Khái quát
Hoắc loạn là bệnh chứng khởi phát đột ngột, đặc trưng bởi nôn mửa và tiêu chảy cùng xuất hiện hoặc nối tiếp nhau trong thời gian ngắn. Chữ “hoắc” biểu thị sự phát bệnh nhanh chóng; chữ “loạn” chỉ tình trạng thanh trọc rối loạn, khí cơ thăng giáng của Tỳ Vị bị đảo nghịch.
Phạm vi của Hoắc loạn trong y học cổ truyền tương đối rộng, không hoàn toàn đồng nhất với bệnh tả do phẩy khuẩn tả trong y học hiện đại. Ngoài bệnh tả, một số trường hợp viêm dạ dày – ruột cấp, ngộ độc thực phẩm hoặc nôn tiêu cấp tính cũng có thể được xếp vào phạm vi Hoắc loạn căn cứ biểu hiện lâm sàng.
Bệnh tả do vi khuẩn là một bệnh truyền nhiễm cấp tính nguy hiểm. Khi người bệnh tiêu chảy dữ dội, nôn liên tục, khát nhiều, mắt trũng, da khô nhăn, tiểu ít, tay chân lạnh, mạch yếu, lơ mơ hoặc huyết áp hạ, cần lập tức đưa đến cơ sở y tế để bù nước và điện giải. Điều trị Trung y chỉ có thể được cân nhắc như phương pháp hỗ trợ dưới sự theo dõi chuyên môn, không được trì hoãn truyền dịch, xét nghiệm và điều trị cấp cứu.
Nguyên nhân và bệnh cơ
Đan Khê Tâm Pháp khi bàn về Hoắc loạn cho rằng bên trong có tích trệ, bên ngoài cảm ngoại tà, khiến nôn và tiêu chảy cùng phát. Nói tóm lại, bệnh thường liên quan đến ngoại cảm thời tà, ăn uống bất cẩn và Tỳ Vị vốn suy yếu.
Ngoại cảm thử thấp, hàn thấp hoặc uế trọc
Bệnh thường xuất hiện vào mùa hè và mùa thu, khi khí hậu nóng ẩm, thức ăn dễ hư hỏng và thấp trọc dễ xâm phạm cơ thể. Thử thấp hoặc uế trọc xâm nhập Trung tiêu khiến Tỳ mất kiện vận, Vị mất hòa giáng, thanh khí không thăng, trọc khí không giáng, dẫn đến nôn mửa và tiêu chảy đột ngột.
Nếu tham mát, nằm nơi ẩm lạnh, uống nhiều nước lạnh hoặc ăn nhiều thực phẩm sống lạnh, hàn thấp có thể trực tiếp làm tổn thương Tỳ dương, khiến vận hóa đình trệ và phát thành Hàn hoắc loạn.
Ăn uống không điều độ
Ăn thức ăn ôi thiu, không sạch, sống lạnh hoặc quá nhiều dầu mỡ làm tổn thương Tỳ Vị, khiến thức ăn đình trệ, thấp trọc phát sinh. Khi trọc tà ngăn trở Trung tiêu, khí cơ thăng giáng rối loạn, thanh trọc hỗn tạp, nôn tiêu liền xuất hiện.
Thể chất Tỳ Vị hư yếu
Người Tỳ Vị dương hư, thường sợ lạnh, ăn uống kém hoặc dễ tiêu chảy có khuynh hướng phát Hàn hoắc loạn. Người vốn có thấp nhiệt, thường khát, miệng đắng, rêu lưỡi vàng nhờn hoặc thường dùng rượu và thức ăn cay nóng dễ phát Nhiệt hoắc loạn.
Tân dịch hao tổn, khí dương suy thoát
Nôn tiêu dữ dội làm tân dịch hao tổn nhanh chóng. Tân dịch tổn thương thì gân mạch mất nuôi dưỡng, có thể xuất hiện co rút cơ bắp, khát nước, da khô và tiểu ít. Nếu bệnh tiếp tục tiến triển, khí theo dịch thoát ra ngoài, Dương khí không còn ôn ấm tứ chi, người bệnh có thể xuất hiện mặt tái, tay chân quyết lạnh, mồ hôi lạnh, tiếng nói nhỏ yếu và mạch vi tế.
