Khái luận
Đau thắt ngực là cảm giác đau, tức, nặng, bóp nghẹt, đè ép, nóng rát hoặc khó chịu ở vùng ngực, thường xuất hiện khi cơ tim không được cung cấp đủ máu trong một khoảng thời gian.
Đau thắt ngực không phải là một bệnh riêng biệt hoàn toàn, mà là biểu hiện của tình trạng thiếu máu cơ tim. Nguyên nhân thường gặp nhất là động mạch vành bị xơ vữa và hẹp. Ngoài ra, cơn đau còn có thể liên quan đến co thắt động mạch vành, rối loạn chức năng vi mạch vành hoặc những tình trạng làm nhu cầu hoạt động của Tâm tăng lên nhưng lượng máu cung cấp không đáp ứng đủ.
Cơn đau có thể xuất hiện sau xương ức hoặc vùng trước Tâm, lan ra vai, cánh tay, lưng, cổ, hàm hoặc vùng thượng vị. Một số người không đau rõ mà chỉ thấy ngực nặng, khó thở, mệt lả, vã mồ hôi, buồn nôn, chóng mặt hoặc hồi hộp.
Trong Trung y, đau thắt ngực thường thuộc phạm vi Hung tý (胸痹), Tâm thống (心痛), Thốt tâm thống (卒心痛), Quyết tâm thống (厥心痛), Chân tâm thống (真心痛), Tâm quý (心悸) và Chinh xung (怔忡).
Bệnh cơ căn bản là Tâm mạch không thông hoặc không được nuôi dưỡng. Phần ngọn thường là huyết ứ, đàm trọc, khí trệ và hàn ngưng; phần gốc thường là Tâm khí hư, Tâm dương hư, khí âm lưỡng hư, Tỳ hư hoặc Thận hư.
Đau ngực có thể là biểu hiện của tình trạng nguy hiểm. Khi cơn đau mới xuất hiện, tăng nặng, kéo dài, xảy ra lúc nghỉ hoặc kèm khó thở, vã mồ hôi, buồn nôn, choáng ngất, cần được đánh giá và xử trí kịp thời.
Đặc điểm của đau thắt ngực
Vị trí
Cơn đau thường xuất hiện ở sau xương ức hoặc vùng trước Tâm. Người bệnh thường không chỉ được một điểm rất nhỏ mà cảm thấy đau hoặc nặng trên một vùng tương đối rộng.
Đau có thể lan ra vai trái, mặt trong cánh tay, lưng, cổ, hàm, răng hoặc vùng thượng vị. Một số trường hợp có biểu hiện không điển hình ở vai phải, hai cánh tay hoặc những vị trí khác.
Tính chất
Cảm giác thường được mô tả là đè ép, bó chặt, nặng ngực, nghẹt thở hoặc như có vật đè lên ngực.
Một số người cảm thấy nóng rát, đau âm ỉ hoặc khó chịu mơ hồ. Đau như kim châm tại một điểm rất nhỏ, thay đổi theo tư thế hoặc kéo dài liên tục nhiều giờ thường ít điển hình hơn, nhưng không thể chỉ căn cứ vào tính chất đau để loại trừ bệnh Tâm mạch.
Tác nhân khởi phát
Cơn đau có thể xuất hiện khi đi nhanh, leo cầu thang, mang vật nặng, làm việc gắng sức, gặp lạnh, ăn quá no hoặc xúc động mạnh.
Khi nhu cầu khí huyết của cơ tim tăng mà dòng máu qua động mạch vành không tăng tương ứng, người bệnh dễ xuất hiện đau.
Một số cơn đau xảy ra khi nghỉ, về đêm hoặc sáng sớm, thường liên quan đến co thắt mạch hoặc tình trạng bệnh không ổn định.
Thời gian
Cơn đau thắt ngực ổn định thường kéo dài trong thời gian tương đối ngắn và giảm khi người bệnh dừng hoạt động.
Đau kéo dài hơn thường lệ, không giảm như trước hoặc tái phát liên tiếp cần được xem là dấu hiệu bất thường.
Không nên tự dùng một mốc thời gian cứng để quyết định có đi cấp cứu hay không. Mọi cơn đau mới, nặng, khác thường hoặc kèm triệu chứng toàn thân đều cần được chú ý.
Cách giảm
Đau thắt ngực ổn định thường giảm khi người bệnh dừng gắng sức và nghỉ.
