Khái niệm
Trong Trung y, kiết lỵ thuộc phạm vi Lỵ tật 痢疾, còn gọi là Trệ hạ 滞下. Bệnh thường biểu hiện bằng:
Đại tiện nhiều lần.
Đau quặn bụng.
Lý cấp hậu trọng, tức mót rặn, vừa đi xong vẫn muốn đi tiếp.
Phân ít, có chất nhầy.
Phân lẫn máu hoặc mủ.
Hậu môn nóng rát hoặc đau.
Trong y học hiện đại, hội chứng này có thể gặp ở lỵ trực khuẩn do Shigella, lỵ amíp, một số nhiễm khuẩn đường ruột, viêm đại tràng và bệnh viêm ruột. Tuy nhiên, không phải mọi trường hợp phân nhầy máu đều là “kiết lỵ” theo nghĩa nhiễm Shigella.
Tiêu chảy có máu cần được nhân viên y tế đánh giá, đặc biệt khi kéo dài, đau bụng nhiều, sốt hoặc có dấu hiệu mất nước. Bù nước bằng dung dịch điện giải đường uống là biện pháp nền tảng trong điều trị tiêu chảy; người bệnh mất nước nặng, không uống được hoặc có dấu hiệu sốc cần truyền dịch tại bệnh viện. (Tổ Chức Y Tế Thế Giới)
BA CÁCH DÂN GIAN CẦN ĐÁNH GIÁ LẠI
Ngậm gừng hoặc uống trà
Gừng có thể giúp giảm cảm giác buồn nôn hoặc lạnh bụng ở một số người, nhưng không có tác dụng loại bỏ Shigella, amíp hoặc các vi khuẩn gây tiêu chảy xâm lấn.
Trà đặc còn có thể làm người bệnh khó uống đủ nước, gây kích ứng dạ dày hoặc ảnh hưởng giấc ngủ.
Không dùng gừng và trà để thay thế:
Dung dịch bù nước điện giải.
Xét nghiệm phân.
Kháng sinh khi có chỉ định.
Điều trị cấp cứu khi có sốt cao, phân máu hoặc mất nước.
Thụt dung dịch tỏi
Không được tự pha dung dịch tỏi rồi thụt vào trực tràng.
Tỏi có tính kích ứng mạnh, có thể gây:
Bỏng niêm mạc.
Đau rát dữ dội.
Chảy máu.
Viêm trực tràng.
Nhiễm trùng.
Tổn thương hậu môn.
Rối loạn nước và điện giải nếu thụt nhiều lần.
Thụt tỏi không phải phương pháp điều trị chuẩn cho lỵ trực khuẩn, lỵ amíp, viêm ruột hoặc giun kim.
Chườm muối nóng
Chườm ấm nhẹ có thể giúp người bệnh thư giãn và giảm đau bụng do co thắt hoặc Hàn thấp trong một số trường hợp.
Tuy nhiên, không được chườm nóng khi:
Đau bụng dữ dội chưa rõ nguyên nhân.
Sốt cao.
Bụng cứng hoặc chướng tăng.
Nôn liên tục.
Phân ra nhiều máu.
Trẻ nhỏ không thể tự báo nóng.
Da mất cảm giác.
Nghi viêm ruột thừa, tắc ruột hoặc thủng ruột.
Muối rang quá nóng có thể gây bỏng. Chườm ấm chỉ là biện pháp hỗ trợ, không chữa được nhiễm trùng đường ruột.
NGUYÊN NHÂN VÀ BỆNH CƠ THEO TRUNG Y
Ngoại cảm thời tà
Kiết lỵ thường phát vào mùa hạ và mùa thu, khi thử nhiệt, thấp khí và dịch độc dễ xâm nhập.
Thấp nhiệt uẩn kết ở Đại trường làm khí huyết bị trở ngại. Thấp làm khí trệ, nhiệt làm tổn thương huyết và trường lạc, nên xuất hiện đau bụng, mót rặn, phân nhầy và máu.
Theo lý luận cổ:
Nhiệt nhiều thì tổn thương huyết, phân thiên về đỏ.
