Tư liệu tham khảo:
Theo Y học cổ truyền nguyên nhân và cơ chế gây ra bệnh huyết hư là gì?
Trong y học cổ truyền không có từ “Bần huyết”, nhưng từ góc độ sinh bệnh học, nó gần tương đương với loại huyết hư. Tuy nhiên, vì y học cổ truyền và Tây y là hai hệ thống lý thuyết khác nhau nên bệnh nhân huyết hư không nhất thiết bị bần huyết. Trên lâm sàng, ngoài huyết hư, bệnh nhân huyết hư còn có thể mắc các bệnh theo y học cổ truyền khác.
Huyết hư trong y học cổ truyền đề cập đến hiện tượng bệnh lý là lượng máu không đủ hoặc chất lượng máu hoặc chức năng máu bất thường. Người ta thường tin rằng nguyên nhân gây ra huyết hư bao gồm tỳ vị hư nhược, chế độ ăn uống không đủ chất, mất máu quá nhiều, thận khí hư và làm việc quá sức. Cơ chế gây huyết hư do các nguyên nhân bệnh như sau:
I/ Tỳ vị hư nhược
Các chất cơ bản để tạo máu chủ yếu đến từ tinh chất của nước và ngũ cốc được chuyển hóa bởi tỳ và vị. “Nội Kinh” nói: “Trung tiêu thụ khí thủ trấp, biến hóa nhi xích, thị vị huyết” (中焦受气取汁,变化而赤,是谓血)Trung tiêu nhận khí và thu dịch, chuyển sang màu đỏ, gọi là huyết. {Chứng Trị Chuẩn Thằng} viết: “Tỳ vị giả, khí huyết chi phụ dã” (脾胃者,气血之父也) Tỳ vị là cha của khí huyết. Khi công năng của tỳ vị mạnh mẽ có thể chuyển hóa nước và tinh chất ngũ cốc vào cơ thể thành khí và huyết. Nếu ăn uống không tiết độ hoặc bị bệnh gan mật xâm phạm tỳ vị, chức năng của tỳ vị sẽ bị suy yếu, tinh chất không đủ, sinh hóa không có nguồn, lâu ngày sẽ xảy ra hiện tượng huyết hư. Huyết hư có thể gây ra rối loạn chức năng của các tạng phủ khác.
II/ Chế độ ăn uống không đầy đủ
Các cơ quan nội tạng của cơ thể con người được nuôi dưỡng bởi khí huyết và dịch cơ thể, còn khí huyết và dịch cơ thể được chuyển hóa bởi tinh chất của nước và ngũ cốc. Du Xương của triều đại nhà Thanh đã nói trong {Y Môn Pháp Luật}: “Ẩm thực đa tự năng sinh huyết, ẩm thực thiểu tắc huyết bất sinh”( 饮食多自能生血,饮食少则血不生)Ăn nhiều thì có thể sinh ra máu, nếu ăn quá ít thì không thể sinh ra máu.” Chế độ ăn uống không đầy đủ, đói khát lâu ngày, không có nguồn sinh hóa khí huyết thì chắc chắn sẽ dẫn đến huyết hư. Ngoài ra, tuy khẩu phần ăn đầy đủ nhưng khẩu vị kém, cũng sẽ thiếu nguyên liệu tạo máu, dẫn đến nguồn sinh hóa không đủ, gây ra huyết hư và các bệnh khác.
III/ Mất quá nhiều máu
Mất máu quá nhiều do chấn thương, rong kinh hoặc các hội chứng mất máu mãn tính khác có thể gây ra hội chứng huyết hư. Ngoài ra, do chảy máu, lâu ngày sẽ xảy ra tình trạng ứ máu, tắc tĩnh mạch bên trong, một mặt sẽ gây chảy máu nhiều hơn, mặt khác cũng sẽ ảnh hưởng đến việc sản xuất máu mới, từ đó khiến tình trạng huyết hư nặng hơn.
