Tư liệu tham khảo:
Y học cổ truyền nhận thức như thế nào về bệnh mạch máu não?
Bệnh mạch máu não là bệnh cấp tính, triệu chứng hay thay đổi, tỷ lệ tử vong cao, di chứng nặng nề, y gia các thời đại đều rất chú trọng, bàn luận và phân tích nhiều về bệnh này. Ngay từ thời Xuân Thu Chiến Quốc hơn 2000 năm trước, cuốn sách y học “Nội kinh” đầu tiên ở nước Trung hoa có ghi tên bệnh đột quỵ (Trúng phong), và có ghi chép về “Phó kích thiên khô” (仆击偏枯), có nghĩa là một bên của chi đột nhiên không thể tuỳ ý vận động. “Thời bệnh luận” (时病论)cũng chỉ ra: “Trúng phong chi bệnh, như thỉ thạch chi trúng nhân, sậu nhiên nhi chí dã.” (中风之病,如矢石之中人,骤然而至也。) Bệnh đột quỵ như bị tên, đá bắn trúng, nhanh chóng đột ngột, cũng giống như “Phong tính thiện hành nhi số biến” (风性善行而数变), nên gọi là Trúng phong (đột quỵ), là phép ẩn dụ cho sự khởi phát đột ngột và những thay đổi nhanh chóng của nó. Ngoài ra, {Nội kinh} cũng công nhận, sự xuất hiện của chứng bệnh này có quan hệ mật thiết với thể chất và chế độ ăn uống. Như trong {Tố vấn · Thông Bình Hư Thực Luận}đã chỉ ra rõ ràng: “……Phó kích, thiên khô nuy quyết, khí mãn phát nghịch, phì quý nhân, tắc cao lương chi tật dã”( “……仆击,偏枯萎厥,气满发逆,肥贵人,则膏粱之疾也。) Đột nhiên ngã ra, liệt nửa người, khí nghịch loạn, người béo tốt phú quý, là bệnh do thực phẩm cao lương. Những cuộc thảo luận này về cơ bản là đúng khi thử nghiệm lâm sàng. Sau đó, nhiều chuyên gia y tế nổi tiếng đã tiến hành các cuộc thảo luận chuyên sâu về căn nguyên của nó. Nhưng trước thời nhà Đường và nhà Tống, hầu hết các thày thuốc đều cho rằng nguyên nhân đột quỵ là do “Ngoại phong” gây ra. Chẳng hạn, “Nội Kinh” viết: “Phong vi bách bệnh chi trưởng, thiện hành số biến, dĩ kỳ năng thống chư phong; Chư huyễn vựng giai thuộc vu phong, tức vô phong bất tác huyễn dã” (风为百病之长,善行而数变,以其能统诸风;诸眩晕皆属于风,即无风不作眩也”) Phong đứng đầu trăm bệnh, thiện hành nhi số biến, thống lĩnh các loại phong, các loại huyễn vựng đều thuộc phong, nếu không có phong thì không bị chóng mặt (tác huyễn) . {Kim Quỹ Yếu Lược · Trúng Phong Lịch Tiết Bệnh}: “Tà tại vu lạc, cơ phu bất nhân; Tà tại vu kinh, tức trọng bất thắng; Tà nhập vu phủ, tức bất thức nhân; Tà nhập vu tạng, thiệt tức nan ngôn, khẩu thổ tiên.” (邪在于络,肌肤不仁;邪在于经,即重不胜;邪入于腑,即不识人;邪入于脏,舌即难言,口吐涎。) Bệnh ở lạc mạch, da thịt cơ bắp tê dại; Bệnh ở kinh mạch, tứ chi nặng nề khó cử động; Bệnh ở phủ, là kém năng lực nhận thức; Bệnh ở tạng là khó nói năng, miệng có đàm rãi.
Vào thời nhà Kim và nhà Nguyên, y học Trung Quốc đã rất phát triển, về căn nguyên của bệnh tai biến mạch máu não, người ta cho rằng do âm dương mất cân bằng, âm hư dẫn đến can dương thượng kháng (dương của gan thái quá), hỏa quá mạnh hoá thành phong, khí huyết nghịch lên đàm thấp gây tắc nghẽn các các khiếu. Do đó, sau thời Đường và Tống, học thuyết “Nội phong” (内风) ra đời và có nhiều thảo luận, chẳng hạn như Lưu Hà Gian chủ trương “tâm hỏa bạo thịnh” (心火暴盛) Hoả của tạng tâm quá mạnh; Lý Đông Viên cho rằng: “Chính khí tự hư” (正气自虚); Mà Chu Đan Khê thì cho rằng “Thấp đàm sinh nhiệt” (湿痰生热)đàm thấp sinh nhiệt gây ra bệnh.
Liên quan đến việc điều trị chứng trúng phong (đột quỵ), y gia qua các thời kỳ cũng có khá nhiều luận thuật. Căn cứ theo nguyên tắc biện chứng luận trị, đề xuất các phương pháp điều trị khác nhau như: Tư âm tiềm dương (滋阴潜阳), Bình can tức phong (平肝熄风), Thanh nhiệt hoá đàm (清热化痰), Hoạt huyết hoá ứ (活血化瘀), Ích khí dưỡng huyết (益气养血), Tư dưỡng can thận (滋养肝肾), đồng thời đề xuất được hệ thống lý luận khá hoàn chỉnh, thể hiện được hai đặc điểm lớn là quan niệm chỉnh thể và biện chứng luận trị của Y học cổ truyền. Vương Thanh Nhậm đời nhà Thanh trong {Y Lâm Cải Thác} đề xuất lý luận phép hoạt huyết hoá ứ để điều trị chứng huyết ứ, và lập ra thang Bổ dương hoàn ngũ, thang Thông khiếu hoạt huyết, hiệu quả rất tốt.