Thấp nhiều thì tổn thương khí, phân thiên về trắng hoặc nhầy đục.
Khí huyết đều tổn thương thì đỏ và trắng lẫn nhau.
Tuy nhiên, màu phân chỉ là một phần của biện chứng. Không thể căn cứ phân đỏ hay trắng để xác định chính xác vi khuẩn, mức độ bệnh hoặc nhu cầu dùng kháng sinh.
Hàn thấp xâm nhập
Ăn uống sống lạnh, gặp lạnh hoặc Tỳ dương vốn yếu có thể làm Hàn thấp ngăn trở Trung tiêu và Đại trường.
Khí cơ không thông thì đau bụng, phân nhầy đục, mót rặn; người bệnh thường sợ lạnh, thích ấm, ăn kém và lưỡi có rêu trắng nhờn.
Ăn uống không sạch
Thực phẩm ôi thiu, nước nhiễm bẩn và thức ăn không được bảo quản đúng cách có thể đưa vi sinh vật gây bệnh vào đường ruột.
Theo Trung y, thức ăn bất khiết làm thấp nhiệt, thực tích và độc tà kết ở trường vị, khiến khí huyết ngưng trệ và sinh mủ máu.
Ăn nhiều béo ngọt và rượu
Ăn nhiều thức ăn béo ngậy, cay nóng hoặc uống rượu thường xuyên có thể làm thấp nhiệt tích lại ở Tỳ Vị.
Thấp nhiệt lâu ngày làm tổn thương tân dịch, từ Thực chứng chuyển dần sang Âm hư hoặc Hư Thực xen lẫn.
Tình chí không điều hòa
Can khí uất có thể phạm Tỳ, làm khí cơ Trung tiêu bị đình trệ. Lo nghĩ kéo dài làm Tỳ khí suy, vận hóa thất thường.
Tình chí không phải nguyên nhân chính của lỵ nhiễm khuẩn cấp, nhưng có thể làm triệu chứng đường ruột kéo dài, tái phát hoặc nặng hơn ở người vốn có bệnh mạn tính.
Tỳ Thận hư
Lỵ kéo dài làm Tỳ Vị tổn thương, ăn uống và hấp thu kém. Bệnh lâu có thể ảnh hưởng Thận dương hoặc Thận âm.
Ngược lại, người vốn Tỳ Thận hư yếu khi mắc nhiễm trùng đường ruột thường hồi phục chậm, dễ tiêu chảy kéo dài và suy nhược.
Cấm khẩu lỵ
Cấm khẩu lỵ chỉ tình trạng người mắc lỵ không ăn uống được, ăn vào nôn hoặc nôn liên tục.
Theo Trung y, có thể do:
Thấp nhiệt và độc tà xông ngược lên Vị.
Vị khí không giáng.
Tỳ Vị suy yếu sau bệnh kéo dài.
Trong thực tế, người tiêu chảy máu kèm nôn liên tục, không uống được hoặc tiểu ít có nguy cơ mất nước nặng, cần nhập viện. Không nên chỉ sắc thuốc hòa Vị tại nhà.
Hưu tức lỵ
Hưu tức lỵ là tình trạng bệnh lúc phát, lúc giảm, kéo dài hoặc tái diễn.
Có thể tương ứng với:
Nhiễm trùng chưa được điều trị dứt điểm.
Lỵ amíp mạn.
Bệnh viêm ruột.
Viêm đại tràng mạn.
Hội chứng ruột sau nhiễm trùng.
Tác dụng của thuốc.
Rối loạn hấp thu.
Không nên mặc nhiên xem mọi trường hợp tái phát là “chính hư tà lưu”. Người bệnh cần được xét nghiệm và đánh giá lại nguyên nhân.
BIỆN CHỨNG CẦN CHÚ Ý ĐIỀU GÌ?
Phân biệt Hàn và Nhiệt
Thiên về Nhiệt
Sốt.
Khát.
Hậu môn nóng rát.
Phân đỏ hoặc nhầy máu.
Mùi hôi rõ.
Tiểu vàng.
Lưỡi đỏ, rêu vàng nhờn.
Mạch hoạt sác.