Đây là bệnh cảnh nguy hiểm, tương ứng với mất nước nặng và suy tuần hoàn trong y học hiện đại, phải được cấp cứu ngay.
Biện chứng luận trị
Hàn thấp phạm Trung tiêu
Biểu hiện
Nôn mửa và tiêu chảy khởi phát đột ngột, phân lỏng hoặc như nước đục, mùi không quá hôi, bụng đầy tức, có thể đau âm ỉ, miệng nhạt, không khát hoặc thích uống ấm, chân tay lạnh, người mệt, lưỡi nhạt, rêu trắng nhớt, mạch nhu hoãn hoặc trầm nhược.
Bệnh cơ
Hàn thấp xâm phạm Trung tiêu, Tỳ dương bị trở ngại, Vị khí nghịch lên nên nôn; Tỳ không vận hóa, thanh trọc cùng đi xuống nên tiêu chảy.
Phép trị
Giải biểu hóa thấp, phương hương hóa trọc, ôn trung hòa Vị.
Phương thang
Hoắc Hương Chính Khí Tán gia giảm.
Hoắc hương, Tô diệp, Bạch chỉ, Bán hạ chế, Trần bì, Hậu phác, Phục linh, Bạch truật, Cát cánh, Đại phúc bì, Cam thảo, Sinh khương, Đại táo.
Gia giảm
Nôn nhiều có thể gia Sinh khương, Trúc nhự.
Đau bụng do hàn rõ có thể gia Mộc hương, Sa nhân.
Tiêu chảy nhiều, bụng sôi có thể gia Biển đậu, Ý dĩ.
Tứ chi lạnh rõ phải đánh giá mức độ mất nước và tuần hoàn, không nên chỉ dựa vào thuốc ôn trung.
Thấp nhiệt uẩn kết Trung tiêu
Biểu hiện
Nôn tiêu đột ngột, phân nước có mùi hôi, ngực bụng bứt rứt, miệng khát, có thể sốt hoặc cảm giác nóng trong người, tiểu ít và vàng đỏ, lưỡi đỏ, rêu vàng nhớt, mạch nhu sác hoặc hoạt sác.
Bệnh cơ
Thử thấp hoặc thấp nhiệt kết lại ở Trung tiêu, làm trở ngại khí cơ Tỳ Vị. Nhiệt bức tân dịch đi xuống gây tiêu chảy; Vị khí nghịch lên gây nôn mửa.
Phép trị
Thanh nhiệt hóa thấp, phương hương tị uế, điều hòa Vị Trường.
Phương thang
Hoàng Cầm Định Loạn Thang gia giảm.
Hoàng cầm, Hoàng liên, Bồ công anh, Bán hạ chế, Ngô thù du, Hoạt thạch.
Có thể tham khảo Nhiên Chiếu Thang khi thấp nhiệt và uế trọc cùng thịnh.
Hoàng cầm, Sơn chi, Hoạt thạch, Đậu xị, Bán hạ, Hậu phác, Bạch đậu khấu.
Gia giảm
Khát nhiều có thể gia Thiên hoa phấn, Lô căn.
Co rút cơ bắp có thể gia Bạch thược, Mộc qua, Cam thảo.
Tiểu ít có thể gia Phục linh, Trư linh, nhưng phải ưu tiên đánh giá mất nước và chức năng thận.
Ngực bụng đầy tức rõ có thể gia Chỉ xác, Hậu phác.
Khí âm lưỡng thương
Biểu hiện
Sau nôn tiêu dữ dội, người bệnh mệt lả, khát nhiều, môi lưỡi khô, da khô nhăn, hơi thở yếu, có thể tự ra mồ hôi, chân tay co rút, tiểu ít, lưỡi nhạt đỏ hoặc khô, mạch tế sác hoặc hư nhược.
Bệnh cơ
Tân dịch hao tổn, khí theo dịch mà suy. Khí hư không vận hành được tân dịch, âm thương không nuôi dưỡng được gân mạch nên xuất hiện khát, mệt, co rút và tiểu ít.
Phép trị
Ích khí sinh tân, dưỡng âm hòa Vị.
Phương thang
Sinh Mạch Tán gia giảm.
Đảng sâm hoặc Nhân sâm, Mạch môn, Ngũ vị tử.