Đối với công tác dự phòng chứng đột quỵ, Trung y rất coi trọng, như trong{Càn Khôn Sinh Khí luận} đề xuất: “Trúng phong dự phòng chi lý, đương tiết ẩm, giới thất tình, viễn phòng sự, thử chí yếu giả dã.” (中风预防之理,当节饮,戒七情,远房事,此至要者也.) Đạo lý của việc dự phòng đột quỵ, tiết giảm uống rượu, từ bỏ thất tình (7 loại cảm xúc), tránh xa phòng sự (hạn chế sinh hoạt tính dục), là những việc cần thiết, là những kinh nghiệm tổng kết của tiền nhân, rất có giá trị tham khảo.
Khoa y học cổ truyền nói gì về dấu hiệu báo trước chứng đột quỵ?
Y học cổ truyền từ lâu đã thảo luận về tiên triệu (những dấu hiệu báo trước sớm) của đột quỵ. Ví dụ, Chu Đan Khê đã chỉ ra: “Huyễn vựng giả, trúng phong chi tiệm dã” (眩晕者,中风之渐也。) Huyễn vựng là dấu hiệu của chứng đột quỵ. Thời nhà Minh. Trương Tam Tích nhấn mạnh: “Trúng phong bệnh tất hữu tiên triệu, trung niên nhân đãn giác đại mẫu chỉ thời tác ma mộc bất nhân, hoặc thủ túc thiểu lực, hoặc cơ nhục vi xế, tam niên nội tất hữu bạo bệnh.” (中风病必有先兆,中年人但觉大拇指时作麻木不仁,或手足少力,或肌肉微掣,三年内必有暴病。) Đột quỵ tất có dấu hiệu báo trước, người tuổi trung niên lại có cảm giác ngón tay cái tê dại, hoặc tay chân yếu, hoặc da thịt bị co nhẹ, trong 3 năm sẽ bị bạo bệnh. Đời nhà Thanh · Khương Thiên Tự thông qua quan sát thực tiễn lâm sàng, xác nhận trước khi đột quỵ, mà diễn biến bệnh lý có một quá trình biến hoá tiệm tiến thậm chí biến hoá về chất. Như “Hoặc thập chỉ ma tê, hoặc cơ nhục nhu động, hoặc ngữ ngôn kiển sáp, hoặc chi thể bất toại, hoặc bình thời mạch hoạt đại bất hoà, huyền khẩn vô căn, chư đa ẩn vi kiến vu nhất nhị niên tiền, nhân đa bất giác, trực chí nhất thời xúc phát, cấp kinh đảo phó.” (或十指麻痹,或肌肉蠕动,或语言謇涩,或肢体不遂,或平时脉滑大不和、弦紧无根,诸多隐微见于一二年前,人多不觉,直至一时触发,急焉倒仆。) Hoặc mười ngón tay tê bì, hoặc cơ nhục máy động, hoặc nói năng khó khăn ngọng nghịu, hoặc chi thể hoạt động không như ý, hoặc thường ngày mạch hoạt đại bất hoà, huyền khẩn vô căn, phần lớn các triệu chứng đã tiềm ẩn xuất hiện trước đó 1~2 năm, nhiều người không nhận ra, đến khi phát bệnh đột nhiên ngã ra.
Danh y cận đại Trương Tích Thuần đã trình bày rất tường tận trong bài báo “Não sung huyết khả dự trị” (脑充血可预治) Có thể điều trị dự phòng chứng não sung huyết, chỉ ra 5 điểm báo trước của chứng đột quỵ: “ 1/ Kỳ mạch tất huyền ngạnh nhi trường, hoặc thốn thịnh xích hư, hoặc đại vu thường mạch số bội, nhi hào vô hoãn hoà chi ý. 2/ Kỳ đầu mục thời thường huyễn vựng, hoặc giác não trung hôn hối, đa kiện vong, hoặc thường giác thống, hoặc nhĩ lung mục trướng. 3/ Vị trung thời giác khí thượng xung, trở tắc ẩm thực, bất năng hạ hành, hoặc hữu khí tự hạ tiêu thượng hành tác ách nghịch. 4/ Tâm trung thường giác phiền táo bất ninh, hoặc tâm trung thời phát nhiệt, hoặc thuỵ mộng trung thần hồn phiêu đãng. 5/ ,Thiệt trướng, ngôn ngữ bất lợi, hoặc khẩu nhỡn oai tà, hoặc bản thân tựa hữu ma mộc bất toại, hoặc hành động bất ổn, thời ổn, thời dục huyễn phó, hoặc tự giác đầu trọng túc khinh, cước đê như đạp miên nhứ.” (一、其脉必弦硬而长,或寸盛尺虚,或大于常脉数倍,而毫无缓和之意。二、其头目时常眩晕,或觉脑中昏愦,多健忘,或常觉痛,或耳聋目胀。三、胃中时觉有气上冲,阻塞饮食,不能下行,或有气自下焦上行作呃逆。四、心中常觉烦躁不宁,或心中时发热,或睡梦中神魂飘荡。五、舌胀,言语不利,或口眼歪斜,或本身似有麻木不遂,或行动不稳,时稳,时欲眩仆,或自觉头重足轻,脚底如踏棉絮。)
1/ Mach huyền cứng và dài. Hoặc mạch ở bộ thốn mạnh ở bộ xích thì mạch hư, mà mạch lớn hơn bình thường nhiều lần, và không có một chút hoà hoãn nào.
