Khái luận
Bệnh mạch vành có thể gặp ở cả nam và nữ, nhưng thời điểm phát bệnh, thể chất, hoàn cảnh sinh hoạt và biểu hiện lâm sàng thường không hoàn toàn giống nhau. Nam giới thường phát bệnh sớm hơn, còn nguy cơ ở phụ nữ tăng rõ rệt sau thời kỳ mãn kinh.
Trong Trung y, bệnh mạch vành thuộc phạm vi Hung tý (胸痹), Tâm thống (心痛), Tâm quý (心悸), Chinh xung (怔忡), Đoản khí (短气) và Hư lao (虚劳). Bệnh cơ căn bản vẫn là bản hư tiêu thực (本虚标实): khí huyết, âm dương và tạng phủ suy yếu là gốc; khí trệ, huyết ứ, đàm trọc và hàn ngưng làm Tâm mạch không thông là ngọn.
Sự khác biệt nam nữ không có nghĩa mỗi giới chỉ mắc một số thể bệnh nhất định. Nam giới vẫn có thể âm hư, khí huyết hư; phụ nữ vẫn có thể đàm trọc, hàn ngưng hoặc huyết ứ rõ. Việc phân chia chỉ giúp nhận biết những khuynh hướng thường gặp, còn biện chứng cuối cùng vẫn phải căn cứ chứng trạng, lưỡi, mạch, tuổi tác và thể chất của từng người.
Nam nữ và khí huyết
Trung y cho rằng nam lấy khí làm trọng, nữ lấy huyết làm gốc. Cách nói này nhằm nhấn mạnh sự khác nhau tương đối về sinh lý, không nên hiểu cứng nhắc rằng nam chỉ thuộc khí còn nữ chỉ thuộc huyết.
Ở nam giới, công việc nặng nhọc, áp lực, thức khuya, hút thuốc, rượu và ăn uống béo ngọt thường làm khí cơ uất trệ, Tỳ mất kiện vận, đàm trọc và huyết ứ dễ hình thành.
Ở nữ giới, kinh nguyệt, thai sản, cho con bú và mãn kinh đều liên quan mật thiết đến huyết, Xung mạch, Nhâm mạch, Can và Thận. Khi tuổi cao, thiên quý suy, Can Thận âm huyết giảm, Tâm mạch dễ mất nhu dưỡng; đồng thời khí trệ, đàm và ứ vẫn có thể cùng xuất hiện.
Nam giới và bệnh mạch vành
Nam giới trung niên thường có khuynh hướng lao lực, chịu áp lực công việc, ăn uống thất thường, dùng nhiều rượu, thuốc lá hoặc thức ăn béo ngọt. Những yếu tố này dễ làm Can khí uất, Tỳ sinh đàm, khí trệ huyết ứ.
Các bệnh cơ thường gặp gồm đàm trọc bế trở, đàm ứ hỗ kết, Can uất khí trệ, huyết ứ Tâm mạch và Tâm Thận dương hư.
Người có thân hình béo, bụng lớn, rêu lưỡi dày nhầy, ngực nặng và đàm nhiều thường thiên về đàm trọc.
Người thường xuyên căng thẳng, dễ giận, hay thở dài, ngực sườn đầy tức và lưỡi hơi tím thường thiên về Can uất, khí trệ huyết ứ.
Người tuổi cao, sợ lạnh, tay chân lạnh, lưng gối mỏi, đau ngực gặp lạnh tăng thường thiên về Tâm Thận dương hư, hàn ngưng Tâm mạch.
Phụ nữ và bệnh mạch vành
Phụ nữ trước mãn kinh thường có khí huyết tương đối đầy đủ hơn, nhưng khi có bệnh mạn tính, áp lực, mất ngủ, đái tháo đường, bệnh tự miễn hoặc thể chất hư yếu vẫn có thể mắc bệnh Tâm mạch.