IV/ Thận khí suy yếu
Thận chứa tinh, tinh sinh tủy, tinh còn có thể hóa máu. Nếu bẩm sinh không đủ, mắc phải suy dinh dưỡng, sắc dục quá sức sẽ gây ra thận hư, thận hư sẽ dẫn đến tinh ít, tinh yếu sẽ dẫn đến huyết hư.
V/ Làm việc quá độ
Bệnh nặng hoặc bệnh lâu ngày tiêu hao tinh khí, hoặc đổ mồ hôi, nôn mửa và chảy máu làm tổn thương dương khí và âm dịch; Lao động nặng tiêu tốn năng lượng và tổn thương khí huyết, lâu ngày sẽ dẫn đến khí huyết hư suy; Lao tâm quá mức dễ khiến âm huyết bị tiêu hao, tâm huyết hư tất cả đều có thể dẫn đến huyết hư.
Các biểu hiện lâm sàng của hội chứng huyết hư trong y học cổ truyền là gì?
Máu là cơ sở vật chất quan trọng cho các hoạt động sống của con người, chứa nhiều chất dinh dưỡng cần thiết cho cơ thể, dưới tác động phối hợp khí của tâm phế, đưa máu đến các cơ quan nội tạng, đến gân xương ở bên ngoài, có tác dụng dinh dưỡng đối với các tạng phủ tổ chức của toàn thân
. Tuy nhiên, nếu khí huyết bị thiếu hụt do nhiều nguyên nhân khác nhau thì có thể xảy ra hàng loạt các hội chứng bệnh. Có thể tóm tắt chủ yếu là hai phương diện hội chứng bệnh một là do các cơ quan nội tạng mất đi chất dinh dưỡng và hai là máu không có khả năng vận chuyển khí.
I/ Tạng phủ không được nuôi dưỡng
Nội tạng mất chất dinh dưỡng thường biểu hiện như da xanh xao, môi và móng tay nhợt nhạt, chóng mặt, tê chân tay, co thắt cơ và tĩnh mạch, tim đập nhanh, mất ngủ và mơ màng, da khô, tóc khô, phân khô và khó tiểu tiện. .
Vì tim điều khiển máu và gan dự trữ máu nên huyết hư trên lâm sàng chủ yếu biểu hiện ở tim và gan. Tim không đủ máu biểu hiện bằng cảm giác hồi hộp, mất ngủ, mơ màng, bồn chồn. Gan huyết không đủ sẽ dẫn đến sắc mặt không tươi, chóng mặt ù tai, khô mắt, mờ mắt hoặc mắt chim sẻ (quáng gà, dạ manh)_; Không nuôi dưỡng gân cốt sẽ dẫn đến tê chân tay, căng gân, co giật cơ; vì Đông y cho rằng gan chủ gân, móng vuốt làm từ gân, can huyết không đủ, móng vuốt thiếu dinh dưỡng, trở nên mỏng và dễ gãy. Theo thuyết ngũ hành của Y học cổ truyền, tâm là con của can (can mộc sinh tâm hỏa) và can là con của thận(Thận thủy sinh can mộc). Theo nguyên lý hư tắc bổ kỳ mẫu và dương sinh âm trưởng, khi điều trị bổ tâm thường kèm theo bổ can, bổ can thường kèm theo tư bổ thận. Trong tình huống huyết hư khá nghiêm trọng, trong phương dược bổ huyết thường gia thêm các vị bổ khí cho tỳ và phế.
II/ Huyết bất tải khí
Y học cổ truyền cho rằng huyết là mẹ của khí, khí dựa vào máu để gắn kết và máu mang theo khí để di chuyển. Huyết hư nên khí không thể dựa vào, nên thành hư chứng, do đó, huyết hư thường đi kèm với khí hư, người bệnh không chỉ có triệu chứng huyết hư mà còn có các triệu chứng khí hư như thiếu năng lượng, ngại nói chuyện, tiếng nói thấp nhỏ, mệt mỏi yếu sức, thở ngắn tự đổ mồ hôi. Trên lâm sàng thường gặp chứng huyết hư dẫn đến khí hư ở các bệnh xuất huyết mạn tính. Đặc biệt là trong tình huống xuất huyết quá nhiều, khí cũng bị mất theo lượng máu đã mất (gọi là khí tùy huyết thoát), lúc này khí hư thoát lại trở thành mâu thuẫn chủ yếu. Nếu khí hãm xuống dưới, sẽ xuất hiện hơi ngắn không đủ để thở, hoặc khi nỗ lực để hô hấp thì tựa như bị suyễn, hoặc hơi thở sẽ ngừng lại, nguy hiểm ở ngay lúc này.