2/ Đầu mắt choáng váng (huyễn vựng), hoặc có cảm giác trong đầu rối rắm tối tăm, rất hay quên, hoặc có cảm giác đau, hoặc điếc tai, trướng tức mắt.
3/ Có cảm giác khí nghịch lên trong dạ dày, cản trở việc ăn uống, thực phẩm không thể đi xuống, hoặc khí từ hạ tiêu đi lên tạo thành chứng nấc.
4/ Trong lòng thường có cảm giác bồn chồn không yên, hoặc trong tâm phát nhiệt, hoặc khi ngủ trong mơ thấy hồn phách phiêu đãng.
5/ Lưỡi căng tức, nói năng không thuận lợi, hoặc miệng mắt bị méo lệch, hoặc bản thân tựa như tê dại không như ý, hoặc hành động bất ổn, có lúc ổn, có lúc như muốn ngã, hoặc có cảm giác đầu nặng chân nhẹ, như chân đang đi trên bông.
Các trình bày trên rất phù hợp với thực tế lâm sàng, có ý nghĩa chỉ dạo chẩn đoán và điều trị trọng yếu trên lâm sàng.
Y học cổ truyền biện chứng luận trị chứng trúng kinh lạc, trúng tạng phủ, chứng bế và chứng thoát như thế nào?
Các triệu chứng chính của đột quỵ là đột nhiên ngã ra, bất tỉnh nhân sự, hoặc phát sinh miệng mắt méo lệch, nói năng không thuận lợi, bán thân bất toại (liệt nửa người).
Trên lâm sàng có thể chia làm hai loại lớn là : Trúng kinh lạc và trúng tạng phủ, trúng kinh lạc bình thường không có biến hoá về tinh thần, là bệnh nhẹ, trung tạng phủ thường có rối loạn về tinh thần như tinh thần không tốt, là bệnh nặng.
I/ Trúng kinh lạc Các triệu chứng bao gồm miệng và mắt méo lệch, tay chân tê dại, nói năng khó khăn, chảy nước dãi, thậm chí liệt nửa người, hoặc kèm theo sợ lạnh và sốt, tứ chi bủn rủn, đau khớp và các triệu chứng khác. Y học cổ truyền cho rằng do chính khí không đầy đủ, mạch lạc trống rỗng, phần bảo vệ bên ngoài không vững vàng, phong tà lợi dụng hư không xâm nhập lạc mạch làm cho khí huyết tắc nghẽn, dẫn đến miệng mắt méo lệch, ngôn ngữ không thuận lợi, miệng chảy nước rãi, thậm chí bán thân bất toại. Ghét lạnh phát sốt, chi thể co quắp, cơ bắp xương khớp đau ê ẩm, mạch phù, chính là phong tà xâm nhập cơ thể, xuất hiện biểu chứng của chính khí và bệnh tà tương tranh.
Nói chung, trúng kinh lạc là bệnh tà xâm phạm cơ thể ở phần bên ngoài (vị trí bệnh nông). Biểu hiện chủ yếu là miệng mắt méo lệch, miệng chảy nước dãi, nói năng không thuận lợi, rất ít khi xuất hiện liệt nửa người. Nếu kinh lạc đều thụ tà, tình trạng bệnh khá nặng thì có thể xuất hiện liệt nửa người, trúng kinh lạc Trung y thường dùng thang Đại Tần giao gia giảm: Tần giao, Phòng phong, Độc hoạt, Khương hoạt, Bạch chỉ giải biểu khứ phong; Đương quy, Thục địa, Kê huyết đằng, Xuyên khung, Xích thược dưỡng huyết hoà doanh; Phụ tử, Toàn yết khứ phong đàm, thông kinh lạc. Nếu cổ gáy bị đau, chi thể tê dại, gia Cát căn, Tang chi, Thân cân thảo; Nói năng không thuận lợi, gia Đan sâm, Uất kim, Xuyên bối mẫu.
II/ Trúng Tạng phủ Chứng trạng chủ yếu là đột nhiên bị ngã, bất tỉnh nhân sự. Có sự khác biệt giữa bế chứng và thoát chứng. Chứng bế với chủ yếu là thực tà bế tắc ở trong, thuộc thực chứng, nên nhanh chóng khứ trừ bệnh tà. Chứng thoát chủ yếu là dương khí muốn thoát ra, thuộc hư chứng, cần nhanh chóng phù trợ chính khí. Chứng bế và chứng thoát, đều là những bệnh chứng nguy cấp nghiêm trọng, có phương pháp điều trị khác nhau, cần phải phân biệt rõ ràng.