Thiên về Hàn
Sợ lạnh.
Đau bụng thích ấm và xoa.
Phân nhầy trắng hoặc loãng.
Miệng nhạt, không khát.
Tay chân lạnh.
Lưỡi nhạt, rêu trắng nhờn.
Mạch nhu hoãn hoặc trầm trì.
Không nên căn cứ một biểu hiện riêng lẻ. Người cao tuổi hoặc suy giảm miễn dịch có thể mắc nhiễm trùng nặng nhưng không sốt cao.
Phân biệt Hư và Thực
Thực chứng
Khởi phát tương đối nhanh.
Đau bụng rõ.
Ấn đau hoặc đầy tức.
Mót rặn mạnh.
Sốt.
Rêu lưỡi dày nhờn.
Mạch có lực.
Hư chứng
Bệnh kéo dài.
Người mệt, ăn ít.
Đau âm ỉ.
Thích xoa.
Phân lỏng hoặc nhầy kéo dài.
Lưỡi nhạt.
Mạch yếu.
Hư Thực xen lẫn rất thường gặp ở người mắc bệnh lâu ngày. Có thể vừa có suy nhược vừa còn nhiễm trùng, viêm hoặc phân tích tụ.
Màu sắc của phân
Phân nhầy trắng không đồng nghĩa chắc chắn là Hàn.
Phân đỏ không đồng nghĩa chắc chắn là Nhiệt.
Phân tím sẫm không đủ để chẩn đoán ứ huyết.
Phân máu tươi, đỏ sẫm hoặc đen đều cần được đánh giá theo y học hiện đại để xác định vị trí và mức độ chảy máu.
Lý cấp hậu trọng
Mót rặn là biểu hiện thường gặp khi trực tràng và đại tràng bị viêm.
Shigella có thể gây tiêu chảy phân nước hoặc phân máu, đau bụng, sốt, mệt mỏi và cảm giác mót rặn dù ruột gần như đã rỗng. (CDC)
Không thể căn cứ việc đi xong có đỡ hay không để phân biệt chắc chắn ngoại tà, Hư chứng hoặc tích trệ.
Đánh giá tà chính và mức độ nặng
Các dấu hiệu nguy hiểm gồm:
Đi ngoài liên tục.
Phân có nhiều máu.
Sốt cao.
Khát nhiều.
Nôn liên tục.
Lừ đừ hoặc rối loạn ý thức.
Co giật.
Tay chân lạnh.
Da tái.
Mạch nhanh, yếu.
Huyết áp giảm.
Tiểu ít.
Không uống được.
Đây là dấu hiệu cần cấp cứu, không phải chỉ là biểu hiện “tà độc nhập Doanh Huyết” hoặc “dương khí sắp thoát”.
NGUYÊN TẮC ĐIỀU TRỊ
Điều trị nguyên nhân và bù nước là nền tảng
Trung y có thể được dùng phối hợp trong một số trường hợp ổn định, nhưng trước hết cần:
Đánh giá mất nước.
Bù nước và điện giải.
Xác định có phân máu hay không.
Xét nghiệm phân khi cần.
Dùng kháng sinh đúng chỉ định.
Theo dõi biến chứng.
Phần lớn người mắc Shigella nhẹ có thể hồi phục mà không cần kháng sinh, nhưng người bệnh nặng hoặc thuộc nhóm nguy cơ có thể cần thuốc. Việc lựa chọn phải căn cứ kết quả xét nghiệm và tình hình kháng thuốc; nếu sau khi dùng kháng sinh vài ngày không cải thiện, cần đánh giá lại độ nhạy của vi khuẩn. (CDC)
Không tự dùng thuốc cầm tiêu chảy
Không tự dùng thuốc làm giảm nhu động khi:
Sốt cao.
Phân có máu.
Đau bụng dữ dội.
Bụng chướng.
Nghi nhiễm khuẩn xâm lấn.
CDC khuyến cáo không dùng thuốc chống tiêu chảy khi sốt cao hoặc tiêu chảy có máu. (CDC)
Trục tích, điều khí, hòa huyết
Theo Trung y, Đại trường bị thấp nhiệt, dịch độc hoặc thực tích làm khí huyết trở trệ. Vì vậy, trong Thực chứng có thể vận dụng thanh nhiệt, hóa thấp, điều khí và hòa huyết.
