Tổng quan
Hội chứng ruột kích thích là một rối loạn mạn tính của sự tương tác giữa ruột và não, biểu hiện chủ yếu bằng đau bụng tái diễn kết hợp với thay đổi số lần đại tiện hoặc hình dạng phân. Người bệnh có thể thiên về tiêu chảy, táo bón hoặc xen kẽ cả hai.
Trước đây, bệnh từng được gọi là kết tràng co thắt, kết tràng quá mẫn hoặc chứng thần kinh đại tràng. Những tên gọi này không còn phản ánh đầy đủ bản chất của bệnh. Hội chứng ruột kích thích không chỉ do đại tràng co thắt và cũng không phải bệnh “do tưởng tượng”. Người bệnh có thể có sự tăng nhạy cảm của ruột, rối loạn vận động tiêu hóa, thay đổi tín hiệu giữa ruột và não, biến đổi hệ vi sinh cùng ảnh hưởng của thức ăn, giấc ngủ và trạng thái tinh thần.
Triệu chứng thường gặp nhất là đau bụng có liên quan đến đại tiện, kèm tiêu chảy, táo bón hoặc cả hai; ngoài ra có thể đầy bụng, cảm giác đi ngoài chưa hết và chất nhầy trắng trong phân. (NIDDK)
Trong Trung y, bệnh có thể thuộc phạm vi Phúc thống (腹痛), Tiết tả (泄泻), Tiện bí (便秘), Can Tỳ bất hòa (肝脾不和), Đại trường táo kết (大肠燥结) và Mai hạch khí ở trường phủ. Bệnh vị chủ yếu ở Đại trường và Tỳ, liên quan mật thiết với Can và Thận.
Bệnh cơ thường lấy Tỳ hư làm gốc; Can uất, khí trệ, thấp trọc, thực tích, hàn nhiệt và Thận dương hư làm ngọn. Tình chí không thư thái khiến Can mất sơ tiết, hoành nghịch khắc Tỳ; Tỳ mất kiện vận làm Đại trường truyền đạo thất thường, sinh đau bụng, tiêu chảy, táo bón hoặc hai tình trạng xen kẽ.
Chú ý
Hội chứng ruột kích thích không gây loét, chảy máu hoặc ung thư ruột. Tuy nhiên, máu trong phân, sốt, thiếu máu, sụt cân, nôn kéo dài hoặc triệu chứng đánh thức người bệnh ban đêm không phải là biểu hiện điển hình và cần được kiểm tra.
Không tự chẩn đoán hội chứng ruột kích thích chỉ vì nội soi không phát hiện tổn thương. Cần căn cứ kiểu triệu chứng và loại trừ những bệnh khác khi có dấu hiệu cảnh báo.
HỘI CHỨNG RUỘT KÍCH THÍCH LÀ GÌ?
Hội chứng ruột kích thích thuộc nhóm rối loạn tương tác ruột – não. Điều này có nghĩa là chức năng của đường tiêu hóa bị rối loạn dù không nhất thiết có tổn thương cấu trúc rõ trên nội soi.
Người bệnh có thể có:
Ruột nhạy cảm quá mức với hơi, thức ăn hoặc sự co bóp.
Nhu động đại tràng quá nhanh hoặc quá chậm.
Phối hợp cơ vùng hậu môn và sàn chậu không điều hòa.
Thay đổi tín hiệu thần kinh giữa não và đường ruột.
Thay đổi hệ vi sinh đường ruột.
Triệu chứng tăng sau nhiễm trùng đường ruột.
Lo âu, căng thẳng hoặc thiếu ngủ làm bệnh nặng hơn.
Một số thực phẩm gây lên men hoặc khó hấp thu làm đầy và đau tăng.
Căng thẳng tinh thần có thể làm triệu chứng rõ hơn nhưng không phải nguyên nhân duy nhất. Vì vậy, điều trị cần phối hợp giữa ăn uống, vận động, điều chỉnh giấc ngủ, tâm lý và thuốc thích hợp.
TIÊU CHUẨN CHẨN ĐOÁN
Chẩn đoán thường được đặt ra khi người bệnh có đau bụng tái diễn, trung bình ít nhất một ngày mỗi tuần trong ba tháng gần đây, kết hợp với ít nhất hai trong ba đặc điểm:
Đau liên quan đến đại tiện.