Chứng bế phải căn cứ xem có hiện tượng nhiệt hay không, lại phân thành dương bế và âm bế. Chứng dương bế ngoại trừ chứng trạng đột nhiên ngã ra, bất tỉnh, còn có thân thể nóng, mặt đỏ, hơi thở thô miệng hôi, vật vã không yên, rêu lưỡi vàng nhầy, mạch hoạt mà sác, có quan hệ với nguyên nhân **can dương thượng kháng (肝阳上亢), hợp với đàm hoả che lấp thanh khiếu, có thể dùng các loại thuốc như hoàn An cung Ngưu hoàng, hoàn Ngưu hoàng thanh tâm, cục phương Chí bảo đan…, hoà nước ấm, cho uống theo đường mũi, khai khiếu mát khiếu, trừ đàm dịch hồi tỉnh tinh thần để cấp cứu, hoặc dùng dịch tiêm Thanh khai linh truyền tĩnh mạch. Cũng có thể dùng Xạ hương 0.1g, Ngưu hoàng 0.3g, Băng phiến 0.3g, nghiền thành bột uống với nước. Uống thêm thang Linh dương Câu đằng gia giảm, dùng Linh dương giác, Sinh địa, Đan bì, Thạch quyết minh, sinh Bạch thược, Chi tử, Hoàng cầm, Hạ khô thảo, Cúc hoa thanh nhiệt trừ phong, dưỡng âm để cân bằng với dương; Gia Ngưu tất để dẫn huyết đi xuống, Thạch xương bồ, Uất kim khai khiếu. Đồng thời tuỳ theo chứng trạng mà gia thêm Thiên trúc hoàng, Xuyên bối mẫu, Đảm nam tinh, Trúc lịch tươi, để tăng cường lực khai khiếu hoá đàm.
Chứng âm bế cũng có thể thấy bệnh nhân đột nhiên ngã, bất tỉnh, kèm theo sắc mặt trắng, môi ảm đạm, nằm yên không vật vã bực bội, tứ chi không ấm áp, nhiều đàm dãi, rêu lưỡi trắng nhầy, mạch trầm hoạt hoãn. Đây là biểu hiện của đàm thấp nhiều, phong kèm theo đàm thấp, che lấp thanh khiếu, bên trong bế tắc lạc mạch, dùng hoàn Tô hợp hương pha nước cho bệnh nhân uống theo đường mũi. Dùng thêm thang Điều đàm gia vị, dùng các vị thuốc như Nhân sâm, Phục linh, Quất hồng, Cam thảo bổ ích tâm tỳ và hoà vị, thấm thấp táo thổ để triệt nguồn sinh đàm là cách điều trị tận gốc của bệnh; Bán hạ, Đảm nam tinh, Toàn Qua lâu, Chỉ thực giáng đàm hoá ẩm, lý khí phá đàm, tảo trừ bệnh tà để điều trị ngọn; Xương bồ, Trúc nhự, đi thẳng vào kinh mạch của tạng tâm, thanh tuyên tỉnh thần để khai khiếu.
Chứng thoát Bệnh nhân đột nhiên bị ngã, bất tỉnh, miệng mở mắt nhắm, xoè tay, tiểu tiện không tự chủ, xuất mồ hôi, chi thể lạnh, chất lưỡi nhạt, rêu lưỡi trắng, mạch trầm tế dục tuyệt (như không có mạch), nguyên do là tà mạnh chính khí suy, dương quá yếu và âm suy kiệt, âm không liễm được dương, âm dương sẽ chia ly. Dùng thang Tứ nghịch hợp Sinh mạch ẩm gia vị, dùng dược như Nhân sâm, Phụ tử, Can khương, Cam thảo để hồi dương cứu nghịch; Mạch đông, Hoàng tinh, Ngũ vị tử nuôi âm để liễm dương; Hoàng kỳ, Long cốt, Mẫu lệ ích khí củng cố phần bên ngoài (biểu), thu sáp cầm mồ hôi, khiến cho âm dương lại dược hỗ trợ giúp đỡ nhau, chính khí được khôi phục, quyết nghịch tự trừ. Nếu âm huyết hư tổn quá nhiều, hư dương phù vượt (lên trên) khiến mặt đỏ chân lạnh, bồn chồn không yên, mạch đại(lớn) vô căn (không gốc rễ), có thể dùng Thục địa, Sơn thù, Nhục thung dung, Phụ tử, Nhục quế, Ba kích thiên, tư bổ thận âm, ôn bổ thận dương, dẫn hư dương ngược về thận; Phối Viễn chí, Xương bồ, Phục linh bổ ích tâm tỳ, khai mở thanh khiếu, tâm thận giao thông nhau; Phối Thạch hộc, Mạch đông, Ngũ vị tử để tráng thuỷ (thuỷ mạnh mẽ) để chế ước hoả.
Biện chứng luận trị dấu hiệu báo trước của đột quỵ như thế nào?
I/ Loại hình khí huyết suy yếu Có các biểu hiện như sắc mặt nhợt nhạt, hoa mắt chóng mặt, hồi hộp, ngủ ít mơ nhiều, nói ngọng, tay chân tê bì, cơ bắp nhu động, chất lưỡi nhạt, rêu lưỡi mỏng, mạch huyền tế hoặc trầm tế .
Trị pháp: Ích khí dưỡng huyết tức phong (益气养血熄风).