Có thể phối hợp Bạch thược, Cam thảo để dưỡng âm, thư cân; Trúc diệp, Thạch hộc để sinh tân; Hoàng liên lượng nhỏ khi còn thấp nhiệt.
Chú ý
Khí âm lưỡng thương trong bệnh tả thường đi kèm mất nước và điện giải rõ rệt. Bổ khí sinh tân bằng phương dược không thể thay thế Oresol hoặc truyền dịch.
Dương khí suy thoát
Biểu hiện
Nôn tiêu dữ dội, sắc mặt trắng xanh, mắt trũng, giọng khàn nhỏ, tứ chi lạnh, mồ hôi lạnh đầm đìa, da nhăn, co rút cơ bắp, tinh thần lờ đờ, lưỡi nhạt, rêu trắng, mạch trầm vi hoặc khó bắt.
Bệnh cơ
Thổ tả quá mức làm tân dịch và Dương khí cùng hao kiệt. Tâm dương không đủ thúc đẩy huyết mạch, Tỳ Thận dương khí suy tổn, dẫn đến quyết lạnh và mạch vi.
Phép trị
Hồi dương cứu nghịch, ích khí cố thoát.
Có thể tham khảo Phụ Tử Lý Trung Thang hoặc Tứ Nghịch Thang gia giảm trong điều kiện có thầy thuốc chuyên môn theo dõi.
Chú ý
Đây là tình trạng cấp cứu nguy kịch. Không được tự dùng Phụ tử, Can khương hoặc thuốc hồi dương tại nhà. Phụ tử có độc tính đối với tim và thần kinh, phải được bào chế đúng, sắc đúng thời gian và sử dụng dưới sự giám sát chuyên môn. Việc quan trọng nhất là lập tức bù dịch, chỉnh điện giải, theo dõi huyết áp, tim mạch và chức năng thận.
Can hoắc loạn 乾霍亂
Can hoắc loạn còn gọi là Hoắc loạn khô, biểu hiện muốn nôn nhưng không nôn ra, muốn đi tiêu nhưng không đi được, bụng đau quặn, đầy trướng, bứt rứt, có thể ra mồ hôi lạnh và tứ chi lạnh.
Theo Trung y, bệnh do uế trọc, thực tích hoặc hàn thấp bế tắc Trung tiêu, khiến khí cơ không thể thăng giáng, tà khí không có đường thoát.
Phép trị truyền thống là khai uất, hành khí, hóa trọc, thông điều Trung tiêu. Tuy nhiên, đau bụng quặn dữ dội kèm không nôn, không đi tiêu cũng có thể gặp trong tắc ruột, xoắn ruột, viêm tụy cấp, nhồi máu mạc treo hoặc những bệnh ngoại khoa nguy hiểm. Vì vậy, không nên tự dùng thuốc công hạ, kích nôn hoặc các vị có độc tính. Người bệnh cần được đưa đi cấp cứu để xác định nguyên nhân.
Giai đoạn hồi phục
Biểu hiện
Sau khi nôn tiêu đã giảm, người bệnh còn mệt mỏi, ăn uống kém, miệng khô, tinh thần suy giảm, có thể sốt nhẹ về chiều, lưỡi hơi đỏ, rêu mỏng, mạch tế.
Bệnh cơ
Tà khí đã lui nhưng khí âm chưa hồi phục, Tỳ Vị còn suy yếu, khả năng tiếp nhận và vận hóa thức ăn chưa bình thường.
Phép trị
Ích khí sinh tân, thanh dư nhiệt, kiện Tỳ hòa Vị.
Phương thang
Thanh Thử Ích Khí Thang gia giảm.
Thái tử sâm, Mạch môn, Trúc diệp, Thạch hộc, Ô mai, Hà diệp, Tây qua bì.
Nếu ăn uống kém có thể gia Sơn tra, Thần khúc, Mạch nha sao.
Nếu bụng đầy, rêu lưỡi nhớt có thể gia Trần bì, Sa nhân.
Nếu miệng khô, khát nhẹ có thể gia Sa sâm, Ngọc trúc.
Châm cứu và ngoại trị
Châm cứu chỉ nên dùng hỗ trợ khi người bệnh đã được đánh giá, bù đủ nước và điện giải, không có sốc hoặc biến chứng cấp.