Đau đi kèm thay đổi số lần đại tiện.
Đau đi kèm thay đổi hình dạng hoặc độ cứng của phân.
Triệu chứng phải bắt đầu ít nhất sáu tháng trước thời điểm đánh giá. Đây là tiêu chuẩn Rome IV thường được dùng trong nghiên cứu và thực hành lâm sàng. (NIDDK)
Không nhất thiết phải nội soi cho mọi người bệnh trẻ tuổi có triệu chứng điển hình và không có dấu hiệu cảnh báo. Việc kiểm tra được lựa chọn căn cứ tuổi, bệnh sử, tiền sử gia đình và biểu hiện cụ thể.
CÁC THỂ LÂM SÀNG
Hội chứng ruột kích thích thiên tiêu chảy
Phân lỏng hoặc nước chiếm ưu thế; người bệnh thường mót đi ngoài sau ăn, buổi sáng hoặc khi căng thẳng.
Hội chứng ruột kích thích thiên táo bón
Phân cứng, viên nhỏ, khó đi, phải rặn hoặc có cảm giác đại tiện không hết.
Hội chứng ruột kích thích hỗn hợp
Phân cứng và phân lỏng xen kẽ trong những thời điểm khác nhau.
Hội chứng ruột kích thích không phân loại
Triệu chứng phù hợp với bệnh nhưng kiểu phân chưa đủ rõ để xếp vào ba nhóm trên.
TRIỆU CHỨNG THƯỜNG GẶP
Đau bụng
Đau có thể ở bụng dưới trái, quanh rốn hoặc nhiều vị trí khác. Cơn đau thường thay đổi sau đại tiện, nhưng có thể giảm hoặc đôi khi tăng sau khi đi ngoài.
Đầy bụng
Bụng có cảm giác căng, nhiều hơi, quần áo chật hơn về cuối ngày.
Tiêu chảy
Thường xuất hiện sau ăn, buổi sáng hoặc khi căng thẳng. Phân có thể lỏng nhưng không nên có máu hay mủ.
Táo bón
Phân khô, cứng, khó đẩy ra, phải rặn hoặc có cảm giác tắc ở hậu môn.
Đại tiện không hết
Người bệnh vẫn có cảm giác còn phân dù vừa đi ngoài.
Chất nhầy trong phân
Có thể thấy một ít nhầy trắng hoặc trong. Nhầy kèm máu, sốt hoặc đau tăng cần được kiểm tra.
Sôi bụng và nhiều hơi
Thường rõ sau một số loại thức ăn có khả năng lên men.
Triệu chứng ngoài tiêu hóa
Có thể kèm mất ngủ, mệt mỏi, đau đầu, hồi hộp, tiểu nhiều, đau vùng chậu hoặc lo âu. Những biểu hiện này không phải lúc nào cũng do ruột và vẫn cần đánh giá riêng khi kéo dài.
DẤU HIỆU CẢNH BÁO
Đi ngoài ra máu.
Phân đen.
Sụt cân ngoài ý muốn.
Sốt.
Thiếu máu.
Nôn kéo dài.
Đau đánh thức ban đêm.
Tiêu chảy về đêm.
Khối bất thường trong bụng.
Gia đình có người mắc ung thư đại trực tràng, bệnh viêm ruột hoặc bệnh celiac.
Triệu chứng mới xuất hiện ở người lớn tuổi.
Triệu chứng tiến triển nhanh hoặc thay đổi rõ so với trước.
Khi có những dấu hiệu này, cần tìm nguyên nhân thực thể trước khi kết luận hội chứng ruột kích thích.
CHẨN ĐOÁN PHÂN BIỆT
Bệnh celiac.
Không dung nạp lactose.
Viêm đại tràng loét.
Bệnh Crohn.
Viêm đại tràng vi thể.
Nhiễm trùng hoặc ký sinh trùng đường ruột.
Ung thư đại trực tràng.
Bệnh tuyến giáp.
Tác dụng của thuốc.
Lạc nội mạc tử cung.
Bệnh túi mật hoặc tuyến tụy.