Tuy nhiên, “trục tích” không đồng nghĩa với dùng thuốc xổ mạnh. Đại hoàng, Binh lang và các thuốc công hạ có thể làm tiêu chảy, mất nước và đau bụng nặng hơn nếu sử dụng không đúng.
Không cố sáp quá sớm
Trong lỵ cấp còn sốt, đau bụng, mót rặn và phân nhầy máu, không nên tự dùng các thuốc cố sáp như Anh túc xác hoặc Kha tử để cầm tiêu chảy.
Việc làm giảm đại tiện quá sớm có thể che lấp diễn biến và giữ vi khuẩn, chất viêm trong đường ruột lâu hơn.
Bảo vệ Vị khí
Người bệnh cần được tiếp tục ăn khi có thể, chia thành bữa nhỏ và dùng thức ăn dễ dung nạp.
Không nên bắt nhịn ăn kéo dài.
Trẻ đang bú mẹ nên tiếp tục bú.
Người nôn nhiều nên uống ORS từng ngụm nhỏ và thường xuyên.
KIẾT LỴ CẤP THEO BIỆN CHỨNG TRUNG Y
Thể thấp nhiệt lỵ
Triệu chứng
Đau bụng.
Lý cấp hậu trọng.
Phân nhầy lẫn đỏ trắng.
Hậu môn nóng rát.
Sốt.
Khát.
Tiểu ít, vàng.
Lưỡi đỏ, rêu vàng nhờn.
Mạch hoạt sác.
Chứng cơ
Thấp nhiệt uẩn kết Đại trường, khí huyết bị trở trệ, trường lạc tổn thương.
Phép trị
Thanh nhiệt, hóa thấp, giải độc, điều khí, hòa huyết.
Phương thang tham khảo
Thược dược thang gia giảm thường được dùng trong lý luận Trung y.
Các vị thường được đề cập gồm Xích thược, Đương quy, Hoàng liên, Hoàng cầm, Mộc hương, Binh lang, Cam thảo và một lượng Đại hoàng tùy chứng.
Chú ý
Không tự dùng công thức và liều cố định.
Đại hoàng và Binh lang có tác dụng công hạ, phá khí, không phù hợp cho người mất nước, trẻ nhỏ, thai phụ hoặc người suy yếu.
Người phân máu, sốt và đau bụng cần được khám để xác định có Shigella, Campylobacter, Salmonella, E. coli hoặc nguyên nhân khác.
Thấp nhiệt kèm biểu chứng
Y thư cổ dùng Hoạt nhân bại độc tán hoặc Cát căn cầm liên thang khi có sốt, sợ lạnh, đau mình và biểu lý đồng bệnh.
Hiện nay, sốt và đau mình trong tiêu chảy có thể là dấu hiệu nhiễm trùng toàn thân. Không nên tự dùng thuốc “giải biểu” mà bỏ qua đánh giá mất nước và nhiễm khuẩn.
Nhiệt nhiều hơn thấp
Biểu hiện:
Phân đỏ nhiều.
Hậu môn nóng.
Khát.
Lưỡi đỏ.
Rêu vàng.
Phép trị thiên về thanh nhiệt, lương huyết và giải độc.
Bạch đầu ông thang có thể được cân nhắc theo biện chứng bởi thầy thuốc, nhưng không thay thế điều trị nhiễm khuẩn.
Thấp nhiều hơn nhiệt
Biểu hiện:
Phân nhầy nhiều.
Bụng đầy.
Người nặng nề.
Rêu lưỡi dày nhờn.
Phép trị thiên về hóa thấp, điều khí và kiện Tỳ.
Thể dịch độc lỵ
Triệu chứng
Khởi phát nhanh.
Sốt cao.
Đau bụng dữ dội.
Mót rặn nặng.
Phân nhiều máu hoặc mủ máu.
Khát.
Bứt rứt.
Có thể lơ mơ, nói sảng hoặc co giật.