Sau mãn kinh, thiên quý suy, Xung Nhâm giảm, Can Thận âm huyết dần bất túc. Người bệnh dễ xuất hiện hồi hộp, bốc hỏa, mất ngủ, ra mồ hôi đêm, miệng khô, chóng mặt và lưng gối mỏi. Nếu khí huyết vận hành không thuận, huyết ứ và đàm trọc cùng kết, ngực tức và đau ngực có thể xuất hiện.
Các bệnh cơ thường gặp ở phụ nữ gồm Can Thận âm hư, khí âm lưỡng hư, Tâm Tỳ lưỡng hư, huyết ứ và đàm ứ hỗ kết.
Phụ nữ có biểu hiện bệnh Tâm mạch đôi khi không đau ngực rõ mà chủ yếu thấy khó thở, mệt bất thường, đau lưng, đau hàm, buồn nôn, đầy tức thượng vị hoặc mất ngủ. Vì vậy, không nên chỉ căn cứ có hay không có đau ngực để đánh giá bệnh.
Mãn kinh và Tâm mạch
Mãn kinh trong Trung y liên quan đến sự suy giảm của Thận khí và thiên quý. Khi Thận âm giảm, Can mất sự nuôi dưỡng, hư dương dễ động; Tâm âm không đủ thì Tâm thần không yên; huyết mạch thiếu nhu dưỡng thì huyết hành dễ chậm.
Nếu Tỳ khí đồng thời suy, thấp tụ thành đàm; nếu khí cơ không điều đạt, khí trệ sinh ứ. Vì vậy, ở phụ nữ sau mãn kinh thường thấy âm hư, khí hư, đàm và ứ cùng tồn tại.
Điều trị không nên chỉ tư âm hoặc chỉ hoạt huyết. Cần xét rõ âm hư có kèm Tỳ hư, khí hư, đàm thấp hay huyết ứ hay không.
Nguyên tắc điều trị
Nam giới đàm trọc rõ thì kiện Tỳ hóa đàm, thông dương khoan hung.
Nam giới khí trệ huyết ứ thì sơ Can lý khí, hoạt huyết thông mạch.
Nam giới dương hư hàn ngưng thì ôn dương ích khí, tán hàn thông mạch.
Phụ nữ Can Thận âm hư thì tư bổ Can Thận, dưỡng Tâm an thần.
Phụ nữ khí âm lưỡng hư thì ích khí dưỡng âm, phục mạch.
Phụ nữ Tâm Tỳ lưỡng hư thì kiện Tỳ ích khí, dưỡng huyết an thần.
Phụ nữ sau mãn kinh có đàm ứ thì hóa đàm hoạt huyết, kiêm dưỡng Can Thận.
Một. Nam giới đàm ứ hỗ kết, Tâm mạch bế trở
Chứng trạng
Nam giới trung niên hoặc lớn tuổi, thân thể béo, bụng lớn, ngực tức nặng, đau vùng trước tim, đầu nặng, mệt mỏi, đàm nhiều, ăn uống nhiều thức ăn béo ngọt, lưỡi tím hoặc có điểm ứ, rêu trắng dày nhầy hoặc vàng nhầy, mạch huyền hoạt hoặc sáp.
Bệnh cơ
Ăn uống không điều độ làm Tỳ mất kiện vận, thấp tụ thành đàm. Đàm trọc lâu ngày làm khí huyết vận hành không thuận, dần hình thành huyết ứ. Đàm và ứ cùng kết trong Tâm mạch nên ngực nặng, tức đau và khó thở.
Pháp trị
Hóa đàm khứ trọc, hoạt huyết hóa ứ, thông Tâm mạch.
Phương thang
Qua lâu giới bạch bán hạ thang hợp Huyết phủ trục ứ thang gia giảm (瓜蒌薤白半夏汤合血府逐瘀汤加减): Qua lâu (瓜蒌), Giới bạch (薤白), Bán hạ (半夏), Trần bì (陈皮), Phục linh (茯苓), Chỉ xác (枳壳), Đan sâm (丹参), Đào nhân (桃仁), Hồng hoa (红花), Xích thược (赤芍), Xuyên khung (川芎), Đương quy (当归), Sinh địa hoàng (生地黄), Ngưu tất (牛膝), Uất kim (郁金), Cam thảo (甘草).