Phương dược: Dùng thang Dưỡng huyết tức phong gia giảm (Phương kinh nghiệm): Hoàng kỳ 30g, Đương quy, Thục địa, Thục thủ ô, Tang thầm, Câu đằng đều 12g, Bạch thược, Ngưu tất đều 15g, Thiên ma 10g, Cam thảo 3g. Nói năng không thuận lợi gia Xương bồ, Viễn chí, Miệng , mắt méo lệch gia Toàn yết, Cương tàm; Chi thể tê dại gia Tang chi, Kê huyết đằng; Đại tiện táo bón gia Hoả ma nhân, Úc lý nhân; Tiểu tiện không tự chủ gia Ích trí nhân, Tang phiêu tiêu.
II/ Loại hình âm hư dương kháng Có các biểu hiện như huyễn vựng, trống ngực bồn chồn, mắt đỏ, ù tai, vội vã dễ cáu giận, chi thể tê dại hoặc run rẩy, lưỡi cứng, nói năng khó khăn, chất lưỡi hồng, rêu lưỡi vàng nhầy, mạch huyền sác hoặc hoạt sác.
Trị pháp: Tư âm tiềm dương, bình can tức phong. ( 滋阴潜阳,平肝熄风)
Phương dược: Thang Chấn can tức phong gia giảm: Bạch thược sống, Long cốt sống, Mẫu lệ sống, Giả thạch sống đều 30g, Mạch nha sống, Nhân trần, Cam thảo đều 6g, Hoàng cầm 10g, Huyền sâm, Thiên đông, Ngưu tất đều 15g. Hiện tượng nhiệt nặng gia Long đảm thảo, Chi tử; Đau đầu chóng mặt nhiều, gia Thiên ma, Câu đằng, Cúc hoa; Đại tiện bí kết gia Đại hoàng sống hoặc Phan tả diệp; Nói năng không thuận lợi gia Uất kim, Xương bồ, Đảm nam tinh.
III/ Loại hình phong đàm nghẽn trở lạc mạch
Bệnh nhân cơ thể đầy dặn, mặt nhợt nhạt, vựng đầu hoa mắt, , ngực khó chịu thân thể nặng nề, ức bụng bĩ đầy, chi thể tê dại, nói năng khó khăn, miệng chảy dãi. Rêu lưỡi dầy nhầy, mạch huyền hoạt hoặc nhu.
Trị pháp: Khoát đàm, khứ thấp, tức phong (豁痰、祛湿、熄风).
Phương dược: Thang Điều đàm gia giảm: Trần bì, Chỉ thực, Xương bồ, Câu đằng đều 12g, Bán hạ, Cương tàm đều 10g, Đảm nam tinh, Cam thảo đều 6g, Phục linh, Toàn qua lâu, Địa long đều 15g. Dạ dày ăn không tốt gia Bạch khấu, Sa nhân; Quá nhiều đàm dãi gia Trúc lịch, Xuyên bối; Huyễn vựng nặng gia Thiên ma, Câu đằng; Chi thể tê dại nhiều gia Ti qua lạc, Kê huyết đằng.
Đông y biện chứng luận trị di chứng của đột quỵ như thế nào?
I/ Loại hình khí hư huyết ứ Có các biểu hiện như liệt nửa người. Miệng mắt méo lệch, nói năng khó khăn, tinh thần uể oải yếu sức, mặt trắng không tươi, vựng đầu, trống ngực hồi hộp, huyết áp hơi cao hoặc không cao, chất lưỡi nhạt hoặc có điểm ứ, rêu lưỡi trắng mỏng, mạch trầm tế hoặc huyền tế,
Trị pháp: Ích khí hoạt huyết, khứ ứ thông lạc (益气活血,祛瘀通络)
Phương dược: Thang Bổ dương hoàn ngũ gia giảm: Hoàng kỳ, Đan sâm, Kê huyết đằng đều 30g, Đương quy, Xích thược, Đào nhân đều 10g, Xuyên khung, Quế chi, Hồng hoa đều 12g, Địa long, Ngưu tất đều 15g, Cam thảo 3g. Nếu thiên về khí hư, thì trọng dụng Hoàng kỳ hoặc Thái tử sâm; Thiên về huyết ứ thì trọng dụng Tam lăng, Nga truật, Thuỷ điệt, Tam thất; Miệng mắt méo lệch gia Khiên chính tán; Chi thể tê dại, co duỗi không thuận lợi gia Tang chi, Ngô công; Nói năng khó khăn gia Viễn chí, Thạch xương bồ, Uất kim; Tố chất dương hư, tay chân không ấm áp, gia Phụ tử, Nhục quế; Tỳ vị hư nhược, phân lỏng nát gia Đảng sâm, Bạch truật, Phục linh; Đại tiện táo bón gia Đại hoàng sao rượu hoặc Phan tả diệp; Tiểu tiện không tự chủ gia Thục địa, Sơn thù, Ích trí nhân, Tang phiêu tiêu.
II/ Loại hình can dương thượng kháng (lên cao) dương của gan cao Có tiền sử cao huyết áp, thường đau đầu, chóng mặt, bực bội dễ cáu giận, miệng họng khô đắng, mất ngủ hay mơ, sau khi đột quỵ liệt nửa người huyết áp vẫn tiếp tục cao, các chứng trạng nêu trên không giảm, miệng mắt méo lệch, nói năng ngọng nghịu, mạch huyền hoạt hoặc huyền sác, rêu lưỡi vàng mỏng hoặc vàng nhầy.
