Cảm mạo 感冒 là bệnh ngoại cảm thường gặp, hình thành khi chính khí và khả năng bảo vệ bên ngoài của cơ thể suy yếu, lại cảm thụ phong, hàn, thử, thấp, táo, nhiệt hoặc dịch độc từ bên ngoài.
Bệnh có thể phát sinh quanh năm, nhưng thường gặp nhiều vào mùa đông và mùa xuân. Phần lớn trường hợp có bệnh trình tương đối ngắn, thường biểu hiện bằng sợ lạnh, phát sốt, đau đầu, đau mỏi toàn thân, nghẹt mũi, hắt hơi, chảy nước mũi, ho, đau họng hoặc khàn tiếng.
Theo Trung y, cảm mạo chủ yếu thuộc ngoại cảm biểu chứng, bệnh vị ban đầu ở Phế vệ và cơ biểu. Nếu chính khí đầy đủ, ngoại tà thường chỉ lưu lại ở phần biểu và bệnh dễ hồi phục. Nếu chính khí suy yếu hoặc tà khí tương đối mạnh, bệnh có thể từ biểu nhập lý, hình thành chứng bản hư tiêu thực hoặc chuyển thành các bệnh khác.
I. KHÁI NIỆM CẢM MẠO
Cảm mạo là bệnh do ngoại tà xâm phạm cơ biểu và Phế vệ.
Biểu hiện chính gồm:
Sợ lạnh hoặc sợ gió.
Phát sốt.
Đau đầu.
Đau mỏi cơ thể.
Nghẹt mũi.
Chảy nước mũi.
Hắt hơi.
Ho.
Đau họng.
Khàn tiếng.
Mạch phù.
Cảm mạo thông thường thường phát sinh rải rác, bệnh tương đối nhẹ và ít lây lan rộng.
Thời hành cảm mạo 时行感冒 là dạng bệnh phát sinh nhanh, nhiều người cùng mắc trong một thời gian, triệu chứng tương đối giống nhau và khả năng lây lan mạnh. Khái niệm này gần với một số bệnh cúm hoặc nhiễm virus đường hô hấp lưu hành, nhưng không thể chỉ căn cứ chứng danh Trung y để xác định tác nhân gây bệnh.
II. NGUYÊN NHÂN GÂY BỆNH
Phong là nguyên nhân thường gặp nhất, nên cảm mạo còn được gọi là Thương phong 伤风.
Phong có tính di động, biến hóa và thường kết hợp với các tà khí khác. Vì vậy, lâm sàng không chỉ có phong đơn thuần mà thường gặp:
Phong hàn.
Phong nhiệt.
Phong thấp.
Phong táo.
Phong thử.
Phong hàn thường gặp khi thời tiết lạnh, mưa gió, mặc không đủ ấm hoặc cơ thể đang ra mồ hôi mà gặp lạnh.
Hàn có tính ngưng trệ và co rút, làm cơ biểu đóng kín, vệ dương bị bó buộc, thường gây sợ lạnh rõ, không ra mồ hôi, đau đầu và đau mỏi cơ thể.
Phong nhiệt thường gặp khi thời tiết ấm nóng, hoặc phong hàn uất lại rồi hóa nhiệt.
Nhiệt dễ làm tổn thương tân dịch, gây sốt rõ, đau họng, khát nước, nước mũi đục và ho có đàm vàng.
Thử tà thường xuất hiện vào mùa hè. Thử có tính nóng, dễ hao khí và tổn thương tân dịch.
Khi thử kết hợp với thấp, người bệnh có thể vừa sốt, khát, mệt, vừa nặng đầu, ngực bụng đầy và tiêu hóa kém.
Thấp có tính nặng nề, dính nhớp và khó loại trừ. Cảm mạo kèm thấp thường biểu hiện bằng đầu nặng, cơ thể nặng mỏi, ngực bụng đầy, ăn kém, buồn nôn và rêu lưỡi nhờn.
Táo thường gặp vào mùa thu hoặc trong môi trường khô.