Gia giảm
Thân thể nặng, bụng lớn gia Sơn tra (山楂), Trạch tả (泽泻), Hà diệp (荷叶), Ý dĩ nhân (薏苡仁); ngực đau nhiều gia Huyền hồ sách (玄胡索), Đàn hương (檀香), Sa nhân (砂仁); rêu vàng nhầy, bứt rứt gia Hoàng cầm (黄芩), Trúc nhự (竹茹).
Ý nghĩa
Qua lâu, Giới bạch và Bán hạ hóa đàm, thông dương, khoan hung; Trần bì, Phục linh và Chỉ xác kiện Tỳ, lý khí; Đan sâm, Đào nhân, Hồng hoa, Xích thược và Xuyên khung hoạt huyết; Uất kim hành khí hóa ứ; Ngưu tất dẫn huyết đi xuống.
Chú ý
Người đang dùng thuốc chống đông hoặc thuốc kháng kết tập tiểu cầu không nên tự phối hợp nhiều vị hoạt huyết.
Hai. Nam giới Can uất, khí trệ huyết ứ
Chứng trạng
Đau tức ngực liên quan đến căng thẳng, giận dữ hoặc áp lực công việc; ngực sườn đầy tức, hay thở dài, dễ cáu, ngủ kém, miệng đắng, lưỡi tối hoặc có điểm ứ, mạch huyền sáp.
Bệnh cơ
Can khí uất kết làm khí cơ vùng ngực không thông. Khí trệ lâu ngày khiến huyết hành chậm, huyết ứ trở Tâm mạch nên đau ngực. Uất lâu có thể hóa nhiệt, làm người bệnh dễ giận, miệng đắng và ngủ không yên.
Pháp trị
Sơ Can lý khí, hoạt huyết thông mạch, dưỡng Tâm an thần.
Phương thang
Sài hồ sơ Can tán hợp Đan sâm ẩm gia giảm (柴胡疏肝散合丹参饮加减): Sài hồ (柴胡), Hương phụ (香附), Chỉ xác (枳壳), Bạch thược (白芍), Xuyên khung (川芎), Trần bì (陈皮), Cam thảo (甘草), Đan sâm (丹参), Đàn hương (檀香), Sa nhân (砂仁), Uất kim (郁金), Xích thược (赤芍), Toan táo nhân (酸枣仁).
Gia giảm
Dễ giận, miệng đắng gia Chi tử (栀子), Hoàng cầm (黄芩); mất ngủ gia Dạ giao đằng (夜交藤), Bá tử nhân (柏子仁), Hợp hoan bì (合欢皮); đau ngực rõ gia Qua lâu (瓜蒌), Giới bạch (薤白), Huyền hồ sách (玄胡索).
Ý nghĩa
Sài hồ, Hương phụ, Chỉ xác và Trần bì sơ Can lý khí; Bạch thược hòa Can; Đan sâm, Xuyên khung và Xích thược hoạt huyết; Đàn hương, Sa nhân và Uất kim hành khí khoan hung; Toan táo nhân dưỡng Tâm an thần.
Ba. Nam giới Tâm Thận dương hư, hàn ngưng Tâm mạch
Chứng trạng
Nam giới lớn tuổi, sợ lạnh, tay chân lạnh, đau ngực gặp lạnh tăng, thở ngắn, hồi hộp, mệt mỏi, lưng gối mỏi lạnh, tiểu đêm nhiều, lưỡi nhạt tím, rêu trắng, mạch trầm trì hoặc trầm tế.