Nôn nhiều có thể chọn Nội quan, Trung quản, Túc tam lý.
Tiêu chảy và đau bụng có thể chọn Thiên khu, Túc tam lý, Công tôn, Khí hải.
Hàn thấp rõ, bụng lạnh đau có thể cứu nhẹ Thần khuyết, Khí hải, Quan nguyên khi không sốt cao và không mất nước nặng.
Co rút bắp chân có thể chọn Thừa sơn, Dương lăng tuyền, Thái khê, nhưng phải đồng thời kiểm tra và điều chỉnh Natri, Kali, Calci.
Không nên châm cứu hoặc cứu kéo dài khi người bệnh huyết áp thấp, mạch yếu, da lạnh, lơ mơ hoặc mất nước nặng.
Điều dưỡng và ăn uống trong thời kỳ hồi phục
Sau khi hết nôn và tình trạng tuần hoàn ổn định, nên cho người bệnh uống từng ngụm nhỏ, tăng dần theo khả năng dung nạp. Thức ăn cần mềm, ấm, dễ tiêu, ít dầu mỡ.
Có thể dùng cháo gạo tẻ, cháo Ý dĩ với lượng vừa, nước cơm, canh loãng hoặc thức ăn mềm. Không nên ăn thức ăn sống lạnh, cay nóng, nhiều dầu mỡ, rượu bia hoặc thực phẩm khó tiêu.
Cần tiếp tục theo dõi số lần đi tiêu, lượng nước tiểu, khát nước, mạch, huyết áp và tình trạng tỉnh táo. Nếu tiêu chảy tăng trở lại, tiểu ít, mệt lả, tim đập bất thường hoặc tay chân lạnh, phải tái khám ngay.
Chú ý
Hoắc loạn trong Trung y là một phạm vi bệnh chứng rộng, còn bệnh tả hiện đại là bệnh truyền nhiễm xác định do Vibrio cholerae. Hai khái niệm có phần giao nhau nhưng không thể đồng nhất hoàn toàn.
Bù nước và điện giải là biện pháp quan trọng nhất trong điều trị bệnh tả. Người bệnh nhẹ cần uống Oresol pha đúng hướng dẫn; người bệnh vừa hoặc nặng cần truyền dịch tại cơ sở y tế.
Không tự dùng Phụ tử, Ba đậu, Đại hoàng liều cao, Mang tiêu, Chu sa, Hùng hoàng, Xạ hương hoặc các chế phẩm không rõ thành phần.
Không dùng nước tiểu trẻ em, kích nôn, móc họng, uống nước muối đặc, uống rượu hoặc các phương pháp dân gian chưa được kiểm chứng.
Không cạo gió, cứu nóng hoặc chườm nóng khi người bệnh sốt cao, khát nhiều, lưỡi đỏ, da nóng hoặc có dấu hiệu mất nước nặng.
Không trì hoãn cấp cứu khi tiêu chảy nước liên tục, nôn không uống được, mắt trũng, khát dữ dội, tiểu rất ít, co rút cơ, lơ mơ, mạch nhanh yếu hoặc tay chân lạnh.
Kết luận
Theo Trung y, Hoắc loạn chủ yếu do thử thấp, hàn thấp, uế trọc hoặc thức ăn không sạch làm tổn thương Tỳ Vị, khiến thanh trọc hỗn loạn, khí cơ thăng giáng thất thường mà phát thành nôn và tiêu chảy. Bệnh mới phát thường phân thành Hàn thấp và Thấp nhiệt; bệnh nặng có thể làm khí âm cùng tổn thương, thậm chí Dương khí suy thoát.
Biện chứng luận trị có thể vận dụng các phép phương hương hóa trọc, ôn trung tán hàn, thanh nhiệt hóa thấp, ích khí sinh tân và hồi dương cứu nghịch tùy tình trạng. Tuy nhiên, với bệnh tả do vi khuẩn, bù nước, điện giải, cách ly, xét nghiệm và điều trị y học hiện đại luôn giữ vai trò nền tảng. Trung y chỉ nên được phối hợp thận trọng sau khi người bệnh đã được cấp cứu và đánh giá đầy đủ.
Trường Xuân biên soạn