Các phương pháp y học cổ truyền trong điều trị hội chứng huyết hư là gì?
Các nguyên tắc và phương pháp điều trị huyết hư trong y học cổ truyền bao gồm kiện tỳ hòa vị, ích khí sinh huyết, bổ thận sinh huyết, khứ ứ sinh huyết và giải độc sinh huyết.
I/ Kiện tỳ hòa vị
Tỳ vị là nguồn sinh hóa của huyết dịch. Ăn uống tiết độ, công năng vận hóa của tỳ vị bình thường thì việc sinh thành huyết dịch tự nhiên sẽ liên tục không ngừng. Vì thế, bổ huyết trước hết phải kiện tỳ vị, tỳ vị khỏe mạnh thì nguồn sinh hóa không bao giờ hết. Phương dược thường dùng có: Thang Tứ quân tử, thang Tứ vật, thang Đương quy bổ huyết.
II/ Ích khí sinh huyết
Cơ sở vật chất của huyết dịch là tinh, và để thúc đẩy quá trình chuyển hóa tinh thành huyết, thì khí chính là động lực. Lý Trung Tử của nhà Thanh đã nói trong {Y Tôn tất độc} : “Khí huyết câu yếu, nhi bổ khí tại bổ huyết chi tiên; Âm dương tính nhu, nhi dưỡng dương tại tư âm chi thượng” (血气俱要,而补气在补血之先;阴阳并需,而养阳在滋阴之上。)Cần cả khí và huyết, bổ khí trước khi bổ máu; cần cả âm và dương, dưỡng dương cao hơn nuôi âm. {Ôn Bệnh Điều Biện} viết: “Thiện trị huyết giả, bất cầu chi hữu hình chi huyết, nhi cầu chi vô hình chi khí” (善治血者,不求之有形之血,而求之无形之气。) Người giỏi trị huyết, không cầu huyết hữu hình, mà cầu khí vô hình. {Cảnh Nhạc Toàn Thư} viết: “Hữu hình chi huyết nan dĩ tốc sinh, vô hình chi khí sở đương cấp cố” (有形之血难以速生,无形之气所当急固。)Máu hữu hình khó sản sinh nhanh chóng, khí vô hình cần cấp bách củng cố. Khi dụng thuốc trên lâm sàng, nó dựa trên lý thuyết “Khí năng sinh huyết.” (气能生血), Khí có thể sinh huyết, thường trong thuốc bổ huyết thường phối với các vị thuốc ích khí. Các phương thang thường dùng như thang Quy tỳ, thang Đương quy bổ huyết. Các vị thuốc bổ khí thường dùng như Hoàng kỳ, Nhân sâm, Đảng sâm, Bạch truật, Hoàng tinh, Sơn dược, Đại táo; Phối với các vị thuốc bổ máu như: Đương quy, Bạch thược, A giao, Thục địa.
(3) Bổ thận sinh huyết.
