi là thể tăng sừng bong vảy, cũng được gọi là nấm da bàn chân thể khô. Đây là tình trạng nhiễm nấm mạn tính.
Bệnh biểu hiện bằng da ở lòng bàn chân, đáy chân và hai bên bàn chân trở nên thô ráp, dày và cứng. Trên bề mặt có vảy dạng vảy cá hoặc những mảng vảy lớn. Các đường vân da trở nên rộng và sâu.
Vào mùa đông lạnh và khô, da xuất hiện các vết nứt, có thể chảy máu hoặc kèm nhiễm khuẩn thứ phát. Trường hợp nghiêm trọng gây đau dữ dội và cản trở việc đi lại.
Ngoài nấm da bàn chân, còn có một bệnh ngoài da thường gây nứt da gọi là chàm nứt nẻ, thường xuất hiện ở tay và chân.
Bệnh có liên quan đến dị ứng, hình thành do tiếp xúc với các chất kích thích trong sinh hoạt như chất tẩy rửa, xà phòng, thuốc nhuộm, sơn và ánh nắng.
Trong quá trình mắc bệnh, những yếu tố như sang chấn tinh thần và rối loạn nội tiết có thể làm tình trạng nặng thêm.
Đối với chàm nứt nẻ ở bàn chân, tổn thương thường xuất hiện ở mặt lòng đầu ngón chân, có thể lan đến mu bàn chân và mắt cá chân, cũng có thể xuất hiện ở lòng bàn chân.
Biểu hiện chủ yếu là da dày, thô ráp và ngứa dữ dội, sau đó xuất hiện vết nứt và đau. Đôi khi tổn thương còn ảnh hưởng đến móng chân.
Nấm da bàn chân thể tăng sừng và chàm nứt nẻ ở bàn chân có nhiều điểm tương tự nhau, đôi khi tương đối khó phân biệt. Có thể căn cứ vào xét nghiệm tìm nấm để chẩn đoán phân biệt. Tuy nhiên, cũng có trường hợp hai bệnh cùng xuất hiện.
Một số người bị khô nứt tay chân, đặc biệt là người cao tuổi, thường thích dùng băng dính y tế quấn kín vùng nứt. Thực ra đây không phải là phương pháp điều trị khoa học.
Khi xuất hiện nứt tay hoặc nứt chân, nên đến khoa Da liễu của cơ sở y tế chính quy để kiểm tra. Khi cần thiết, nên làm xét nghiệm nấm để xác định chính xác nguyên nhân và điều trị phù hợp.
Có thể phối hợp sử dụng các thuốc bôi ngoài da như thuốc mỡ urê để hỗ trợ điều trị.