Táo bón do rối loạn sàn chậu.
Tiêu chảy do acid mật.
XÉT NGHIỆM CÓ THỂ CẦN
Công thức máu để kiểm tra thiếu máu.
CRP hoặc xét nghiệm viêm khi nghi bệnh viêm ruột.
Xét nghiệm bệnh celiac ở người tiêu chảy hoặc triệu chứng phù hợp.
Xét nghiệm phân khi nghi nhiễm trùng.
Calprotectin trong phân khi cần phân biệt với viêm ruột.
Nội soi đại tràng khi có dấu hiệu cảnh báo, tuổi cần tầm soát hoặc triệu chứng không điển hình.
Không nên lặp lại quá nhiều xét nghiệm khi triệu chứng ổn định, không có dấu hiệu cảnh báo và chẩn đoán đã rõ.
ĐIỀU TRỊ THEO Y HỌC HIỆN ĐẠI
Giải thích bệnh
Hiểu rằng bệnh không phải ung thư, không gây tổn thương ruột nhưng có thể kéo dài giúp người bệnh bớt lo lắng và hợp tác điều trị tốt hơn.
Điều chỉnh chế độ ăn
Cần xác định thức ăn làm triệu chứng tăng thay vì kiêng khem hàng loạt.
Một số người nhạy cảm với:
Hành, tỏi.
Sữa khi không dung nạp lactose.
Đậu.
Lúa mì ở một số trường hợp.
Thức ăn nhiều dầu.
Rượu bia.
Cà phê.
Nước có gas.
Chất tạo ngọt như sorbitol.
Chế độ ăn giảm FODMAP có thể giúp một số người nhưng nên được thực hiện trong thời gian giới hạn, sau đó đưa từng nhóm thực phẩm trở lại để tránh thiếu chất và làm chế độ ăn quá nghiêm ngặt.
Chất xơ
Chất xơ hòa tan như psyllium thường phù hợp hơn cám thô. Cần bắt đầu lượng nhỏ và tăng từ từ để tránh đầy hơi.
Vận động
Đi bộ, bơi, đạp xe và vận động đều đặn có thể hỗ trợ nhu động, giấc ngủ và tâm trạng.
Điều chỉnh tâm lý
Liệu pháp nhận thức – hành vi, thôi miên hướng ruột, thư giãn, thiền và điều trị lo âu có thể giúp người bệnh có triệu chứng liên quan căng thẳng. Hướng dẫn của Đại học Tiêu hóa Hoa Kỳ cũng ghi nhận vai trò của các liệu pháp tâm lý hướng ruột trong điều trị hội chứng ruột kích thích. (PubMed)
Thuốc chống co thắt
Có thể được dùng trong một số trường hợp đau quặn nhưng phải căn cứ sức khỏe tổng thể và tác dụng phụ.
Thuốc điều trị táo bón
Có thể gồm chất xơ hòa tan, thuốc nhuận tràng thẩm thấu hoặc thuốc đặc hiệu cho hội chứng ruột kích thích thiên táo bón theo chỉ định.
Thuốc điều trị tiêu chảy
Một số thuốc giúp giảm số lần đi ngoài nhưng không phải thuốc nào cũng làm giảm đau và đầy bụng.
Thuốc tác động thần kinh ruột
Một số thuốc chống trầm cảm liều thấp có thể được dùng để giảm đau và điều chỉnh tín hiệu ruột – não, không có nghĩa người bệnh “bị bệnh tưởng tượng”.
NHỮNG PHƯƠNG PHÁP KHÔNG NÊN TỰ ÁP DỤNG
Không tự dùng codein để cầm tiêu chảy.
Không tự dùng atropin hoặc thuốc kháng cholinergic cũ.
Không tự dùng thuốc an thần kéo dài.
Không thụt rửa đại tràng thường xuyên.
Không tự nhịn ăn hoặc chỉ ăn cháo kéo dài.
Không kiêng toàn bộ rau, quả và chất xơ.
Không dùng thuốc nhuận tràng kích thích liên tục.
Không tự mua kháng sinh.
Không dùng thuốc cầm tiêu chảy khi sốt, phân có máu hoặc nghi nhiễm trùng.