Bệnh cơ
Thận dương suy làm Tâm dương mất nguồn ôn dưỡng. Dương khí không đủ thì huyết mạch mất sự ôn thông, hàn ngưng và huyết ứ hình thành, gây đau ngực, hồi hộp và tay chân lạnh.
Pháp trị
Ôn bổ Tâm Thận, tán hàn thông mạch, ích khí hoạt huyết.
Phương thang
Tham phụ thang hợp Qua lâu giới bạch quế chi thang gia giảm (参附汤合瓜蒌薤白桂枝汤加减): Đảng sâm (党参), Phụ tử chế (制附子), Qua lâu (瓜蒌), Giới bạch (薤白), Quế chi (桂枝), Đan sâm (丹参), Xuyên khung (川芎), Phục linh (茯苓), Chích cam thảo (炙甘草), Ngũ vị tử (五味子).
Gia giảm
Sợ lạnh rõ gia Can khương (干姜); phù nhẹ gia Trạch tả (泽泻), Xa tiền tử (车前子); đau nhiều gia Huyền hồ sách (玄胡索).
Ý nghĩa
Đảng sâm ích khí; Phụ tử chế và Quế chi ôn dương thông mạch; Qua lâu và Giới bạch khoan hung; Đan sâm và Xuyên khung hoạt huyết; Phục linh kiện Tỳ lợi thủy; Ngũ vị tử liễm khí định Tâm.
Chú ý
Phụ tử có độc tính, không được tự ý sử dụng. Người có rối loạn nhịp, tim đập nhanh hoặc huyết áp không ổn định càng phải thận trọng.
Bốn. Phụ nữ sau mãn kinh Can Thận âm hư
Chứng trạng
Hồi hộp, tức ngực âm ỉ, bốc hỏa, ra mồ hôi đêm, mất ngủ, dễ cáu, miệng khô, mắt khô, ù tai, chóng mặt, lưng gối mỏi, lưỡi đỏ ít rêu, mạch huyền tế sác.
Bệnh cơ
Sau mãn kinh, Thận khí và thiên quý dần suy, Can Thận âm huyết không đủ. Âm không nuôi được Tâm mạch nên hồi hộp và ngực tức; hư hỏa quấy nhiễu Tâm thần nên bốc hỏa, mồ hôi đêm và mất ngủ.
Pháp trị
Tư bổ Can Thận, dưỡng Tâm thông mạch, thanh hư nhiệt.
Phương thang
Kỷ cúc địa hoàng hoàn hợp Thiên vương bổ tâm đan gia giảm (杞菊地黄丸合天王补心丹加减): Thục địa hoàng (熟地黄), Sơn thù du (山茱萸), Sơn dược (山药), Phục linh (茯苓), Trạch tả (泽泻), Mẫu đơn bì (牡丹皮), Cẩu kỷ tử (枸杞子), Cúc hoa (菊花), Sinh địa hoàng (生地黄), Huyền sâm (玄参), Mạch môn đông (麦门冬), Đan sâm (丹参), Toan táo nhân (酸枣仁), Bá tử nhân (柏子仁), Ngũ vị tử (五味子).
Gia giảm
Bốc hỏa, mồ hôi đêm gia Tri mẫu (知母), Hoàng bá (黄柏), Phù tiểu mạch (浮小麦), Mẫu lệ (牡蛎); mất ngủ gia Dạ giao đằng (夜交藤), Viễn chí (远志); tức ngực, lưỡi tím gia Uất kim (郁金), Xích thược (赤芍).
Ý nghĩa
Thục địa, Sơn thù du, Sơn dược và Cẩu kỷ tử bổ Can Thận; Sinh địa, Huyền sâm và Mạch môn đông tư âm sinh tân; Đan sâm hoạt huyết; Toan táo nhân và Bá tử nhân dưỡng Tâm an thần; Ngũ vị tử liễm khí.
