Hầu nga (viêm amidan)
Tham khảo tư liệu:
Hầu nga (Viêm amidan)
Viêm amiđan trong y học cổ truyền gọi là Hầu nga (sâu họng), xảy ra ở hai bên cổ họng và có hình dạng giống núm vú và sâu bướm nên còn gọi là Nhũ nga. Nếu nó xuất hiện ở một bên thì đó là sâu bướm đơn “Đơn nga” (单蛾), nếu nó xảy ra ở cả hai bên thì đó là sâu bướm đôi “Song nga” (双蛾). Đơn là bệnh nhẹ, đôi là bệnh nặng. Bệnh có thể chia thành cấp tính và mạn tính, bệnh mạn tính còn gọi là mạn nga, man nga và vạn nga. Thuốc kháng sinh có hiệu quả trong giai đoạn cấp tính sớm; Kháng sinh không có hiệu quả trong giai đoạn cấp tính muộn nếu tình trạng mưng mủ hoặc cứng ngắc vẫn tồn tại. Y học cổ truyền có một bộ các phương pháp biện chứng luận trị được giới thiệu ngắn gọn như sau:
Nguyên nhân và bệnh sinh
Viêm amiđan cấp tính phần lớn là do ngoại nhiệt phong, tà độc, người bệnh thường có thói quen ăn cay, nhiều dầu mỡ, khiến hoả của phế vị ảnh hưởng lên cổ họng, dẫn đến họng đau, sưng đỏ, thậm chí có mủ. Trường hợp nhẹ chỉ sưng tấy chứ không đau, người bệnh thường không chú ý và không điều trị kịp thời, dẫn đến mủ bị ứ đọng, gây cứng và khó tiêu, hoặc cơ thể suy nhược không đề kháng được bệnh, và bệnh chuyển thành mạn tính.
Nguyên tắc chung về biện chứng luận trị
Đối với các cơn cấp tính, những người có biểu hiện chứng trạng bệnh còn ở ngoài (biểu chứng) nên dùng thuốc tân lương giải biểu (thuốc cay mát giải bệnh ở ngoài). Với những người sốt cao, khát nhiều, phổi và dạ dày nóng quá mức thì nên thanh nhiệt ở phế vị phối hợp với thuốc thông lợi cổ họng, giảm đau và giải độc. Nếu bên trong quá nóng đại tiện táo bón nên nhanh chóng dùng phép tả hạ, rút củi đáy nồi “Phủ để trừu tân” (釜底抽薪) để nhanh chóng khống chế bệnh, là phương pháp tiêu trừ bệnh lý tưởng nhất. Thời kỳ mạn tính của bệnh nên phù chính khứ tà (bồi bổ cơ thể và trừ khứ bệnh), thanh dưỡng (bồi bổ nhẹ nhàng) âm của phế vị, kèm theo thuốc hoạt huyết tiêu sưng. Bất kể là cấp tính hay mạn tính, ngoài việc dùng thuốc nội khoa, các phương pháp điều trị bên ngoài như xịt, súc miệng, ngậm cũng cần thiết để hỗ trợ.
Các loại hội chứng thường gặp
Giai đoạn cấp tính
1. Loại hình phong nhiệt: Khi bắt đầu giai đoạn cấp tính, nếu sốt, đau họng, sưng tấy đỏ, mạch phù sác thì đây là ngoại cảm phong nhiệt, dùng Ngân kiều tán (Ngân hoa, Liên kiều, Bạc hà, Ngau bàng, Trúc diệp, Cam thảo, Cát cánh, Kinh giới, Đậu thị, Lô căn) với tính chất cay mát để giải trừ biểu chứng (tân lương giải biểu), thanh nhiệt giải độc.
2. Đối với loại hình phong hàn, nếu có cổ họng đau, sưng tấy đỏ, sốt, sợ lạnh, không ra mồ hôi, không khát, rêu lưỡi trắng thì là cảm thụ phong hàn từ bên ngoài, dùng Kinh phòng bại độc tán (Kinh giới, Phòng phong, Khương hoạt, Độc hoạt, Sài hồ, Tiền hồ, Chỉ xác, Cát cánh, Cam thảo) để phát hãn giải biểu trừ bệnh.