Trị pháp: Dục âm tiềm dương, bình can tức phong (育阴潜阳,平肝熄风).
Phương dược: Thang Trấn can tức phong gia giảm: Giả thạch sống, Long cốt sống, Mẫu lệ sống, Bạch thược sống, Đan sâm đều 30g; Huyền sâm, Sinh địa, Hạ khô thảo, Mạch nha sống đều 15g, Hoàng cầm, Chi tử, Xuyên khung đều 10g, Cam thảo 6g; Đau đầu huyễn vựng gia Câu đằng, Cúc hoa, Bạch tật lê; Nói năng ngọng nghịu gia Xương bồ, Uất kim, Thiên trúc hoàng; Chi thể tê dại, co duỗi khó khăn hoặc run rẩy gia Ngô công, Toàn yết, Bạch hoa xà, đại tiện bí kết gia Đại hoàng sống,
III/ Loại hình tâm thận dương hư Biểu hiện ý thức mông lung hoặc si ngốc, hay quên, lưỡi bị cứng, nói ngọng, chi thể hoạt động không như ý, sợ lạnh tứ chi lạnh, tim đập mạnh, thở ngắn, chóng mặt ù tai, huyết áp tiên về thấp, lưỡi hồng và khô hoặc to mềm, rêu lưỡi trắng, mạch trầm tế.
Trị pháp: Tư âm bổ dương, tức phong khai khiếu (滋阴补阳,熄风开窍).
Phương dược: Địa hoàng ẩm tử gia giảm: Sinh địa, Hoàng kỳ đều 30g. Sơn thù, Ba kích thiên, Nhục thung dung, Thạch hộc đều 12g, Viễn chí, Xương bồ, Mạch đông, Ngưu tất đều 10g, Ngũ vị tử, Phụ tử, Toàn yết đều 6g. Thiên về thận âm hư, nóng trong xương gia Tang chi, Miết giáp, Địa cốt bì; Thiên về thận dương hư gia Dâm dương hoắc, Tiên mao; Khí hư gia Nhân sâm hoặc Đảng sâm .
Cơ chế và tác dụng của Thang Ích khí khứ ứ thông mạch trong điều trị bệnh mạch máu não thiếu máu như thế nào?
Thành phần của Thang Ích khí khứ ứ thông mạch (Phương kinh nghiệm) gồm: Hoàng kỳ sống 30~120g, Đương quy, Xuyên khung, Xích thược, Đào nhân, Hồng hoa đều 12~15g, Địa long 15~20g, Ngưu tất, Đan sâm, Kê huyết đằng đều 30g, Thuỷ điệt, Đại hoàng, Toàn yết đều từ 6~10g, Cam thảo từ 3~6g. Sắc uống mỗi ngày 1 thang.
Nghiên cứu y học hiện đại đã chứng minh, sự xuất hiện của bệnh thiếu máu não cục bộ không chỉ liên quan đến tổn thương thành mạch, mà còn liên quan đến tình trạng lưu thông máu bất thường, độ đặc, niêm độ, độ đông máu và độ ngưng tụ là những nguyên nhân chủ yếu hình thành huyết thuyên (cục máu hình nút chai) và thiểu năng cung cấp máu cho não. Đông y học cho rằng, doanh huyết lưu thông tuần hoàn trong cơ thể để nuôi dưỡng ngũ tạng lục phủ, tứ chi và các xương khớp, để giúp chúng phát huy công năng sinh lý bình thường, đều nhờ vào các tác dụng như lực thúc đẩy, làm ấm, cố nhiếp (bảo vệ, kiểm soát và không chế) và khí hoá*. “Khí vi huyết soái, huyết vi khí mẫu, khí hành tắc duyết hành, khí trệ tắc huyết ứ” (气为血帅,血为气母;气行则血行,气滞则血瘀). Khí là tướng soái của huyết, huyết là mẹ của khí; Khí tuần hành thì huyết tuần hành, khí đình trệ thì huyết bị ứ. Nếu người cao tuổi thân thể hư nhược hoặc mệt mỏi tổn háo khí, khí hư nhược không đủ lực thúc đẩy huyết dịch vận hành, huyết dịch bị nghẽn tắc trong mạch lạc, cân mạch không được nuôi dưỡng nên phát bệnh trúng phong (đột quỵ). Biểu hiện trên lâm sàng là liệt nửa người, nói năng ngọng nghịu. Chúng ta từ căn bản của thang Bổ dương hoàn ngũ gia vị thành thang Ích khí khứ ứ thông mạch, trong phương sử dụng một lượng lớn Hoàng kỳ làm chủ dược để bổ khí hành huyết, phối với Đương quy, Xích thược, Xuyên khung, Đào nhân, Hồng hoa, Đan sâm, Thuỷ điệt, Kê huyết đằng để hoạt huyết thông mạch, khứ trừ ứ huyết; Địa long, Toàn yết ngừng can phong, thông kinh lạc; Ngưu tất thông kinh tán ứ, hạ huyết áp; Đại hoàng thông phủ tiết nhiệt, hoạt huyết hoá ứ; Cam thảo điều hoà các vị thuốc. Phương thang này trong bồi bổ có tác dụng loại trừ (bổ trung ngụ tán) và trong tác dụng loại trừ có ý bồi bổ (tán trung ngụ bổ) phương thang có kết cấu nghiêm túc cẩn thận, dùng dược đơn giản nhưng dược lực có tính chuyên môn, vì thế quan sát lâm sàng cho thấy phương thang có tác dụng tốt đối với việc điều trị bệnh thiếu máu não.