Năm. Phụ nữ khí âm lưỡng hư
Chứng trạng
Hồi hộp, thở ngắn, mệt mỏi, ngực tức âm ỉ, miệng khô, ra mồ hôi, ngủ kém, sắc mặt nhợt hoặc hơi đỏ, lưỡi đỏ nhạt hoặc ít rêu, mạch tế sác hoặc hư sác.
Bệnh cơ
Khí hư không đủ sức thúc đẩy huyết; âm hư làm Tâm mạch mất nhu dưỡng. Khí âm cùng suy nên người bệnh hồi hộp, thở ngắn, mệt và ngủ kém. Huyết hành không thuận có thể làm ngực tức âm ỉ.
Pháp trị
Ích khí dưỡng âm, phục mạch thông lạc, dưỡng Tâm an thần.
Phương thang
Sinh mạch tán hợp Chích cam thảo thang gia giảm (生脉散合炙甘草汤加减): Đảng sâm (党参), Mạch môn đông (麦门冬), Ngũ vị tử (五味子), Chích cam thảo (炙甘草), Sinh địa hoàng (生地黄), A giao (阿胶), Ma nhân (麻仁), Quế chi (桂枝), Sinh khương (生姜), Đại táo (大枣), Đan sâm (丹参), Toan táo nhân (酸枣仁).
Gia giảm
Mất ngủ gia Bá tử nhân (柏子仁), Dạ giao đằng (夜交藤); mồ hôi nhiều gia Phù tiểu mạch (浮小麦), Mẫu lệ (牡蛎); ngực tức gia Qua lâu (瓜蒌), Uất kim (郁金).
Ý nghĩa
Đảng sâm ích khí; Mạch môn đông và Sinh địa dưỡng âm; Ngũ vị tử liễm khí; Chích cam thảo và A giao dưỡng huyết phục mạch; Quế chi thông dương mạch; Đan sâm hoạt huyết; Toan táo nhân dưỡng Tâm.
Sáu. Phụ nữ Tâm Tỳ lưỡng hư
Chứng trạng
Hồi hộp, mất ngủ, nhiều mộng, lo nghĩ nhiều, sắc mặt nhợt, mệt mỏi, ăn kém, bụng đầy, ngực tức nhẹ hoặc đau âm ỉ, hay quên, lưỡi nhạt, mạch tế nhược.
Bệnh cơ
Tỳ khí hư làm nguồn sinh khí huyết không đầy đủ. Tâm huyết thiếu nuôi dưỡng nên hồi hộp, ngủ kém và hay quên. Khí huyết không đủ nuôi Tâm mạch nên ngực tức âm ỉ.
Pháp trị
Kiện Tỳ ích khí, dưỡng huyết an thần, kiêm thông Tâm mạch.
Phương thang
Quy Tỳ thang gia giảm (归脾汤加减): Đảng sâm (党参), Hoàng kỳ (黄芪), Bạch truật (白术), Phục linh (茯苓), Đương quy (当归), Long nhãn nhục (龙眼肉), Toan táo nhân (酸枣仁), Viễn chí (远志), Mộc hương (木香), Chích cam thảo (炙甘草), Đại táo (大枣), Sinh khương (生姜), Đan sâm (丹参), Uất kim (郁金).
Gia giảm
Mất ngủ gia Bá tử nhân (柏子仁), Dạ giao đằng (夜交藤); ăn kém gia Sa nhân (砂仁), Kê nội kim (鸡内金); ngực đau rõ gia Xích thược (赤芍), Xuyên khung (川芎).
Ý nghĩa
Đảng sâm, Hoàng kỳ, Bạch truật và Phục linh kiện Tỳ ích khí; Đương quy và Long nhãn nhục dưỡng huyết; Toan táo nhân và Viễn chí an thần; Mộc hương hành khí; Đan sâm và Uất kim thông Tâm mạch.
Bảy. Phụ nữ sau mãn kinh đàm ứ hỗ kết
Chứng trạng
Sau mãn kinh, vùng bụng tăng mỡ, thân thể nặng, ngực tức, hồi hộp, đầu nặng, chóng mặt, ngủ kém, lưỡi tím hoặc có điểm ứ, rêu dày nhầy, mạch huyền hoạt hoặc sáp.