Da tái lạnh hoặc huyết áp giảm khi có sốc.
Chứng cơ
Nhiệt độc và dịch tà xâm nhập sâu, làm tổn thương khí huyết và thần minh.
Phép trị theo lý luận Trung y
Thanh nhiệt giải độc, lương huyết.
Xử trí thực tế
Đây là tình trạng cần cấp cứu tại bệnh viện.
Không được tự dùng:
Tử tuyết đan.
Chí bảo đan.
Sừng linh dương.
Thủy ngưu giác.
Phụ tử.
Sâm phụ thang.
Các thuốc khai khiếu hoặc hồi dương.
Những thuốc này không thay thế:
Đường truyền tĩnh mạch.
Điện giải.
Kháng sinh khi có chỉ định.
Điều trị co giật.
Thuốc vận mạch.
Theo dõi hồi sức.
Trẻ nhỏ mắc Shigella đôi khi có co giật, thường liên quan sốt cao, hạ đường huyết hoặc rối loạn điện giải. (CDC)
Thể Hàn thấp lỵ
Triệu chứng
Phân nhầy trắng nhiều hơn đỏ.
Đau bụng co rút.
Thích ấm.
Ăn kém.
Bụng đầy.
Đầu và người nặng nề.
Không khát.
Lưỡi nhạt, rêu trắng nhờn.
Mạch nhu hoãn.
Chứng cơ
Hàn thấp ngăn trở Trung tiêu và Đại trường, khí cơ không thông.
Phép trị
Ôn Trung, hóa thấp, điều khí.
Phương thang tham khảo
Vị linh thang gia giảm có thể được cân nhắc khi biện chứng phù hợp.
Chú ý
Phân nhầy máu dù thiên về Hàn vẫn có thể do nhiễm khuẩn. Không nên vì người bệnh sợ lạnh hoặc lưỡi nhạt mà bỏ qua xét nghiệm và điều trị y tế.
KIẾT LỴ MẠN THEO BIỆN CHỨNG TRUNG Y
Hưu tức lỵ
Triệu chứng
Bệnh lúc phát, lúc giảm.
Phân nhầy hoặc lẫn máu tái diễn.
Đau bụng và mót rặn khi phát.
Ăn ít.
Mệt mỏi.
Sợ lạnh.
Lưỡi nhạt, rêu nhờn.
Mạch nhu hoặc hư.
Chứng cơ
Chính khí suy, tà khí lưu luyến; Tỳ Vị hư kèm thấp trệ hoặc dư tà.
Phép trị
Phù chính, khử tà, kiện Tỳ, điều khí.
Phương thang tham khảo
Liên lý thang gia giảm có thể được dùng khi Hàn Nhiệt xen lẫn, Tỳ hư mà còn thấp nhiệt.
Chú ý
Người bệnh tái phát cần được loại trừ:
Lỵ amíp.
Bệnh viêm ruột.
Nhiễm Clostridioides difficile.
Ung thư đại trực tràng ở người lớn tuổi.
Viêm đại tràng thiếu máu.
Bệnh celiac.
Ký sinh trùng.
Tác dụng của thuốc.
Không dùng Quy Tỳ thang, Ôn Tỳ thang hoặc thuốc bổ kéo dài trước khi làm rõ nguyên nhân.
Âm hư lỵ
Triệu chứng
Phân nhầy máu kéo dài.
Máu đỏ hoặc đỏ sẫm.
Mót rặn nhưng lượng phân ít.
Miệng khô.
Phiền nhiệt.
Lưỡi đỏ sẫm, ít rêu.
Mạch tế sác.
Chứng cơ
Bệnh lâu làm hao Âm huyết, trường đạo mất sự nhu dưỡng nhưng dư nhiệt chưa hết.
Phép trị
Dưỡng Âm, thanh nhiệt, hòa huyết.
Phương thang tham khảo
Hoàng liên a giao thang gia giảm được đề cập trong một số tài liệu.
Chú ý
A giao và thuốc bổ Âm không thích hợp khi còn nhiễm khuẩn cấp, bụng đầy, nôn hoặc rêu lưỡi dày nhờn.