Thận là căn bản của bẩm sinh và là nơi tàng (chứa đựng) tinh. Tinh bao gồm cả tinh bẩm sinh và tinh thu được của hậu thiên tạng phủ (từ tạng phủ từ sau khi ra đời). Tinh có thể sinh tủy, tủy có thể hóa huyết. Đồng thời Mệnh Môn trong thận là gốc khí, là gốc của mười hai kinh, là nguồn sinh hóa, cũng là động lực làm ấm và thúc đẩy sinh hóa huyết dịch. Vì vậy, y học cổ truyền có câu “Sinh huyết căn bản tại vu thận” (生血根本在于肾) căn bản của sinh ra huyết là ở thận. Trên lâm sàng, muốn trị huyết hư cần phải dưỡng thận bổ sung tinh, tinh tủy đủ thì máu sẽ tự nhiên hưng thịnh. Các đơn thuốc thường được sử dụng bao gồm Thố ti tử ẩm, Nhị tiên đan. Thường dùng các vị thuốc bổ thận như Lộc nhung, Lộc giác giao, A giao, Quy bản giao, Ba kích thiên, Tỏa dương, Dâm dương hoắc, Bổ cốt chỉ, Thố ti tử, Phụ tử, Nhục quế, Thủ ô, Thục địa, Cẩu kỷ tử, Tử hà xa…
IV/ Khứ ứ sinh huyết
Bất kể doanh huyết được chuyển hóa bởi tỳ vị, hay được chuyển hóa bởi tinh tủy, doanh huyết đều phải được giải phóng và thông qua qua kinh mạch và các tủy đạo, lưu thông khắp cơ thể. Tinh tủy chuyển hóa thành máu, được bẩm thụ tử tiên thiên (bẩm sinh) và được nuôi dưỡng ở hậu thiên, Tinh của nước, ngũ cốc và tinh của ngũ tạng cũng được các kinh mạch vận chuyển, hội tụ ở mạch Xung — còn gọi là huyết hải, tương hội với đại lạc của thận để nuôi thận, nuôi dưỡng xương tủy. Nếu khí huyết tắc nghẽn, mạch đạo không thông, tủy xương sẽ bị suy kiệt do thiếu dinh dưỡng, khiến quá trình sinh hóa huyết dịch kém hiệu quả. Các phương thuốc thường được sử dụng bao gồm thang Tứ vật đào hồng, thang Bổ dương hoàn ngũ, thang Huyết phủ trục ứ…Các vị thuốc hoạt huyết hóa ứ thường dùng: Đương quy, Xuyên khung, Đan sâm, Tam thất, Đan bì, Hương phụ…
V/ Giải độc sinh huyết
Y học cổ truyền cho rằng, bất kể nội thương do thất tình (7 cảm xúc) hay sáu yếu tố (lục nhân) bên ngoài gây ra, ưu uất lâu ngày đều có thể hóa hỏa, khí của hỏa nhiệt có khả năng tiêu hao huyết và tổn hại chân âm nhiều nhất. Hơn nữa, các chất độc hóa học, vật lý, sinh học có thể xâm nhập vào gan thận, trực tiếp gây ra tình trạng thiếu hụt tinh tủy, dẫn đến không có nguồn hóa sinh huyết dịch. Chất độc bế hãm bên trong hoặc thất tình uất hỏa (cửu uất hóa hỏa) có thể làm tắc nghẽn kinh mạch, hình thành huyết ứ, dẫn đến không thể tạo ra huyết mới, do đó cần phải thanh nhiệt và giải độc. Các phương dược thường dùng bao gồm thang Tê giác địa hoàng, thang Tam hoàng thạch cao, thang Nhân trần hao, Ngũ vị tiêu độc ẩm, thang Thanh doanh, Thanh ôn bại độc ẩm. Các vị thuốc thanh nhiệt giải độc thường dùng:, Bồ công anh, Ngân hoa, Liên kiều, Bạch hoa xà thiệt thảo, Bản lam căn, Đại thanh diệp, Hoàng liên, Hoàng cầm, Hoàng bá, Tử hoa địa đinh, Đại hoàng, Tử thảo, Nhân trần, Bán chi liên…
Trên lâm sàng thường dùng cho bệnh Tái sinh chướng ngại tính bần huyết cấp tính, Bệnh bạch huyết cấp tính, bệnh Thiếu máu do tan máu…
Bệnh nhân huyết hư có thể tập những bài tập khí công nào?