Táo làm hao tổn tân dịch của Phế, gây họng khô, mũi khô, ho khan hoặc đàm ít dính và khó khạc.
Dịch độc chỉ những tà khí có tính lây lan mạnh, nhiều người cùng mắc và bệnh thường phát sinh tương đối nhanh.
Trong trường hợp này, không nên chỉ dùng phương pháp trị cảm thông thường mà cần chú ý khả năng bệnh truyền nhiễm và theo dõi diễn biến.
III. VÌ SAO NGOẠI TÀ CÓ THỂ GÂY CẢM MẠO?
Ngoại tà có thể gây bệnh hay không phụ thuộc vào hai phương diện:
Sức mạnh của tà khí.
Tình trạng chính khí và vệ khí của cơ thể.
Nếu chính khí đầy đủ, tấu lý kín, vệ khí vững, ngoại tà khó xâm nhập hoặc bệnh tương đối nhẹ.
Nếu cơ thể suy yếu, lao lực, thiếu ngủ, ăn uống thất thường, gặp lạnh, dầm mưa hoặc ra nhiều mồ hôi, vệ khí không vững, ngoại tà dễ theo da lông và miệng mũi xâm nhập.
Phong tà vào theo miệng mũi sẽ trực tiếp ảnh hưởng đến Phế.
Phong tà vào theo da lông sẽ làm rối loạn doanh vệ và cơ biểu.
Do đó, người bệnh xuất hiện đồng thời hai nhóm biểu hiện:
Phế khí không tuyên: Nghẹt mũi, chảy nước mũi, hắt hơi, ho.
Doanh vệ bất hòa: Sợ lạnh, phát sốt, đau đầu, đau người và ra mồ hôi bất thường.
IV. BỆNH VỊ VÀ BỆNH CƠ
Phế chủ khí, chủ hô hấp, khai khiếu ở mũi, ngoại hợp với da lông và tuyên tán vệ khí.
Ngoại tà xâm phạm Phế làm Phế khí không tuyên, gây:
Nghẹt mũi.
Chảy nước mũi.
Hắt hơi.
Ho.
Khàn tiếng.
Đau họng.
Ngoại tà làm doanh vệ mất điều hòa, vệ dương không thể bảo vệ phần ngoài, gây:
Sợ lạnh hoặc sợ gió.
Phát sốt.
Đau đầu.
Đau mỏi cơ thể.
Có mồ hôi hoặc không ra mồ hôi.
Theo biện chứng lục kinh, ngoại tà phong hàn xâm nhập cơ thể thường trước tiên phạm kinh Thái dương.
Thái dương chủ biểu, quản lý doanh vệ và là hàng rào bảo vệ các kinh.
Khi kinh Thái dương bị bệnh, thường thấy:
Sợ lạnh.
Phát sốt.
Đau đầu.
Gáy cứng.
Đau lưng.
Đau mỏi toàn thân.
Mạch phù.
Nếu chính khí không đủ hoặc điều trị không thích hợp, tà khí có thể từ phần biểu đi sâu vào trong.
Bệnh có thể chuyển thành:
Thiếu dương bệnh.
Dương minh bệnh.
Biểu lý cùng bệnh.
Phế nhiệt.
Đàm nhiệt.
Thử thấp.
Các chứng Tỳ Vị.
V. MỐI LIÊN HỆ GIỮA CẢM MẠO VÀ TẠNG PHỦ
Phế là tạng liên quan trực tiếp nhất đến cảm mạo.
Phế khí hư, vệ khí không vững thì người bệnh thường:
Dễ bị cảm.
Sợ gió.
Tự ra mồ hôi.
Nghẹt mũi.
Ho.
Bệnh tái phát nhiều lần.
Phế âm hư cũng có thể làm cơ thể dễ cảm phong nhiệt hoặc táo tà.
Tỳ là nguồn sinh hóa khí huyết. Tỳ hư làm chính khí và vệ khí thiếu nguồn nuôi dưỡng.