3. Đối với loại hình hỏa độc, cổ họng sưng đỏ, đau nhức, sốt cao và rất khát, rêu lưỡi vàng, mạch hoạt sác, đại tiện không thông là do tà hỏa và nhiệt độc mạnh mẽ tràn lên trên, vì vậy nên chọn Thanh yết lợi tràng thang (Liên kiều, Hoàng cầm, Cát cánh, Cam thảo, Kinh giới, Phòng phong, Sơn chi, Bạc hà, Huyền sâm, Ngân hoa, Hoàng liên, Ngưu bàng, Đại hoàng, Mang tiêu), để thanh hoả và giải trừ nhiệt độc.
4. Loại hình sưng tấy cục bộ thường là chứng nhẹ, chỉ có đỏ, sưng và đau cục bộ ở hầu họng, nhưng không có triệu chứng toàn thân. Chọn thuốc sắc Lục vị thang (Kinh giới, Phòng phong, Bạc hà, Cương tàm, Cát cánh, Cam thảo) gia Huyền sâm, Xạ can , Ngân hoa, Liên kiều, Ngưu bàng tử, hoặc phối với thang Tiêu thũng (Ngân hoa, Cam thảo, Tạo giác thích) để giải độc tiêu thũng. Các phương hỗ trợ như ngậm Lục thần hoàn, phun Tây qua sương, thổi Băng bằng tán, Trấn loại tán, Châu hoàng tán.
Giai đoạn mạn tính
1/ Loại hình phế hư với cổ họng đau nhức, sưng tấy đỏ, tái phát không ngừng hoặc ho, lưỡi đỏ, mạch sác là do phế âm hư và tà hỏa, nhiệt độc tràn lên. Nên chọn Dưỡng âm thanh phế thang (Sinh địa hoàng, Huyền sâm, Mạch môn đông, Xích thược dược, Mẫu đan bì, Cát cánh, Cam thảo), có tác dụng bồi bổ phế âm bồi bổ cơ thể, mát máu, giải trừ nhiệt độc.
2/ Người bị bệnh thận hư mạn tính, cổ họng sưng đỏ và đau, đau lưng, tiểu tiện ít, mạch hư vô lực, phần lớn là do thận âm hư. Nên chọn Cố bản hoàn (Nhân sâm, Thiên đông, Mạch đông, Sinh địa, Thục địa) Lục vị địa hoàng hoàn (Địa hoàng, Sơn dược, Sơn thù, Phục linh, Trạch tả, Đan bì) gia thêm các vị thuốc như Hoàng kỳ, Đương quy, Sơn giáp, Tạo giác thích để phù trợ căn bản sức khoẻ và giải độc tiêu viêm. Chú ý những điều kiêng kỵ như: Không ăn thịt gà, cá, tôm, cua, đồ ăn cay, béo.
Hai trường hợp xác minh
1. Xu ××, nữ, 11 tuổi. Lần khám đầu tiên (30/12/1997) Than phiền chính: đau họng và sốt 3 ngày.
Bệnh sử: nhức đầu, sốt 39,6 độ C từ hôm qua, không ra mồ hôi, đau họng, ho và hen suyễn, mạch phù sác 120 lần/phút, rêu lưỡi mỏng và nhờn.
Khám: Amiđan 2 bên sưng rất to.
Biện chứng: Đang là mùa đông, gió lạnh ảnh hưởng phế, nhiệt độc bế tắc ở trên.
Trị pháp: Sơ tán phong hàn, lợi yết tiêu thũng.
Xử phương: Ma hoàng, Bán hạ, Kinh giới, Phòng phong, Xuyên khung, Cát cánh mỗi loại 5 gram, Tô diệp, Đậu xị, Bạch chỉ, Đương quy, Hạnh nhân, Xạ can, Ngưu bàng, Sơn giáp, Tạo giác thích mỗi vị 10g, 2 thang. Ngoài ra: Một bình Lục thần hoàn, mỗi ngày 3 lần, mỗi lần 10 viên, ngậm nuốt.