Bệnh cơ
Can Thận suy làm âm huyết không đủ, Tỳ mất kiện vận sinh đàm. Đàm trọc và huyết ứ cùng kết trong Tâm mạch, gây ngực tức, hồi hộp và chóng mặt.
Pháp trị
Hóa đàm khứ trọc, hoạt huyết thông mạch, kiêm dưỡng âm.
Phương thang
Ôn đảm thang hợp Đan sâm ẩm gia giảm (温胆汤合丹参饮加减): Bán hạ (半夏), Trần bì (陈皮), Trúc nhự (竹茹), Phục linh (茯苓), Chỉ thực (枳实), Cam thảo (甘草), Sinh khương (生姜), Đại táo (大枣), Đan sâm (丹参), Đàn hương (檀香), Sa nhân (砂仁), Uất kim (郁金), Xích thược (赤芍), Sơn tra (山楂), Trạch tả (泽泻).
Gia giảm
Âm hư, bốc hỏa gia Sinh địa hoàng (生地黄), Mạch môn đông (麦门冬), Huyền sâm (玄参); mất ngủ gia Toan táo nhân (酸枣仁), Dạ giao đằng (夜交藤); huyết ứ rõ gia Đào nhân (桃仁), Hồng hoa (红花), nhưng phải dùng thận trọng.
Ý nghĩa
Bán hạ, Trần bì, Trúc nhự và Phục linh hóa đàm; Chỉ thực hành khí; Đan sâm và Xích thược hoạt huyết; Đàn hương, Sa nhân và Uất kim khoan hung lý khí; Trạch tả khứ thấp; Sơn tra tiêu thực.
Không nên biện chứng chỉ dựa vào giới tính
Giới tính chỉ cho biết một số khuynh hướng sinh lý và bệnh lý thường gặp. Không nên thấy nam giới là mặc nhiên dùng thuốc ôn dương, cũng không nên thấy phụ nữ là mặc nhiên dùng thuốc bổ huyết hoặc tư âm.
Nam giới béo, đàm nhiều nhưng lưỡi đỏ ít rêu vẫn có thể kiêm âm hư. Phụ nữ sau mãn kinh có rêu dày nhầy, thân thể nặng vẫn có thể thuộc đàm trọc là chính. Người phụ nữ tay chân lạnh, lưỡi nhạt, phù và tiểu đêm nhiều có thể thuộc dương hư. Người nam giới gầy, miệng khô, mất ngủ và mạch tế sác có thể thuộc âm hư.
Biện chứng phải căn cứ tình trạng thực tế, không căn cứ giới tính một cách máy móc.
Châm cứu hỗ trợ
Châm cứu có thể hỗ trợ điều khí, hoạt huyết, hóa đàm, dưỡng Tâm và cải thiện giấc ngủ khi tình trạng đã ổn định.
Các huyệt thường dùng gồm Tâm bào-6 Nội quan (内关), Nhâm-17 Chiên trung (膻中), Tâm-7 Thần môn (神门), Bàng quang-15 Tâm du (心俞), Bàng quang-14 Quyết âm du (厥阴俞), Bàng quang-17 Cách du (膈俞), Vị-36 Túc tam lý (足三里), Tỳ-6 Tam âm giao (三阴交), Vị-40 Phong long (丰隆), Can-3 Thái xung (太冲), Thận-3 Thái khê (太溪), Nhâm-4 Quan nguyên (关元).
Nam giới đàm trọc phối Vị-40 Phong long, Nhâm-12 Trung quản, Vị-36 Túc tam lý, Tâm bào-6 Nội quan và Nhâm-17 Chiên trung.
Nam giới Can uất phối Can-3 Thái xung, Đại trường-4 Hợp cốc, Tâm bào-6 Nội quan, Nhâm-17 Chiên trung và Tâm-7 Thần môn.