Người Tỳ hư dễ cảm mạo và thường kèm:
Ăn ít.
Bụng đầy.
Mệt mỏi.
Đại tiện lỏng.
Nhiều đàm.
Thận là gốc của tiên thiên. Thận dương hư làm vệ dương suy yếu, cơ thể dễ cảm phong hàn.
Người bệnh thường kèm:
Sợ lạnh.
Tay chân lạnh.
Lưng gối yếu.
Tiểu nhiều.
Cảm mạo dai dẳng.
Tâm chủ huyết, Can tàng huyết. Khí huyết hư, sau sinh, sau mất máu hoặc bệnh lâu ngày đều có thể làm cơ thể dễ mắc ngoại cảm.
Can khí uất hoặc cảm xúc kéo dài cũng có thể ảnh hưởng khí cơ và thể chất, làm bệnh biểu hiện phức tạp hơn.
VI. NHỮNG YẾU TỐ ẢNH HƯỞNG ĐẾN CẢM MẠO
Khí hậu thay đổi đột ngột, nóng lạnh trái mùa hoặc mưa ẩm kéo dài đều có thể làm bệnh phát sinh.
Trung y gọi tình trạng này là:
“Phi kỳ thời nhi hữu kỳ khí.”
Nghĩa là xuất hiện loại khí hậu không phù hợp với thời tiết thông thường của mùa.
Vùng lạnh, nhiều gió, khô thường dễ gặp phong hàn và lương táo.
Vùng nóng, thấp, mưa nhiều thường dễ gặp phong nhiệt, thử thấp và đàm thấp.
Người dương hư, khí hư thường dễ cảm phong hàn.
Người âm hư, nội nhiệt thường dễ cảm phong nhiệt hoặc ôn táo.
Người Tỳ hư thấp thịnh dễ mắc cảm mạo kèm đàm thấp.
Người khí huyết hư dễ bệnh kéo dài và khó phát tán tà khí.
Trẻ em tạng phủ non yếu, vệ khí chưa vững, dễ mắc cảm mạo và bệnh dễ biến hóa.
Người cao tuổi chính khí suy, thường biểu hiện sốt không rõ nhưng dễ dẫn phát bệnh cũ.
Thanh niên thể lực khá, bệnh thường thiên về thực chứng và nhiệt chứng.
Phụ nữ trong kỳ kinh, sau sinh hoặc huyết hư dễ cảm thụ ngoại tà.
Khi điều trị không nên phát hãn quá mạnh vì mồ hôi và huyết có cùng nguồn.
Làm việc quá sức, thiếu ngủ, ăn uống thất thường và sinh hoạt không điều độ đều có thể làm chính khí suy yếu, tạo điều kiện cho ngoại tà xâm nhập.
VII. CHẨN ĐOÁN THEO TRUNG Y
Chẩn đoán cảm mạo thường căn cứ hai nhóm triệu chứng:
Sợ lạnh.
Phát sốt.
Đau đầu.
Đau mỏi cơ thể.
Mệt mỏi.
Có hoặc không có mồ hôi.
Mạch phù.
Nghẹt mũi.
Chảy nước mũi.
Hắt hơi.
Ho.
Đau họng.
Khàn tiếng.
Tiếng nói nặng.
Có thể kèm ăn kém, buồn nôn hoặc tiêu chảy.
Cảm mạo thường khởi phát tương đối nhanh, bệnh chủ yếu ở phần biểu và thời gian bệnh không quá dài.
VIII. PHÂN LOẠI CẢM MẠO
Trung y có thể chia cảm mạo thành ba nhóm lớn:
Thực chứng.
Bản hư tiêu thực.
Chứng nguy nặng hoặc thoát chứng.
Trong thực tế thông thường, các thể chính thường gặp gồm:
Phong hàn.
Phong nhiệt.
Thử nhiệt.
Thử thấp.
Ôn táo.
Lương táo.
Phong hàn kèm thấp.
Biểu hàn, Phế nhiệt.
Thiếu dương.