NHẬN THỨC CỦA TRUNG Y
Can chủ sơ tiết, điều đạt khí cơ. Tỳ chủ vận hóa và thăng thanh. Đại trường chủ truyền đạo.
Khi tình chí uất kết, Can khí không thư, hoành nghịch phạm Tỳ, làm chức năng vận hóa và truyền đạo rối loạn. Người bệnh dễ đau bụng, tiêu chảy hoặc táo bón tăng khi lo âu và tức giận.
Tỳ khí hư làm thủy thấp không hóa, sinh phân lỏng, đầy bụng và mệt mỏi.
Tỳ Thận dương hư làm Đại trường mất sự ôn dưỡng, gây tiêu chảy gần sáng và đau bụng thích ấm.
Khí trệ làm Đại trường mất thông giáng, gây táo bón, đầy và ợ hơi.
Tân dịch hao tổn làm ruột mất nhu dưỡng, phân khô khó đi.
Bệnh thường có đặc điểm Can uất là nhân tố khởi phát, Tỳ hư là cơ sở; lâu ngày có thể ảnh hưởng đến Thận.
BIỆN CHỨNG LUẬN TRỊ
Bệnh cơ
Can mất sơ tiết, hoành nghịch khắc Tỳ; Tỳ hư không vận hóa được thủy thấp, Đại trường truyền đạo thất thường.
Chứng trạng: Đau bụng và tiêu chảy thường xuất hiện hoặc tăng khi căng thẳng, tức giận, lo âu; đau rồi muốn đi ngoài, đại tiện xong giảm; phân lỏng hoặc nát, có thể xen táo bón, đầy bụng, ợ hơi, ăn kém, hay thở dài, tức ngực sườn, lưỡi hồng nhạt hoặc đỏ nhạt, rêu trắng mỏng, mạch huyền.
Phép trị
Sơ Can kiện Tỳ, điều khí chỉ tả.
Phương thang: Thống tả yếu phương hợp Tiêu dao tán gia giảm gồm bạch truật, bạch thược, trần bì, phòng phong, sài hồ, phục linh, đương quy và chích cam thảo.
Gia giảm
Đau bụng nhiều: gia diên hồ sách, uất kim.
Đầy trướng: gia chỉ xác, hậu phác.
Tiêu chảy nhiều: gia hoài sơn dược, liên tử.
Mất ngủ, lo âu: gia hợp hoan bì, dạ giao đằng.
Bệnh cơ
Tỳ khí suy, vận hóa không kiện, thanh trọc không phân, thủy thấp hạ chú Đại trường.
Chứng trạng: Tiêu chảy kéo dài hoặc tái phát, phân lỏng sau ăn, bụng đầy âm ỉ, ăn kém, mệt mỏi, sắc mặt vàng nhạt, hơi thở ngắn, đại tiện nhiều lần nhưng lượng không nhiều, lưỡi nhạt có dấu răng, rêu trắng, mạch tế nhược.
Phép trị
Kiện Tỳ ích khí, thấm thấp chỉ tả.
Phương thang: Sâm linh bạch truật tán gia giảm gồm đảng sâm, bạch truật, phục linh, hoài sơn dược, bạch biển đậu, liên tử, ý dĩ nhân, sa nhân, cát cánh và chích cam thảo.
Gia giảm
Đầy bụng: gia trần bì, mộc hương.
Tiêu chảy nhiều: gia khiếm thực, ô mai.
Khí hư rõ: gia hoàng kỳ.
Mót rặn: gia mộc hương lượng nhỏ.
Bệnh cơ
Bệnh lâu ngày tổn thương Tỳ Thận, mệnh môn hỏa suy, không ôn dưỡng được Đại trường.
Chứng trạng: Tiêu chảy gần sáng, đau bụng âm ỉ, bụng sôi, đi ngoài xong giảm, phân lỏng có thức ăn chưa tiêu, sợ lạnh, tay chân lạnh, lưng gối mỏi, mệt mỏi, lưỡi nhạt bệu rêu trắng, mạch trầm trì.
Phép trị
Ôn bổ Tỳ Thận, sáp trường chỉ tả.