Khí công là một phương pháp tự tập luyện độc đáo và là hoạt động thể dục kết hợp điều trị y tế. Nó có thể phát huy tiềm năng của cơ thể con người, điều hòa cơ thể, tâm trí và hơi thở, rèn luyện tinh hoa, năng lượng và tinh thần của con người, trau dồi và nâng cao năng lượng thực sự, điều chỉnh các chức năng bên trong của cơ thể, tăng cường thể lực, nâng cao sức đề kháng bệnh tật, từ đó đạt được mục tiêu chữa bệnh và bồi bổ cơ thể. Hiện nay, cả phương pháp điều trị bằng thuốc của y học cổ truyền và phương Tây đều là phương pháp điều trị thụ động, dựa vào thuốc để phát huy tác dụng chữa bệnh, trong khi khí công là phương pháp trị liệu tích cực dựa vào sự chủ động chủ quan và sức mạnh của chính con người để điều chỉnh và nâng cao chức năng sinh lý của chính mình. Luyện khí công không có tác dụng phụ, tiết kiệm và có thể tập bất cứ lúc nào.
Đối với bệnh huyết hư do thiếu sắt, huyết hư hồng cầu cự ấu tế bào huyết hư bất sản, bạn có thể sử dụng các bài tập bồi dưỡng bên trong, bài tập tăng cường sức khỏe, bài tập chăm sóc sức khỏe và bài tập đi bộ do Lưu Quý Trân sáng tạo, cũng như Thái Cực Quyền đơn giản hóa.
I/ Huyết hư thiếu sắt và huyết hư hồng cầu cự ấu dinh dưỡng
Phương pháp chính: Nội dưỡng công, phương pháp thở thứ nhất, có thể sử dụng cả ngồi và nằm, tập trung vào việc hộ trì đan điền.
Bài tập phối hợp: Trường tráng công, tư thế hoa sen tự nhiên. Hãy thở tự nhiên và ý thủ Đan Điền. Đơn giản hóa Thái Cực Quyền hoặc các bài tập đi bộ.
II/ Huyết hư bất sản
Các bài tập chính: Trường tráng công, sử dụng cả ngồi và đứng, ý thủ đan điền. Chọn hoặc thêm hoặc bớt các bài tập tùy theo tỉnh trạng bệnh.
Các bài tập phối hợp: Bảo kiện công và Thái Cực Quyền đơn giản.
Về nguyên tắc, những người mắc các loại bệnh huyết hư khác cũng có thể tập các bài tập khí công có tác dụng bảo vệ sức khỏe, bạn có thể tham khảo các sách khí công liên quan hoặc tham khảo ý kiến của các thầy khí công.
Một số bài thuốc đơn giản của y học cổ truyền để bổ máu là gì?
① Tang thầm 50g, Cẩu kỷ 20g. Sắc uống.
② Hoàng kỳ 50g, táo tàu 10 quả, Đương quy 9g, Kỷ tử 9g. Sắc uống.
③ Nhân sâm 6g, táo tàu 10 trái, sắc lấy nước uống. Trị huyết hư do mất máu, suy nhược, suy nhược cơ thể do xuất huyết nhiều.
④ Thục địa hoàng 12g, Đương quy 10g, Bạch thược 10g, Xuyên khung 6g. Sắc uống.
⑤ Sinh địa 30g, Mạch đông 12g, Kỷ tử 12g, sắc canh trước, sau đó nấu tiết canh gà vịt, thêm gia vị. Dành cho bệnh nhân huyết hư thiếu sắt và huyết hư loại hình âm hư.
⑥ Hoàng kỳ 30g, Đương quy12g, sắc lấy nước và uống. Nó được sử dụng cho bệnh huyết hư do thiếu cả khí và huyết.
Các loại thành dược để điều trị bệnh huyết hư :
① Thuốc Bát trân: Gồm nhân sâm, bạch truật, Phục linh, Cam thảo, Địa hoàng, Đương quy, Bạch thược và Xuyên khung, có tác dụng bổ khí và huyết, có thể điều trị chứng huyết hư do chấn thương chảy máu, xuất huyết tiêu hóa, xuất huyết tử cung chức năng ở phụ nữ,… Đặc biệt thích hợp với những người có các triệu chứng khí huyết hư yếu như cơ thể gầy gò, nước da nhợt nhạt, chán ăn, mệt mỏi, thường xuyên khó thở, v.v. dùng thuốc trong một thời gian dài và thường có thể đạt được kết quả tốt.