Thành dược điều trị bệnh thiếu máu não:
Hiện này có rất nhiều loại thành dược (thuốc chế biến sẵn) dùng để điều trị chứng thiếu máu não, có tác dụng nhất định trong việc phòng ngừa và điều trị tắc nghẽn mạch máu não, nhưng một số chế phẩm vẫn thiếu cơ chế nghiên cứu ngẫu nhiên mù đôi nghiêm ngặt.
Trong thời kỳ hồi phục của bệnh nhân bệnh mạch máu não nên tiến hành xoa bóp như thế nào?
Xoa bóp rất có lợi cho việc hồi phục của liệt nửa người, không chỉ có tác dụng kích thích chức năng dinh dưỡng thần kinh, thúc đẩy tuần hoàn máu ở chân tay, thư giãn cơ bắp, giảm căng cơ, giảm co rút cơ và teo cơ mà còn nâng cao khả năng miễn dịch của cơ thể, tăng tổng lượng bạch cầu và tăng cường khả năng thực bào. Tăng hiệu giá bổ thể huyết thanh.
Bộ phận và phạm vi xoa bóp: Nói chung, phần chi bị đau có thể xoa bóp chỗ nào thì nên tiến hành xoa bóp chỗ ấy. Thứ tự có thể bắt đầu từ trên đầu trước, dùng ngón tay cái xoa đầu bệnh nhân 5 lần, dùng hai tay xoa bóp chi trên của bệnh nhân 5 lần, sau đó dùng ngón tay thực hiện phương pháp bẻ gân 1 hoặc 2 lần. Nhào và di chuyển các đốt ngón tay cùng một lúc. Gập chi dưới nhiều lần, đồng thời dùng ngón tay cái xoa mu bàn chân giữa các ngón chân nhiều lần. Thời gian và sức mạnh của massage nên khác nhau tuỳ theo người. Đối với người già yếu, lực xoa bóp nên nhẹ, thời gian xoa bóp ngắn, ngược lại đối với bệnh nhân trẻ tuổi bị liệt nửa người nặng, cường độ xoa bóp nên cao, thời gian xoa bóp kéo dài, mỗi lần xoa bóp thường kéo dài trong khoảng thời gian từ 20 ~ 30 phút, ngày 1 lần, 15 ngày là một đợt điều trị.
Nếu bệnh nhân bị chóng mặt, tim đập nhanh, đổ mồ hôi lạnh và khó thở trong khi xoa bóp, hãy ngừng xoa bóp và nghỉ ngơi trên giường. Trong giai đoạn cấp tính của bệnh xuất huyết mạch máu não, để ngăn chảy máu thêm, tạm thời không nên xoa bóp. Bệnh nhân bị tắc mạch não và suy tim nặng cũng không thích hợp xoa bóp. Bệnh nhân bị huyết khối não, nếu tình trạng của họ trở nên tồi tệ hơn. cũng phải ngừng xoa bóp.
Đông y nhận thức như thế nào đối với bệnh mạch máu não?
Bệnh mạch máu não thuộc phạm trù trúng phong (đột quỵ) của y học Trung hoa, còn gọi là Thốt trúng. Đầu tiên xuất hiện trong {Nội kinh}, Trước thời Đường Tống chủ yếu gọi là học thuyết “Ngoại phong” (外风), phần nhiều với lập luận “Nội hư tà trúng” (内虚邪中), như {Kim Quỹ Yếu Lược} cho rằng: Mạch lạc trống rỗng (không hư), phong tà thừa hư xâm nhập, đồng thời với vị trí bệnh tà nông sâu, tình trạng bệnh nặng nhẹ mà phân thành trúng lạc hoặc trúng kinh hay trúng tạng phủ. Sau đời Đường Tống, đặc biệt trong thời đại Kim Nguyên, nổi bật với lý luận “Nội phong” (内风), chủ yếu phân loại theo góc độ nguyên nhân bệnh, đề xuất “Chân trúng” (真中), “Loại trúng” (类中), Trương Cảnh Nhạc lại đề xướng thuyết “Phi phong” (非风), đề xuất luận điểm “Nội phong tích tổn” (内伤积损), cùng thời có y gia Lý Trung Tử, lại đem chứng Trúng phong minh xác phân thành hai hội chứng : Chứng Bế và chứng Thoát. Diệp Thiên Sĩ lại tiến thêm một bước làm sáng tỏ cơ chế phát bệnh “Tinh huyết suy háo, thuỷ bất hàm mộc ……can dương thiên kháng, nội phong thời khởi” (精血衰耗,水不涵木……肝阳偏亢,内风时起) Tinh huyết suy háo nên (thận) thuỷ không nuôi dưỡng được (can) mộc, vì thế nội phong khởi phát. Đồng thời đề xuất trên phương diện trị liệu: Thuỷ bất hàm mộc, nội phong thời khởi giả (Thuỷ không nuôi dương được mộc, nội phong khởi phát) dùng trị pháp Tư dịch tức (dập tắt) phong, bổ âm tiềm dương (bồi bổ tân dịch để trị phong, bổ âm để khống chế dương); Nếu âm dương cùng bị hư tổn, điều trị nên ôn nhu nhu nhuận (温柔濡润) ấm áp nhẹ nhàng, ẩm ướt vừa đủ; Với di chứng điều trị nên bổ ích khí huyết, trừ đàm hoả, thông kinh lạc với bế chứng dùng Chí bảo đan, với chứng thoát dùng Sâm phụ để hồi dương, khiến cho phép trị liệu ngày càng hoàn thiện. Mà danh y Vương Thanh Nhậm lại tập trung vào lập thuyết khí hư, thường dùng thang Bổ dương hoàn ngũ để điều trị chứng liệt nửa người, mà đến nay vẫn là phương thang thường dùng hàng đầu trên lâm sàng. Các y gia cận đại như Trương Bá Long, Trương Sơn Lôi, Trương Thọ Phủ tổng kết kinh nghiệm của tiền nhân, bắt đầu kết hợp với kiến thức của y học hiện đại để tìm hiểu sâu hơn về cơ chế phát bệnh, họ nhận ra rằng nguyên nhân chính của căn bệnh này là do can dương hóa phong. khí huyết cùng bị đảo ngược, tấn công trực tiếp vào não.