Khí hư cảm mạo.
Âm hư cảm mạo.
Dương hư cảm mạo.
Huyết hư cảm mạo.
IX. CẢM MẠO PHONG HÀN
Sợ lạnh rõ.
Sốt nhẹ.
Không ra mồ hôi.
Đau đầu.
Đau mỏi cơ thể.
Nghẹt mũi.
Nước mũi trong.
Hắt hơi.
Ho, đàm trắng loãng.
Không khát hoặc thích uống ấm.
Lưỡi nhạt đỏ, rêu trắng mỏng.
Mạch phù khẩn.
Phong hàn bó cơ biểu, vệ dương bị ngăn trở, Phế khí không tuyên.
Tân ôn giải biểu, tuyên Phế tán hàn.
Ma hoàng thang
Thành phần: Ma hoàng, Quế chi, Hạnh nhân, Chích cam thảo.
Phương thích hợp với phong hàn biểu thực, sợ lạnh, không mồ hôi và mạch phù khẩn.
Ma hoàng có thể gây tim đập nhanh, tăng huyết áp và mất ngủ, không tự dùng cho người bệnh tim, tăng huyết áp, cường giáp, phụ nữ mang thai hoặc trẻ em.
X. PHONG HÀN BIỂU HƯ
Sợ gió.
Sốt nhẹ.
Tự ra mồ hôi.
Đau đầu.
Nghẹt mũi.
Lưỡi nhạt.
Rêu trắng mỏng.
Mạch phù hoãn.
Vệ khí không vững, phong tà phạm biểu, doanh vệ bất hòa.
Giải cơ, điều hòa doanh vệ.
Quế chi thang
Thành phần: Quế chi, Bạch thược, Sinh khương, Đại táo, Chích cam thảo.
Phương không nhằm làm ra thật nhiều mồ hôi, mà giúp doanh vệ điều hòa và tà khí được giải nhẹ nhàng.
XI. CẢM MẠO PHONG NHIỆT
Sốt rõ.
Sợ lạnh nhẹ.
Có mồ hôi hoặc không.
Đau đầu.
Đau họng.
Nghẹt mũi.
Nước mũi đục.
Ho.
Đàm vàng hoặc dính.
Khát nước.
Lưỡi đỏ ở đầu hoặc rìa.
Rêu vàng mỏng.
Mạch phù sác.
Phong nhiệt phạm Phế vệ, Phế khí không tuyên, nhiệt làm tổn thương tân dịch.
Tân lương giải biểu, thanh nhiệt, tuyên Phế.
Ngân kiều tán
Thường dùng khi sốt, đau họng và phong nhiệt tương đối rõ.
Tang cúc ẩm
Thường dùng khi ho là biểu hiện nổi bật, sốt và khát tương đối nhẹ.
Không dùng thuốc tân lương hàn lạnh kéo dài ở người Tỳ Vị hư hàn.
XII. CẢM MẠO THỬ NHIỆT
Sốt.
Khát nhiều.
Ra mồ hôi.
Mệt mỏi.
Đau đầu.
Bứt rứt.
Tiểu vàng.
Lưỡi đỏ.
Rêu vàng.
Thanh thử, ích khí, sinh tân, thấu biểu.
Cần phân biệt thử nhiệt thuần túy với say nóng, kiệt sức do nhiệt và mất nước. Người bệnh sốt cao, lơ mơ, da nóng hoặc kiệt sức cần được cấp cứu.
XIII. CẢM MẠO THỬ THẤP
Sốt không cao hoặc sốt dai dẳng.
Sợ lạnh nhẹ.
Đầu nặng.
Cơ thể nặng mỏi.
Ngực bụng đầy.
Buồn nôn.
Ăn kém.
Tiêu chảy.
Miệng dính.
Rêu lưỡi trắng hoặc vàng nhờn.
Mạch nhu hoặc hoạt.
Thử và thấp cùng xâm nhập, thấp làm trở ngại khí cơ và Tỳ Vị.
Giải thử, hóa thấp, hòa trung.