Phân máu kéo dài cần nội soi hoặc xét nghiệm theo chỉ định, không nên chỉ điều trị theo Âm hư.
Hư Hàn lỵ
Triệu chứng
Phân lỏng và nhầy kéo dài.
Đau bụng âm ỉ.
Thích ấm, thích xoa.
Ăn ít.
Mệt mỏi.
Tay chân lạnh.
Lưng gối mỏi.
Lưỡi nhạt, rêu trắng.
Mạch trầm nhược.
Chứng cơ
Tỳ Thận dương hư, Trung Hạ tiêu mất ôn vận, Đại trường không cố nhiếp.
Phép trị
Ôn Trung, kiện Tỳ, bổ Thận, cố sáp khi không còn tà thực.
Phương thang tham khảo
Lý trung thang, Phụ tử lý trung hoàn hoặc Chân nhân dưỡng tạng thang được đề cập trong cổ phương.
Chú ý
Không tự dùng Phụ tử, Nhục quế liều cao hoặc Anh túc xác.
Phụ tử có độc tính tim mạch và thần kinh.
Anh túc xác chứa alkaloid nhóm opioid và có nguy cơ gây lệ thuộc, ức chế hô hấp, táo bón và che lấp bệnh.
Chỉ được cân nhắc thuốc cố sáp khi đã loại trừ nhiễm trùng đang hoạt động và không còn sốt, đau bụng tăng hoặc phân máu.
Lao lỵ
Tên gọi cổ “lao lỵ” mô tả tình trạng tiêu chảy, phân nhầy máu kéo dài kèm gầy sút, sốt âm ỉ, suy nhược và ăn kém.
Những biểu hiện này hiện nay cần được đánh giá các bệnh như:
Lao ruột.
Bệnh Crohn.
Viêm loét đại tràng.
Ung thư.
Nhiễm trùng mạn.
Suy giảm miễn dịch.
Rối loạn hấp thu.
Không nên chỉ dùng Tứ quân tử thang để “kiện Tỳ” khi chưa xác định nguyên nhân.
CẤM KHẨU LỴ
Thực chứng
Biểu hiện
Phân mủ máu.
Bụng đầy.
Nấc.
Buồn nôn hoặc nôn.
Hơi thở hôi.
Rêu vàng nhờn.
Mạch hoạt sác.
Theo Trung y, bệnh cơ là thấp nhiệt và dịch độc xông lên Vị, làm Vị khí không giáng.
Phép trị lý luận là thanh nhiệt, hóa thấp, hòa Vị, giáng nghịch.
Tuy nhiên, người không uống được có nguy cơ mất nước và rối loạn điện giải. Không tự dùng Khai cấm tán, Đại hoàng, Nhân sâm hoặc thuốc khai khiếu tại nhà.
Hư chứng
Biểu hiện
Bệnh kéo dài.
Nôn khi ăn.
Miệng nhạt.
Không khát.
Người gầy yếu.
Lưỡi nhạt.
Mạch nhược.
Theo Trung y, bệnh cơ là Tỳ Vị hư, Vị khí nghịch.
Phép trị là kiện Tỳ, hòa Vị, giáng nghịch.
Người bệnh vẫn cần được đánh giá tình trạng dinh dưỡng, điện giải và nguyên nhân nôn.
Không tự dùng Sâm phụ thang hoặc chế phẩm tiêm chứa Phụ tử. Dược phẩm tiêm tĩnh mạch chỉ được sử dụng theo quy định chuyên môn tại cơ sở y tế; không phải phương cấp cứu tại nhà.
CÁC PHƯƠNG DÂN GIAN CẦN THẬN TRỌNG
Rau sam
Rau sam có thể dùng như thực phẩm nếu được rửa sạch và nấu chín.
Không có đủ căn cứ để dùng rau sam như thuốc thay thế điều trị Shigella hoặc lỵ amíp.
Không uống lượng rất lớn hoặc nước ép sống khi đang tiêu chảy, vì thực phẩm sống có thể làm tăng nguy cơ nhiễm bẩn.