Phụ nữ mãn kinh âm hư phối Thận-3 Thái khê, Tỳ-6 Tam âm giao, Tâm-7 Thần môn, Tâm bào-6 Nội quan và An miên.
Phụ nữ Tâm Tỳ lưỡng hư phối Bàng quang-15 Tâm du, Bàng quang-20 Tỳ du, Vị-36 Túc tam lý, Tâm bào-6 Nội quan và Tỳ-6 Tam âm giao.
Huyết ứ rõ phối Bàng quang-17 Cách du, Tỳ-10 Huyết hải, Tâm bào-6 Nội quan và Tỳ-6 Tam âm giao.
Không dùng châm cứu để trì hoãn việc xử trí khi đau ngực dữ dội, khó thở, vã mồ hôi, choáng hoặc tim đập loạn rõ.
Bấm huyệt
Có thể day nhẹ Tâm bào-6 Nội quan, Tâm-7 Thần môn, Nhâm-17 Chiên trung, Vị-36 Túc tam lý, Tỳ-6 Tam âm giao, Can-3 Thái xung và Vị-40 Phong long. Không ấn mạnh vùng trước tim.
Cứu ngải
Cứu ngải chỉ thích hợp với thể dương hư, hàn ngưng, biểu hiện sợ lạnh, tay chân lạnh, lưỡi nhạt và mạch trầm trì. Có thể cân nhắc Nhâm-4 Quan nguyên, Nhâm-6 Khí hải, Vị-36 Túc tam lý, Đốc-4 Mệnh môn và Bàng quang-23 Thận du.
Không cứu khi bốc hỏa, ra mồ hôi đêm, lưỡi đỏ, rêu vàng, tim đập nhanh hoặc huyết áp chưa ổn định.
Ăn uống điều dưỡng
Nam giới đàm trọc có thể dùng cháo Ý dĩ nhân Sơn tra: Ý dĩ nhân (薏苡仁), Sơn tra (山楂), gạo tẻ. Người đau dạ dày hoặc Tỳ Vị hư hàn nên dùng Sơn tra ít.
Nam giới Can uất có thể dùng Mai khôi hoa (玫瑰花) và Trần bì (陈皮) lượng nhẹ làm trà. Người âm hư, họng khô rõ không nên dùng nhiều Trần bì.
Phụ nữ mãn kinh âm hư có thể dùng cháo Bách hợp Liên tử Mạch môn đông: Bách hợp (百合), Liên tử (莲子), Mạch môn đông (麦门冬), gạo tẻ. Người Tỳ Vị hư hàn hoặc tiêu lỏng nên dùng ít.
Phụ nữ Tâm Tỳ lưỡng hư có thể dùng cháo Hoài sơn Liên tử Đại táo: Hoài sơn (山药), Liên tử (莲子), Đại táo (大枣), gạo tẻ.
Phụ nữ sau mãn kinh có đàm thấp có thể dùng cháo Phục linh Sơn tra: Phục linh (茯苓), Sơn tra (山楂), gạo tẻ. Không nên dùng thường xuyên khi đau dạ dày hoặc đang dùng nhiều thuốc ảnh hưởng đến đông máu.
Điều dưỡng cho nam giới
Nên hạn chế thuốc lá, rượu, thức ăn béo ngọt, thức khuya và làm việc quá sức. Người có bụng lớn, thân thể nặng hoặc ăn uống thất thường cần đặc biệt chú ý kiện Tỳ, giảm đàm thấp và vận động đều đặn.
Không nên dồn nén căng thẳng hoặc xem việc nghỉ ngơi là biểu hiện yếu đuối. Làm việc và nghỉ ngơi điều độ giúp khí cơ thư giãn, Tâm mạch bớt bị hao tổn.