Phương thang: Tứ thần hoàn hợp Lý trung thang gia giảm gồm bổ cốt chỉ, nhục đậu khấu, ngô thù du, ngũ vị tử, đảng sâm, bạch truật, can khương và chích cam thảo.
Gia giảm
Đau bụng lạnh: gia cao lương khương.
Khí hư rõ: gia hoàng kỳ.
Đại tiện không tự chủ: gia khiếm thực, kim anh tử theo chứng.
Chú ý
Không dùng phép ôn bổ khi miệng khát, lưỡi đỏ, sốt hoặc tiêu chảy có máu.
Bệnh cơ
Tình chí uất kết hoặc ít vận động làm khí cơ Đại trường không thông, truyền đạo thất thường.
Chứng trạng: Táo bón, muốn đi ngoài nhưng khó đi, đại tiện không hết, bụng đầy và đau trướng, ợ hơi, trung tiện nhiều, triệu chứng tăng khi căng thẳng, lưỡi rêu mỏng, mạch huyền.
Phép trị
Thuận khí đạo trệ, điều hòa Đại trường.
Phương thang: Lục ma thang gia giảm gồm trầm hương, mộc hương, binh lang, ô dược, chỉ thực và đại hoàng; trong hội chứng ruột kích thích nên gia giảm nhẹ, thường dùng mộc hương, chỉ xác, ô dược, phật thủ và hỏa ma nhân, không nhất thiết dùng thuốc công hạ mạnh.
Gia giảm
Đầy bụng nhiều: gia hậu phác, đại phúc bì.
Đau bụng: gia bạch thược, cam thảo.
Khô miệng, phân khô: gia huyền sâm, mạch môn đông.
Chú ý
Không tự dùng đại hoàng kéo dài. Người đau bụng nhiều, nôn hoặc bí trung đại tiện cần loại trừ tắc ruột.
Bệnh cơ
Tân dịch hao tổn, Đại trường mất nhu dưỡng, phân khô khó xuống.
Chứng trạng: Táo bón, phân khô cứng hoặc viên nhỏ, phải rặn, miệng khô, da khô, bụng đau âm ỉ, lưỡi đỏ ít rêu hoặc khô, mạch tế sáp.
Phép trị
Dưỡng âm sinh tân, nhuận trường thông tiện.
Phương thang: Tăng dịch thang hợp Ngũ nhân hoàn gia giảm gồm huyền sâm, mạch môn đông, sinh địa hoàng, hỏa ma nhân, úc lý nhân, bá tử nhân, đào nhân và hạnh nhân.
Gia giảm
Khí trệ: gia chỉ xác, mộc hương.
Đau bụng: gia bạch thược.
Âm hư rõ: gia ngọc trúc, bắc sa sâm.
Chú ý
Đào nhân có tác dụng hoạt huyết, cần thận trọng ở người đang chảy máu hoặc dùng thuốc chống đông.
Bệnh cơ
Tỳ hư, Vị trường thăng giáng rối loạn, hàn và nhiệt xen lẫn làm đại tiện khi lỏng khi táo.
Chứng trạng: Đau bụng, sôi bụng, tiêu chảy và táo bón xen kẽ, miệng có thể đắng nhưng bụng lại sợ lạnh, đầy bụng, buồn nôn, lưỡi rêu vàng trắng lẫn nhau, mạch huyền hoặc hoạt.
Phép trị
Điều hòa hàn nhiệt, kiện Tỳ hòa trung.
Phương thang: Bán hạ tả tâm thang gia giảm gồm bán hạ, hoàng cầm, hoàng liên, can khương, đảng sâm, đại táo và chích cam thảo.
Gia giảm
Đầy bụng: gia hậu phác, chỉ thực.
Tiêu chảy nhiều: gia phục linh, hoài sơn dược.
Táo bón rõ: gia hỏa ma nhân.
Bệnh cơ
Ăn uống không điều độ hoặc thấp uất hóa nhiệt làm Đại trường truyền đạo thất thường.
Chứng trạng: Đau bụng, tiêu chảy gấp, phân lỏng có mùi nặng, hậu môn nóng rát, miệng đắng nhớt, tiểu vàng, lưỡi đỏ rêu vàng nhớt, mạch hoạt sác.