Phượng vĩ thảo, Mạn kinh diệp, Lộc hàm thảo và Lạt liễu
Tên dược liệu dân gian có thể khác nhau giữa các vùng, dễ nhầm loài và liều dùng.
Không nên tự sắc hàng trăm gam mỗi ngày. Dược liệu không xác định chính xác có thể gây tổn thương gan, thận, rối loạn điện giải hoặc tương tác thuốc.
Lá sồi và thụt thuốc
Không thụt nước sắc lá sồi hoặc bất kỳ dược liệu nào vào trực tràng.
Tannin đậm đặc và dung dịch không vô khuẩn có thể gây kích ứng, bỏng niêm mạc, nhiễm trùng và chảy máu.
Hạt ớt xanh
Không dùng bột ớt liều cao để trị lỵ.
Ớt có thể làm hậu môn nóng rát, đau bụng và kích ứng niêm mạc rõ hơn.
Vỏ quả lựu
Vỏ lựu chứa nhiều tannin, có tính thu sáp. Dùng quá sớm trong nhiễm trùng cấp có thể làm giảm đại tiện nhưng không loại bỏ tác nhân gây bệnh.
Không dùng kéo dài hoặc cho trẻ em khi chưa có hướng dẫn chuyên môn.
Địa cẩm thảo phối cồn long não
Không được uống chế phẩm tự pha có cồn long não.
Long não có thể gây ngộ độc, co giật và tổn thương thần kinh, đặc biệt ở trẻ em.
Tỏi, trà, Kim ngân hoa và Cam thảo
Không nên pha chế số lượng lớn rồi đóng chai dùng nhiều ngày tại nhà vì:
Khó kiểm soát độ sạch.
Khó xác định nồng độ.
Nguy cơ nhiễm khuẩn trong quá trình bảo quản.
Cam thảo liều cao có thể gây tăng huyết áp, hạ kali và giữ nước.
Tỏi có thể kích ứng dạ dày.
Cháo tỏi
Có thể dùng cháo như một món ăn nếu người bệnh dung nạp được, nhưng không cần cho lượng tỏi quá nhiều.
Cháo tỏi không thay thế ORS, thuốc kháng sinh hoặc thuốc diệt amíp khi có chỉ định.
CẠO GIÓ TRONG VIÊM RUỘT VÀ KIẾT LỴ
Vai trò có thể có
Cạo gió nhẹ có thể tạo cảm giác thư giãn, làm ấm da và giảm căng cơ ở một số người.
Tuy nhiên, không có căn cứ để xem cạo gió là phương pháp điều trị vi khuẩn, ký sinh trùng, mất nước hoặc xuất huyết đường ruột.
Các huyệt thường được đề cập
Đốc-14 Đại chùy.
Bàng quang-11 Đại trữ.
Bàng quang-43 Cao hoang du.
Bàng quang-44 Thần đường.
Vị-25 Thiên khu.
Vị-36 Túc tam lý.
Vị-37 Thượng cự hư.
Tỳ-9 Âm lăng tuyền.
Tâm bào-3 Khúc trạch.
Bàng quang-40 Ủy trung.
Đại trường-4 Hợp cốc.
Tỳ-6 Tam âm giao.
Tâm bào-6 Nội quan.
Đại trường-11 Khúc trì.
Bàng quang-26 Quan nguyên du.
Chú ý
Không cạo trực tiếp vùng bụng khi:
Đau bụng dữ dội.
Bụng cứng.
Bụng chướng tăng.
Nôn.
Phân có nhiều máu.
Nghi tắc ruột.
Nghi viêm ruột thừa.
Không cạo đến bầm tím nặng hoặc chảy máu.
Không cạo cho:
Trẻ nhỏ.
Người cao tuổi suy yếu.
Người mất nước.
Người giảm tiểu cầu.
Người đang dùng thuốc chống đông.
Người có bệnh máu.
Người có da viêm hoặc nhiễm trùng.
Không dùng vết bầm sau cạo để đánh giá “tà độc” hoặc mức độ bệnh.
Cạo gió không được làm chậm việc đưa người bệnh tiêu chảy máu đến cơ sở y tế.
CHĂM SÓC VÀ PHÒNG LÂY NHIỄM
Bù nước
Dùng dung dịch ORS pha đúng hướng dẫn.