Tân gia Hương nhu ẩm hoặc Hoắc hương chính khí tán được tài liệu nêu tùy biểu hiện.
Hoắc hương chính khí tán thích hợp hơn khi ngoại cảm kèm thấp trệ trung tiêu, buồn nôn, đầy bụng và tiêu chảy; không phải phương dùng chung cho mọi dạng cảm cúm.
XIV. CẢM MẠO ÔN TÁO
Sốt.
Sợ gió nhẹ.
Đau đầu.
Họng khô.
Mũi khô.
Ho khan.
Đàm ít dính.
Khát nước.
Lưỡi hơi đỏ, ít tân dịch.
Tân lương giải biểu, nhuận Phế sinh tân.
Tang hạnh thang gia giảm.
Khi táo nhiệt làm Phế âm tổn thương rõ có thể tham khảo Thanh táo cứu Phế thang, nhưng cần được biện chứng riêng.
XV. CẢM MẠO LƯƠNG TÁO
Sợ lạnh.
Sốt nhẹ.
Không mồ hôi.
Đau đầu.
Nghẹt mũi.
Ho khan.
Họng khô.
Đàm ít.
Rêu lưỡi trắng mỏng.
Tân ôn giải biểu, nhuận Phế hóa đàm.
Hạnh tô tán gia giảm.
XVI. PHONG HÀN KÈM THẤP
Sợ lạnh.
Phát sốt.
Không mồ hôi.
Đau đầu.
Cơ thể nặng và đau.
Lưng đau.
Ngực đầy.
Rêu lưỡi trắng nhờn.
Mạch phù nhu hoặc phù khẩn.
Giải biểu, khu phong, thắng thấp.
Khương hoạt thắng thấp thang hoặc Cửu vị Khương hoạt thang gia giảm.
Không nên phát hãn quá mạnh vì phong có thể tán nhưng thấp vẫn lưu lại, đồng thời mồ hôi quá nhiều làm tổn thương dương khí.
XVII. NGOẠI HÀN, NỘI ẨM
Sợ lạnh.
Không mồ hôi.
Ho.
Suyễn.
Đàm trắng trong loãng.
Ngực đầy.
Không khát.
Rêu trắng trơn.
Bên ngoài có phong hàn, bên trong vốn có thủy ẩm. Ngoại hàn dẫn động nội ẩm, cùng ảnh hưởng Phế.
Giải biểu tán hàn, ôn Phế hóa ẩm.
Tiểu thanh long thang.
Thành phần: Ma hoàng, Quế chi, Bạch thược, Can khương, Tế tân, Bán hạ, Ngũ vị tử, Chích cam thảo.
Phương có Ma hoàng, Tế tân và Bán hạ, không được tự sử dụng.
XVIII. THIẾU DƯƠNG CHỨNG
Lạnh nóng qua lại.
Ngực sườn đầy tức.
Miệng đắng.
Họng khô.
Chóng mặt.
Ăn kém.
Buồn nôn.
Rêu lưỡi mỏng.
Mạch huyền.
Tà khí không còn hoàn toàn ở biểu nhưng cũng chưa vào hẳn phần lý, lưu lại ở bán biểu bán lý, làm khu cơ Thiếu dương bất lợi.
Hòa giải Thiếu dương.
Tiểu sài hồ thang.
Thành phần: Sài hồ, Hoàng cầm, Bán hạ, Nhân sâm hoặc Đảng sâm, Sinh khương, Đại táo, Cam thảo.
Không tự dùng chỉ vì sốt lúc tăng lúc giảm; cần loại trừ nhiễm trùng và các bệnh khác.
XIX. VÌ SAO GIẢI BIỂU LÀ PHÉP TRỊ CĂN BẢN?
Cảm mạo khởi đầu phần lớn ở cơ biểu và Phế vệ. Vì vậy, khi tà khí còn ở biểu, cần sơ tán ngoại tà để Phế vệ điều hòa trở lại.