Phép trị
Thanh nhiệt hóa thấp, điều khí chỉ tả.
Phương thang: Cát căn cầm liên thang gia giảm gồm cát căn, hoàng cầm, hoàng liên và chích cam thảo; có thể phối hoắc hương, bội lan, phục linh và mộc hương.
Chú ý
Thể này chỉ được cân nhắc sau khi loại trừ nhiễm trùng, viêm đại tràng và các nguyên nhân tiêu chảy khác. Phân có máu hoặc sốt không phù hợp với chẩn đoán hội chứng ruột kích thích đơn thuần.
CHÂM CỨU
Châm cứu có thể hỗ trợ giảm đau bụng, đầy bụng và điều hòa đại tiện. Không nên mô tả đơn giản rằng kích thích mạnh chữa tiêu chảy còn kích thích nhẹ chữa táo bón; phép châm cần căn cứ thể trạng, hư thực và phản ứng từng người.
Huyệt thường dùng
Vị-25 Thiên khu
Vị-36 Túc tam lý
Vị-37 Thượng cự hư
Nhâm-12 Trung quản
Nhâm-6 Khí hải
Tỳ-6 Tam âm giao
Tỳ-9 Âm lăng tuyền
Can-3 Thái xung
Bàng quang-20 Tỳ du
Bàng quang-25 Đại trường du
Tam tiêu-6 Chi câu
Tâm bào-6 Nội quan
Phối huyệt tham khảo
Can uất Tỳ hư: Can-3 Thái xung, Tỳ-6 Tam âm giao, Vị-36 Túc tam lý, Vị-25 Thiên khu.
Tỳ khí hư: Vị-36 Túc tam lý, Bàng quang-20 Tỳ du, Nhâm-6 Khí hải, Vị-25 Thiên khu.
Tiêu chảy: Vị-25 Thiên khu, Vị-37 Thượng cự hư, Bàng quang-25 Đại trường du.
Táo bón: Tam tiêu-6 Chi câu, Tỳ-15 Đại hoành, Vị-37 Thượng cự hư.
Đầy bụng: Nhâm-12 Trung quản, Tâm bào-6 Nội quan, Vị-36 Túc tam lý.
Đau bụng: Tỳ-6 Tam âm giao, Can-3 Thái xung, Vị-25 Thiên khu.
CỨU NGẢI
Cứu ngải phù hợp hơn với thể Tỳ khí hư hoặc Tỳ Thận dương hư có bụng lạnh, tiêu chảy, sợ lạnh, lưỡi nhạt và rêu trắng.
Huyệt thường dùng
Nhâm-8 Thần khuyết
Nhâm-6 Khí hải
Nhâm-4 Quan nguyên
Vị-36 Túc tam lý
Bàng quang-20 Tỳ du
Bàng quang-23 Thận du
Không cứu khi sốt, khát nhiều, lưỡi đỏ rêu vàng, đau bụng chưa rõ nguyên nhân hoặc phân có máu.
XOA BÓP BẤM HUYỆT
Có thể day nhẹ Vị-36 Túc tam lý, Tâm bào-6 Nội quan, Can-3 Thái xung và Tỳ-6 Tam âm giao.
Xoa bụng theo vòng tròn nhẹ nhàng khi không đau cấp và không vừa ăn no.
Người tiêu chảy có thể xoa bụng nhẹ, không rung hoặc ấn mạnh.
Người táo bón có thể phối xoa dọc khung đại tràng, nhưng phải ngừng nếu đau tăng.
Không xoa bóp bụng khi sốt, phân có máu, nôn, bụng chướng nhiều hoặc nghi tắc ruột.
ĐIỀU DƯỠNG ĂN UỐNG
Ăn đúng giờ.
Không ăn quá no.
Ăn chậm, nhai kỹ.
Giảm thực phẩm gây triệu chứng riêng cho từng người.
Không bỏ hoàn toàn rau và trái cây trong thể tiêu chảy nếu vẫn dung nạp được.
Tăng chất xơ từ từ trong thể táo bón.
Uống đủ nước.
Hạn chế rượu bia.
Giảm cà phê nếu làm đau hoặc tiêu chảy tăng.
Hạn chế nước có gas.