Điều dưỡng cho phụ nữ
Phụ nữ nên chú ý những thay đổi trong thời kỳ tiền mãn kinh và mãn kinh. Khi xuất hiện hồi hộp, mất ngủ, khó thở, mệt bất thường, đau lưng, đau hàm hoặc đầy tức thượng vị, không nên chỉ xem là biểu hiện của tuổi mãn kinh.
Người từng có thai kỳ không thuận, bệnh tự miễn, đái tháo đường hoặc tăng huyết áp cần chú ý hơn đến việc theo dõi sức khỏe Tâm mạch.
Không tự dùng thuốc nội tiết, thuốc bổ huyết, thuốc tư âm hoặc thuốc hoạt huyết kéo dài khi chưa rõ thể bệnh.
Chú ý về thuốc hoạt huyết
Đan sâm (丹参), Tam thất (三七), Hồng hoa (红花), Đào nhân (桃仁), Xuyên khung (川芎), Nhũ hương (乳香) và Một dược (没药) đều có thể ảnh hưởng đến huyết hành.
Phụ nữ có xuất huyết bất thường, rong huyết hoặc chuẩn bị phẫu thuật càng phải thận trọng. Nam và nữ đang dùng thuốc chống đông hoặc thuốc kháng kết tập tiểu cầu đều không nên tự phối hợp các vị này.
Những điều không nên làm
Không cho rằng bệnh mạch vành chỉ gặp ở nam giới.
Không cho rằng phụ nữ còn trẻ thì không thể mắc bệnh Tâm mạch.
Không xem đau thượng vị, buồn nôn, đau lưng, đau hàm hoặc mệt lả ở phụ nữ là biểu hiện nhẹ.
Không tự dùng thuốc bổ dương mạnh cho nam giới chỉ vì cho rằng nam thuộc dương.
Không tự dùng thuốc bổ huyết hoặc tư âm cho phụ nữ khi chưa biện chứng.
Không dùng rượu thuốc để thông mạch.
Không tự phối hợp nhiều vị hoạt huyết khi đang dùng thuốc chống đông.
Không tự ngừng những thuốc đang được sử dụng.
Chú ý
Bài viết trình bày nhận thức và phương pháp biện chứng của Trung y. Khi xuất hiện đau ngực dữ dội hoặc kéo dài, đau lan ra vai, cánh tay, lưng, cổ, hàm hoặc vùng thượng vị, kèm khó thở, vã mồ hôi, buồn nôn, choáng ngất, sắc mặt tái xám hoặc tay chân lạnh, cần đi khám hoặc cấp cứu kịp thời.
Không dùng thuốc thang, châm cứu, bấm huyệt hoặc dược thiện để trì hoãn việc xử trí.
Kết luận
Nam và nữ đều có thể mắc bệnh mạch vành, nhưng khuynh hướng bệnh cơ có những điểm khác nhau. Nam giới thường phát bệnh sớm hơn và hay gặp đàm trọc, huyết ứ, Can uất, hàn ngưng do lao lực, ăn uống, rượu, thuốc lá và áp lực. Phụ nữ thường phát bệnh muộn hơn; sau mãn kinh dễ xuất hiện Can Thận âm hư, khí âm lưỡng hư, Tâm Tỳ lưỡng hư, đồng thời vẫn có thể kèm đàm và ứ.
Điều trị cần căn cứ thể bệnh cụ thể, không áp dụng một phương pháp chỉ dựa vào nam hay nữ. Nam giới đàm trọc thì hóa đàm; khí trệ thì sơ Can; dương hư thì ôn dương. Phụ nữ âm hư thì tư dưỡng Can Thận; khí âm hư thì ích khí dưỡng âm; Tâm Tỳ hư thì kiện Tỳ dưỡng huyết; đàm ứ thì hóa đàm hoạt huyết.
Nói tóm lại, giới tính là một yếu tố cần xem xét, nhưng biện chứng vẫn phải lấy tình trạng khí huyết, âm dương, tạng phủ, đàm, ứ, hàn và nhiệt của từng người làm căn cứ.
Trường Xuân biên soạn và tổng hợp