Tố vấn viết:
“Kỳ tại bì giả, hãn nhi phát chi.”
Nghĩa là bệnh tà còn ở da thịt thì có thể dùng phép phát tán để đưa tà ra ngoài.
Tuy nhiên, “hãn pháp” không có nghĩa là làm cho người bệnh đổ mồ hôi thật nhiều. Mục tiêu là giúp cơ biểu được thông, vệ khí điều hòa và tà khí được giải.
Phát hãn quá mức có thể:
Hao khí.
Tổn thương tân dịch.
Tổn thương dương khí.
Làm người bệnh mệt hơn.
Gây mất nước.
XX. CÁC PHƯƠNG PHÁP GIẢI BIỂU
Dùng cho phong hàn.
Phương thường gặp: Ma hoàng thang, Quế chi thang.
Dùng cho phong nhiệt.
Phương thường gặp: Ngân kiều tán, Tang cúc ẩm.
Dùng cho thử nhiệt hoặc thử thấp.
Phương được nêu: Tân gia Hương nhu ẩm và các phương giải thử hóa thấp.
Dùng cho ôn táo.
Phương thường gặp: Tang hạnh thang.
Dùng cho lương táo.
Phương thường gặp: Hạnh tô tán.
XXI. BIỂU LÝ SONG GIẢI
Biểu lý song giải dùng khi biểu tà chưa hết nhưng phần lý đã có bệnh rõ.
Nếu chỉ giải biểu, tà ở trong không được trừ.
Nếu chỉ trị lý, biểu tà vẫn còn hoặc bị dẫn sâu hơn.
Các phép thường gặp gồm:
Giải biểu thanh lý.
Giải biểu ôn lý.
Giải biểu hóa thấp.
Giải biểu tiêu thực.
Giải biểu hóa ẩm.
Những phương công hạ hoặc thanh nhiệt mạnh chỉ dùng khi chẩn đoán rõ. Không tự dùng Đại hoàng, Mang tiêu hoặc các phương biểu lý song giải mạnh chỉ vì cảm mạo kèm táo bón.
XXII. GIẢI BIỂU KÈM HÓA THẤP
Dùng khi người bệnh vốn Tỳ hư, có nội thấp, lại cảm phong hàn hoặc phong thấp.
Biểu hiện gồm:
Sợ lạnh.
Sốt.
Đầu nặng.
Cơ thể nặng đau.
Ngực bụng đầy.
Ăn kém.
Buồn nôn.
Rêu lưỡi nhờn.
Phép trị là giải biểu nhẹ nhàng, đồng thời kiện Tỳ và hóa thấp.
Không phát hãn mạnh vì dễ làm tổn thương dương khí mà thấp tà vẫn không được giải.
XXIII. GIẢI BIỂU KÈM LÝ KHÍ
Dùng khi người bệnh có khí trệ, Can khí uất, lại cảm ngoại tà.
Biểu hiện có thể gồm:
Sợ lạnh.
Sốt.
Đau đầu.
Ngực sườn đầy tức.
Hay thở dài.
Tinh thần không thư thái.
Rêu lưỡi mỏng.
Mạch huyền.
Phương thường dùng là Hương tô tán gia giảm.
Mục tiêu là vừa giải biểu vừa điều hòa khí cơ, tránh khí uất làm tà khí khó thoát.
XXIV. GIẢI BIỂU KÈM TIÊU THỰC
Dùng khi cảm mạo kèm thức ăn đình trệ, thường gặp ở trẻ em hoặc người ăn uống quá mức trong khi đang bệnh.
Biểu hiện gồm:
Sốt hoặc sợ lạnh.
Bụng đầy.
Ăn kém.
Ợ chua.
Buồn nôn.
Hơi thở có mùi.
Đại tiện có mùi chua hoặc không thông.
Điều trị cần vừa giải biểu vừa tiêu thực, không chỉ dùng thuốc phát tán.
XXV. PHÙ CHÍNH GIẢI BIỂU
Phù chính giải biểu áp dụng khi người bệnh chính khí hư nhưng ngoại tà vẫn còn ở biểu.