Không dùng quá nhiều chất tạo ngọt nhân tạo.
Có thể ghi nhật ký thức ăn, tâm trạng, đau bụng và đại tiện trong vài tuần để nhận biết yếu tố khởi phát.
DƯỢC THIỆN THAM KHẢO
Can uất Tỳ hư
Cháo hoài sơn dược phối một lượng nhỏ trần bì hoặc phật thủ.
Tỳ khí hư
Cháo hoài sơn dược, liên tử, bạch biển đậu.
Tỳ Thận dương hư
Cháo hoài sơn dược, khiếm thực và một lượng nhỏ sinh khương. Không dùng khi nóng trong hoặc táo bón.
Trường táo tân khuy
Cháo mè đen, hỏa ma nhân lượng thích hợp hoặc lê chín nếu dung nạp được.
Không dùng một món ăn để thay thế việc chẩn đoán và điều trị.
LỐI SỐNG VÀ TÂM LÝ
Ngủ đủ.
Duy trì giờ ăn và giờ đại tiện tương đối ổn định.
Vận động ít nhất vài lần mỗi tuần.
Không ngồi quá lâu.
Tập thở bụng, thư giãn hoặc thiền.
Giảm áp lực công việc nếu có thể.
Tìm hỗ trợ tâm lý khi lo âu, hoảng sợ hoặc mất ngủ kéo dài.
Tâm lý ổn định không có nghĩa mọi triệu chứng đều do tâm lý. Đây là một phần trong điều trị toàn diện của trục ruột – não.
NHỮNG ĐIỀU NÊN LÀM
Xác định kiểu tiêu chảy, táo bón hay hỗn hợp.
Theo dõi thức ăn và triệu chứng.
Tăng chất xơ hòa tan từ từ.
Vận động đều.
Điều trị mất ngủ và lo âu khi cần.
Đi khám khi triệu chứng thay đổi.
Thực hiện tầm soát đại trực tràng theo tuổi và nguy cơ.
NHỮNG ĐIỀU KHÔNG NÊN LÀM
Không tự dùng codein.
Không tự dùng atropin.
Không thụt rửa ruột định kỳ.
Không dùng thuốc nhuận tràng kích thích kéo dài.
Không kiêng khem quá mức.
Không cho rằng phân có máu là do hội chứng ruột kích thích.
Không lặp lại nội soi liên tục khi không có chỉ định.
Không tự dùng kháng sinh.
Không ngừng thuốc điều trị bệnh khác vì cho rằng thuốc làm ruột kích thích.
Nói tóm lại
Hội chứng ruột kích thích là một rối loạn tương tác ruột – não, biểu hiện bằng đau bụng tái diễn liên quan đến thay đổi số lần hoặc hình dạng phân. Bệnh có thể thiên tiêu chảy, thiên táo bón, hỗn hợp hoặc chưa phân loại.
Bệnh không gây loét hay ung thư ruột, nhưng chẩn đoán chỉ phù hợp khi không có dấu hiệu cảnh báo như máu trong phân, thiếu máu, sốt, sụt cân, tiêu chảy về đêm hoặc khối trong bụng.
Điều trị cần phối hợp giải thích bệnh, điều chỉnh ăn uống, chất xơ hòa tan, vận động, giấc ngủ, liệu pháp tâm lý hướng ruột và thuốc phù hợp với từng thể.
Theo Trung y, bệnh thường liên quan đến Can mất sơ tiết, Tỳ mất kiện vận và Đại trường truyền đạo thất thường. Can uất Tỳ hư là thể thường gặp; ngoài ra còn có Tỳ khí hư, Tỳ Thận dương hư, Đại trường khí trệ, trường táo tân khuy, thấp nhiệt và hàn nhiệt thác tạp.
Phép trị cần căn cứ chứng trạng: sơ Can kiện Tỳ, kiện Tỳ chỉ tả, ôn bổ Tỳ Thận, lý khí thông tiện, dưỡng âm nhuận trường hoặc điều hòa hàn nhiệt. Thuốc thang, châm cứu và xoa bóp có thể hỗ trợ nhưng không thay thế việc loại trừ bệnh thực thể khi có dấu hiệu bất thường.
Trường Xuân biên soạn