Phần chú thích:
*Phong tính thiện hành số biến (风性善行而数变)
“Thiện hành” là chỉ về tính di động của phong, đến vị trí bệnh của phong là luôn du di bất định, điểm đặc trưng là không có điểm cố định. Như ba khí phong, hàn và thấp kết hợp lại gây bệnh, nếu thấy đau di động từ khớp này sang khớp khác, điểm đau không cố định, thì đó là biểu hiện của phong tà mạnh hơn hàn và thấp, thường được gọi là “Hành tí” hoặc “Phong tí”.
** Huyễn vựng là ảo giác chủ quan mà cơ thể con người cảm nhận được những chuyển động tương đối như xoay tròn, lên xuống, bồng bềnh, lắc lư, ngã đổ của bản thân hoặc của vật thể xung quanh và của môi trường. Bệnh nhân thường phàn nàn về chóng mặt, trời đấy xoay chuyển mất thăng bằng và rất khó chịu, thường kèm theo buồn nôn, nôn, đổ mồ hôi ban đêm hoặc đi lại khó khăn.
*** Can dương thượng kháng, còn gọi là can dương thượng nghịch, can dương thiên vượng, là chỉ về tình trạng âm của can thận suy, dương của can nhiễu loạn ở trên, biểu hiện hội chứng thượng thực hạ hư (trên thừa dưới thiếu)
**** “Bế chứng” chủ yếu dựa vào bệnh tà bế tắc bên trong, bệnh tà bế tắc bên trong là chứng thuộc dương, cần khẩn trương thanh trừ bệnh tà, vì có “dương bế” và “âm bế” nên cách điều trị cũng khác nhau.” Dương bế” là thanh gan tức phong, tân lương khai khiếu (mát gan trị phong, dùng vị cay mát để khai mở khiếu), dùng Chí bảo đan, hoặc An cung ngưu hoàng hoàn, đồng thời dùng thang Linh dương giác để thanh can tức phong, dục âm tiềm dương (nuôi âm để khống chế dương), chứng “Âm bế” nên dùng phương pháp trừ đàm tức phong, tân ôn khai khiếu, táo thấp khoát đàm.
Gọi là “Thoát chứng”, chính là chỉ về trong quá trình bệnh, một lượng lớn âm dương khí huyết bị tổn háo đến mức độ nguy hiểm đến tính mạng. Chứng “thoát” bao gồm nhiều chứng bệnh, trên lâm sàng gọi chung là chứng “thoát” dành cho những người bị đột ngột suy kiệt tinh khí như tai biến mạch máu não, ra quá nhiều mồ hôi, tiêu chảy, mất máu nhiều, tinh khí dần dần tiêu vong. Chẳng hạn như sốc choáng về cơ bản có thể được bao gồm trong phạm vi này. Nếu là do sinh lực suy yếu, sinh khí dần dần tiêu hao do bệnh tật kéo dài, thì gọi là “Hư thoát”. Suy chức năng của tim, phổi, gan và thận về cơ bản có thể được bao gồm trong phạm vi của chứng này. Bởi vì nguyên nhân, bệnh lý và triệu chứng được đặc trưng bởi sự rò rỉ tinh khí tiết ra bên ngoài, nên nó còn được gọi là “ngoại thoát” thoát ra ngoài.
** Khí hóa là chỉ sự vận động và biến đổi của khí Khí hóa triết học là chỉ sự vận động và biến đổi của khí, nói chung là chỉ sự biến đổi của mọi chất trong tự nhiên Khí hóa của con người là chỉ sự vận động và biến hóa của khí trong cơ thể .Khí hóa bất túc sẽ sinh bệnh.
* Thuỷ bất hàm mộc là thận thuỷ không nuôi được can mộc, xuất hiện âm của can không đầy đủ và bệnh chứng hư phong nội động.
* Tư âm tiềm dương là gì? Là bổ âm để khống chế dương, là bồi bổ thận âm để chế ước can hoả, dùng thuỷ khắc hoả, là loại phương pháp dùng ngũ hành tương sinh tương khắc để điều trị bệnh.
Ly Trường Xuân dịch