Uống từng ngụm nhỏ, thường xuyên.
Không tự pha dung dịch quá mặn hoặc quá ngọt.
Tiếp tục ăn và bú
Không nhịn ăn kéo dài.
Trẻ bú mẹ tiếp tục bú.
Ăn thức ăn mềm, dễ tiêu, chia thành nhiều bữa nhỏ.
Vệ sinh tay
Rửa tay bằng xà phòng sau khi đi vệ sinh, thay tã và trước khi chế biến thức ăn.
Người đang tiêu chảy không nên nấu ăn cho người khác.
Trẻ mắc Shigella không nên đến nhà trẻ, trường học hoặc sinh hoạt tập thể khi vẫn còn tiêu chảy. (CDC)
Không dùng chung đồ cá nhân
Không dùng chung khăn, đồ lót hoặc dụng cụ vệ sinh.
Làm sạch nhà vệ sinh và bề mặt dính phân bằng sản phẩm phù hợp theo hướng dẫn.
DẤU HIỆU CẦN ĐI KHÁM SỚM
Tiêu chảy có máu.
Sốt.
Đau bụng nhiều.
Mót rặn liên tục.
Tiêu chảy kéo dài trên ba ngày.
Nôn.
Tiểu ít.
Khát nhiều.
Trẻ bú kém.
Người già yếu.
Người suy giảm miễn dịch.
Nhiều người trong gia đình cùng mắc bệnh.
CDC khuyến nghị liên hệ nhân viên y tế khi tiêu chảy có máu, kéo dài, đau quặn bụng nặng hoặc kèm sốt và toàn trạng rất mệt. (CDC)
DẤU HIỆU CẦN CẤP CỨU
Lơ mơ hoặc khó đánh thức.
Co giật.
Ngất.
Không uống được.
Nôn liên tục.
Không tiểu hoặc tiểu rất ít.
Da tái, lạnh.
Mạch nhanh, yếu.
Huyết áp giảm.
Đau bụng dữ dội.
Bụng cứng hoặc chướng tăng.
Đi ngoài rất nhiều máu.
Trẻ nhỏ sốt cao, bỏ bú, lừ đừ.
Khó thở.
Đây là những tình trạng không được điều trị bằng thuốc dân gian, chườm nóng hoặc cạo gió tại nhà.
Nói tóm lại
Theo Trung y, kiết lỵ chủ yếu do thử thấp, thấp nhiệt, dịch độc, Hàn thấp hoặc thức ăn bất khiết làm khí huyết Đại trường bị trở trệ. Bệnh lâu ngày có thể làm Tỳ Vị, khí huyết và Tỳ Thận suy yếu, hình thành Hưu tức lỵ, Âm hư lỵ hoặc Hư Hàn lỵ.
Biện chứng cần chú trọng Hàn – Nhiệt, Hư – Thực và mức độ suy tổn của chính khí. Thể thấp nhiệt lấy thanh nhiệt, hóa thấp và điều khí làm chính; thể Hàn thấp thiên về ôn Trung, hóa thấp; bệnh lâu ngày cần phù chính nhưng không được bổ hoặc cố sáp khi tà khí chưa hết.
Tuy nhiên, phân máu, sốt cao, đau bụng, mót rặn, nôn và mất nước trước hết phải được đánh giá theo y học hiện đại. Không tự dùng Đại hoàng, Phụ tử, Anh túc xác, thuốc khai khiếu, thuốc hồi dương hoặc phương dân gian liều cao.
Không thụt dung dịch tỏi, nước sắc dược liệu hoặc bất kỳ hỗn hợp tự pha nào vào trực tràng. Cạo gió và chườm ấm chỉ có thể giúp thư giãn trong một số trường hợp nhẹ, không có tác dụng diệt vi khuẩn, diệt amíp hoặc điều trị mất nước.
Bù nước điện giải, tiếp tục ăn uống, vệ sinh tay, xét nghiệm khi cần và dùng kháng sinh đúng chỉ định vẫn là những nguyên tắc quan trọng nhất.
Trường Xuân biên soạn