Khám lần 2 (4/1/1998): Hết đau đầu, hạ sốt, hết ho suyễn, họng còn đau, đại tiện 3 ngày chưa đi. Mạch sác, 100 lần/phút. Chuyển trị pháp chủ yếu là Giải độc tiêu thũng. Với Cát cánh, Cam thảo mỗi vị 6g, Ngưu bàng, Tạo giác thích mỗi vị 15g, Nga truật, Ngân hoa, Liên kiều, Hoàng kỳ, Đương quy, pháo Sơn giáp, Chỉ xác, Đào nhân, Hạnh nhân, Tô tử, Bạch giới tử, Huyền sâm, Xạ can mỗi vị 10g, Đông qua tử 20g, Trần bì 5g, uống 4 thang. Ngoài ra: Dùng 2 hộp Ngưu hoàng giải độc phiến, mỗi ngày 3 lần, mỗi lần 4 phiến, uống với nước.
Diễn biến: Chẩn đoán thứ nhất là đau đầu, sốt, ho và hen suyễn nên Thang Tam ảo kết hợp với Lục thần thang, chủ yếu dùng Lục thần hoàn để điều trị các triệu chứng bên ngoài trước (biểu chứng); Chẩn đoán thứ hai chủ yếu là sưng họng và táo bón nên sử dụng Tiên phương hoạt mệnh ẩm gia giảm, để trừ kiên tiêu thũng, phối với Ngưu hoàng giải độc phiến để có thể thanh giải nhiệt độc, lại có tác dụng thông tiện tả hạ. Tuân thủ đúng nguyên tắc tiên biểu hậu lý (先表后里) điều trị bệnh bên ngoài trước, bên trong sau, cuối cùng toàn bộ bệnh viêm amidan đều được tiêu trừ.
2. Họ Đường ××, nữ, 17 tuổi. Lần khám đầu tiên (ngày 2 tháng 9 năm 1999) Than phiền chính: Hen suyễn và đau họng đã 4 ngày.
Bệnh sử: Tôi bị hen suyễn vào mỗi mùa thu đông trong 7-8 năm. Có kinh vào năm 13 tuổi, thường trễ từ 4-7 ngày, trước khi có kinh cô bị đau bụng và có tiền sử viêm mũi dị ứng. 4 ngày đầu tôi ăn uống không cẩn thận, bệnh hen suyễn và viêm mũi diễn biến phức tạp. Đồng thời còn bị đau họng, không thể nằm vào ban đêm, ngày nào cũng đi đại tiện khô kết. Mạch 90 lần/phút, màng lưỡi mỏng.
Khám: Sưng tấy hai bên amidan (biển đào thể).
Biện chứng: Tà nhiệt bế tắc ở trên, phế khí không lan toả. Trị pháp: Thanh nhiệt, tuyên phế, tiêu viêm.
Xử phương: Ma hoàng 6 gam, Xạ can, Huyền sâm, Đại lực tử, Hổ trượng, Đương quy, Địa long can, Nga bất thực thảo mỗi vị 10g, Hoàng kỳ sống 20g, Tạo giác thích 15g, Cát cánh 3g, uống 3 thang, Ngoài ra uống hai hộp Ngưu hoàng giải độc phiến, ngày uống 3 lần, mỗi lần 3 phiến.
Lưu ý: Trường hợp này có bệnh hen suyễn, viêm mũi, viêm amiđan đồng thời, cách điều trị là dùng phối hợp 3 phương pháp: Thanh nhiệt, tuyên phế, tiêu thũng. Hai tuần sau, cha anh nói: “Sau khi dùng thuốc trên, con sẽ có được cả ba.” Có thể thấy, quan điểm tổng thể của y học cổ truyền có thể phát huy công hiệu độc đáo trong việc điều trị các bệnh và hội chứng hỗn hợp.
Lương y Trường Xuân dịch
9/23/2023