Nguyên tắc là:
Trừ tà nhưng không làm tổn thương chính khí.
Bổ chính nhưng không làm lưu giữ tà khí.
Các phép chính gồm:
Ích khí giải biểu.
Phù dương giải biểu.
Tư âm giải biểu.
Dưỡng huyết giải biểu.
Ích khí dưỡng huyết giải biểu.
XXVI. KHÍ HƯ CẢM MẠO
Dễ cảm mạo.
Sợ gió.
Sốt nhẹ.
Đau đầu.
Mệt mỏi.
Ho yếu.
Đàm trắng.
Thở ngắn.
Tiếng nói nhỏ.
Tự ra mồ hôi.
Lưỡi nhạt.
Mạch phù vô lực.
Ích khí giải biểu.
Sâm tô ẩm
Thường dùng khi khí hư cảm phong hàn, bên trong có đàm thấp.
Nhân sâm bại độc tán
Thường dùng khi khí hư cảm phong hàn kèm thấp.
Người vệ khí hư, hay ra mồ hôi và dễ tái phát có thể dùng Ngọc bình phong tán trong thời kỳ ổn định, không dùng thay cho trị liệu khi bệnh cấp nặng.
XXVII. DƯƠNG HƯ CẢM MẠO
Sợ lạnh nhiều.
Sốt nhẹ.
Tay chân lạnh.
Mệt mỏi.
Tiếng nói nhỏ.
Không khát.
Lưỡi nhạt.
Mạch trầm vô lực.
Trợ dương, giải biểu.
Tài liệu cổ nêu các phương có Phụ tử như Ma hoàng Phụ tử Tế tân thang hoặc Tái tạo tán.
Phụ tử có độc tính cao, có thể gây rối loạn nhịp tim và tử vong nếu chế biến hoặc sử dụng sai. Những phương này không được tự dùng.
XXVIII. ÂM HƯ CẢM MẠO
Sốt.
Sợ gió nhẹ.
Đau đầu.
Họng khô.
Miệng khát.
Lòng bàn tay chân nóng.
Ho khan.
Lưỡi đỏ ít rêu.
Mạch tế sác.
Âm dịch không đủ, nguồn mồ hôi suy, lại cảm phong nhiệt hoặc táo tà.
Tư âm, sinh tân, đồng thời giải biểu nhẹ nhàng.
Gia giảm Uy nhuy thang.
Không dùng thuốc phát hãn mạnh vì dễ làm âm dịch hao tổn thêm.
XXIX. HUYẾT HƯ CẢM MẠO
Sợ gió.
Sốt nhẹ.
Đau đầu.
Chóng mặt.
Sắc mặt nhợt.
Hồi hộp.
Môi nhạt.
Đau mỏi cơ thể.
Lưỡi nhạt.
Mạch tế.
Dưỡng huyết giải biểu.
Người sau sinh, mất máu hoặc khí huyết suy không nên phát hãn mạnh.
Phương cổ được nêu gồm Thông bạch thất vị ẩm hoặc Quế chi Tứ vật thang gia giảm, nhưng cần được thầy thuốc kê theo tình trạng cụ thể.
XXX. KHÍ HUYẾT ĐỀU HƯ
Cảm mạo kéo dài.
Mệt nhiều.
Sắc mặt nhợt.
Đau mỏi cơ thể.
Thở ngắn.
Ăn ít.
Lưỡi nhạt.
Mạch trầm trì hoặc hư nhược.
Ích khí dưỡng huyết, điều hòa doanh vệ và giải biểu nhẹ.
Thương Hàn Luận nêu Quế chi gia Thược dược Sinh khương Nhân sâm tân gia thang cho tình trạng sau phát hãn, cơ thể đau và mạch trầm trì.
XXXI. ĐẶC ĐIỂM CẢM MẠO Ở TRẺ EM
Trẻ em tạng phủ non yếu, hình khí chưa đầy đủ, tấu lý sơ hở và vệ khí chưa vững nên dễ cảm ngoại tà.