② Nhân sâm dưỡng vinh hoàn: Thành phần gồm Nhân sâm, Hoàng kỳ, Bạch truật, Phục linh, Cam thảo, Thục địa, Đương quy, Bạch thược, Nhục quế, Trần bì, Ngũ vị, Viễn chí, Sinh khương, Đại táo, có tác dụng bổ ích khí huyết an thần định chí. Thích hợp với chứng huyết hư kèm theo mất ngủ.
③Thang Quy tỳ: gồm Nhân sâm, Hoàng kỳ, Bạch truật, Phục linh, Cam thảo, Đương quy, Long nhãn nhục (quế viên nhục), Toan táo nhân, Viễn chí, Mộc hương, Sinh khương, Đại táo, có tác dụng bổ tỳ dưỡng tâm, ích khí sinh huyết, thích hợp cho người bệnh huyết hư, ăn uống kém, hồi hộp.
④ Thất bảo mỹ nhiêm đan: Thành phần gồm: Hà thủ ô, Phục linh, Ngưu tất, Kỷ tử, Đương quy, Thố ti, Bổ cốt chỉ, có tác dụng bồi bổ can thận, bổ huyết đen tóc, thích hợp với chứng bần huyết loại hình can thận âm hư.
⑤Quy lộc nhị tiên giao: Gồm các thành phần: Quy bản, Lộc giác, Nhân sâm, Kỷ tử, có tác dụng dưỡng âm bổ tinh, ích thận tráng dương thận cường dương, thích hợp với chứng bần huyết loại hình thận tinh hư tổn.
⑥Hà xa đại tạo hoàn: Thành phần gồm Tử hà xa, Thục địa, Đỗ trọng, Thiên đông, Mạch đông, Quy bản, Hoàng bá, Ngưu tất, có tác dụng bổ thận thêm tinh, dưỡng âm và tả hỏa. thích hợp cho những người bị huyết hư thuộc âm hư, nội nhiệt.
Chú thích về khí huyết
* Theo y học cổ truyền Trung Quốc, “Huyết vi khí mẫu” (血为气母) có hai nghĩa: Một là Khí tồn tại trong huyết và lưu thông huyết, tức là huyết mang (tải) Khí; Hai là sự chuyển hóa. Khí dùng huyết làm cơ sở vật chất. Khí có thể vận chuyển huyết, huyết có thể vận chuyển khí và khí tồn tại trong huyết. Như {Nội Kinh} viết: “Doanh hành mạch trung” (营行脉中), “doanh” này ám chỉ doanh khí, doanh khí là Khí tồn tại trong huyết. Vệ khí tuy chạy ngoài mạch nhưng cũng cần dịch cơ thể để vận chuyển. “Nội Kinh” viết: “Thượng tiêu khai phát, tuyên ngũ cốc vị, huân phu, sung thân, trạch mao, nhược vụ lộ chi khái, thị vị khí.” (上焦开发,宣五谷味,熏肤、充身、泽毛,若雾露之溉,是谓气。) Thượng tiêu khai phát lan tỏa vị ngũ cốc, thấm vào da thịt, sung túc thân thể, mượt lông tóc, như tưới tắm của sương sa, gọi là khí. {Huyết Chứng Luận} viết: “Thủ khí giả tức thị huyết” (守气者即是血), Giữ gìn khí chính là huyết, Ý tứ chính là khí không thể li khai huyết mà tồn tại. Nếu khí không dựa vào huyết thì sẽ trôi nổi như không có gốc rễ, khí tồn tại trong huyết, đồng thời huyết vận chuyển khí, huyết không ngừng cung cấp cơ sở vật chất cho công năng hoạt động của khí, cho phép khí được bổ sung liên tục, vì thế khí không thể tách rời huyết và tân dịch mà tồn tại được.
Tóm lại, quan hệ của khí và huyết là khí có thể sinh huyết, khí có thể vận hành huyết, khí có thể giữ (thống nhiếp) huyết, huyết là mẹ khí.
Ly Nguyễn Nghị
18/11/2023