Đặc điểm thường gặp:
Dễ hóa nhiệt.
Dễ sinh đàm.
Dễ kèm tích trệ thức ăn.
Sốt có thể tăng nhanh.
Bệnh thay đổi tương đối nhanh.
Trẻ nhỏ có thể quấy khóc, bú kém và mất nước nhanh.
Khi điều trị cần:
Phân rõ phong hàn và phong nhiệt.
Chú ý đàm, tích trệ và tiêu hóa.
Điều chỉnh liều theo tuổi và cân nặng.
Không phát hãn mạnh.
Không tự đắp thuốc cay nóng lên da hoặc rốn.
Không tự dùng Ma hoàng, Tế tân, Phụ tử hoặc thuốc trấn kinh.
XXXII. CHĂM SÓC
Người bệnh nên nghỉ ngơi, tránh lao lực và thức khuya.
Uống đủ nước theo nhu cầu, chia thành nhiều lần nhỏ.
Không ép uống quá nhiều khi buồn nôn hoặc có bệnh tim, thận.
Dùng thức ăn mềm, dễ tiêu.
Không ép ăn khi đang sốt cao.
Hạn chế thức ăn quá béo, nhiều dầu và rượu.
Không để cơ thể nhiễm lạnh.
Không mặc quá dày hoặc đắp chăn kín để ép ra mồ hôi.
Rửa tay.
Che miệng khi ho.
Không khạc nhổ bừa bãi.
Giữ phòng thông thoáng.
Theo dõi nhiệt độ, nhịp thở, tình trạng tỉnh táo, ăn uống và lượng nước tiểu.
XXXIII. NHỮNG ĐIỀU KHÔNG NÊN TỰ ÁP DỤNG
Không cố làm ra thật nhiều mồ hôi.
Không xông kín hoặc trùm chăn khi sốt cao.
Không dùng Ma hoàng khi có bệnh tim, tăng huyết áp hoặc cường giáp.
Không dùng Phụ tử hoặc các phương hồi dương.
Không tự dùng Đại hoàng, Mang tiêu hoặc thuốc công hạ mạnh.
Không dùng thuốc thanh nhiệt hàn lạnh kéo dài cho người Tỳ Vị hư.
Không tự dùng kháng sinh vì nước mũi hoặc đàm đổi màu.
Không dùng thuốc cảm của người lớn cho trẻ em.
Không dùng nhiều loại thuốc cảm có cùng hoạt chất cùng lúc.
XXXIV. DẤU HIỆU CẦN ĐI KHÁM SỚM
Sốt cao kéo dài.
Khó thở.
Đau ngực.
Môi tím.
Lơ mơ hoặc khó đánh thức.
Co giật.
Đau đầu dữ dội hoặc cứng gáy.
Nôn liên tục.
Không uống được nước.
Tiểu ít.
Phát ban kèm sốt.
Ho ra máu.
Trẻ nhỏ bỏ bú, thở nhanh hoặc co kéo lồng ngực.
Người cao tuổi đột ngột yếu, lú lẫn hoặc bệnh nền nặng lên.
Nói tóm lại, cảm mạo theo Trung y là bệnh ngoại cảm, chủ yếu do phong tà kết hợp với hàn, nhiệt, thử, thấp hoặc táo xâm phạm Phế vệ và cơ biểu. Bệnh thường thuộc biểu chứng, vì vậy giải biểu là phép trị căn bản, nhưng phải căn cứ hàn nhiệt và thể chất để lựa chọn tân ôn, tân lương, hóa thấp hay nhuận táo. Người chính khí hư không thể phát tán giống người khỏe mạnh mà cần phối hợp ích khí, dưỡng âm hoặc dưỡng huyết. Điều trị đúng phải đạt được hai yêu cầu: giải trừ ngoại tà nhưng không làm tổn thương chính khí; phù trợ chính khí nhưng không làm tà khí lưu lại.
Trường Xuân biên soạn