Nếu đã được kê thuốc dùng khi lên cơn, cần sử dụng đúng hướng dẫn riêng. Không tự tăng liều hoặc tiếp tục chờ tại nhà khi cơn đau không giảm.
Đau thắt ngực ổn định
Đau thắt ngực ổn định thường xuất hiện trong những hoàn cảnh tương đối giống nhau, như đi nhanh, leo cầu thang, lao động hoặc xúc động.
Mức hoạt động gây đau, vị trí, tính chất và thời gian của cơn thường tương đối nhất quán. Khi nghỉ, triệu chứng giảm.
Tuy được gọi là ổn định, bệnh vẫn cần được điều trị và theo dõi lâu dài. Người bệnh không nên chỉ tránh hoạt động gây đau mà bỏ qua việc kiểm soát mỡ máu, huyết áp, đường huyết, thuốc lá và cân nặng.
Đau thắt ngực không ổn định
Đây là tình trạng nguy hiểm, có thể tiến triển thành nhồi máu cơ tim.
Những biểu hiện thường gặp gồm:
Cơn đau mới xuất hiện trong thời gian gần đây.
Cơn đau xảy ra thường xuyên hơn trước.
Đau xuất hiện khi hoạt động nhẹ hơn trước.
Đau xảy ra khi nghỉ hoặc trong lúc ngủ.
Cơn đau kéo dài hơn hoặc mạnh hơn.
Thuốc dùng khi lên cơn không còn hiệu quả như trước.
Đau kèm khó thở, vã mồ hôi, buồn nôn, choáng hoặc suy kiệt.
Khi xuất hiện những thay đổi này, không nên tiếp tục theo dõi tại nhà hoặc tự điều trị bằng thuốc Trung y.
Đau thắt ngực do co thắt mạch vành
Cơn đau có thể xảy ra lúc nghỉ, về đêm hoặc sáng sớm, đôi khi theo một khung giờ tương đối cố định.
Bệnh cơ chủ yếu liên quan đến sự co rút tạm thời của động mạch vành. Cơn đau có thể xảy ra ngay cả khi mức độ hẹp cố định không nặng.
Trong Trung y, tình trạng này có thể liên quan đến hàn ngưng, khí trệ, Can uất, đàm ứ hoặc khí cơ đột ngột nghịch loạn.
Đau thắt ngực vi mạch
Một số người có triệu chứng thiếu máu cơ tim nhưng động mạch vành lớn không thấy hẹp đáng kể. Rối loạn chức năng các mạch máu nhỏ nuôi cơ tim có thể là nguyên nhân.
Thể bệnh này thường khó nhận biết và có thể gặp ở phụ nữ. Người bệnh vẫn có thể đau khi gắng sức, khó thở, mệt hoặc hồi hộp.
Không nên cho rằng chụp mạch vành lớn không thấy tắc nghẽn thì mọi cơn đau đều không liên quan đến Tâm.
Thiếu máu cơ tim không đau
Mức độ đau không phải lúc nào cũng tương ứng với mức độ thiếu máu cơ tim.
Có người thiếu máu cơ tim đáng kể nhưng không đau, chỉ biểu hiện bằng khó thở, mệt, vã mồ hôi, chóng mặt hoặc giảm khả năng vận động. Tình trạng này thường dễ bị bỏ sót.
Người cao tuổi, người đái tháo đường hoặc đã có bệnh mạch vành không nên chỉ dựa vào cảm giác đau để đánh giá tình trạng Tâm mạch.
Nhận thức của Trung y
Tâm chủ huyết mạch
Tâm khí thúc đẩy huyết vận hành, Tâm dương ôn thông mạch lạc, Tâm âm và Tâm huyết nuôi dưỡng Tâm mạch.
Khi khí huyết đầy đủ, âm dương điều hòa thì vùng ngực khoan khoái, hơi thở thông thuận.
Nếu Tâm khí suy, huyết vận hành thiếu lực; Tâm dương suy, mạch mất ôn thông; Tâm âm huyết suy, mạch không được nuôi dưỡng. Những tình trạng này đều có thể hình thành nền tảng của đau thắt ngực.
Bất thông tắc thống
“Bất thông tắc thống” (不通则痛), nghĩa là không thông thì đau.
Huyết ứ có thể bế mạch; đàm trọc có thể ngăn trở hung dương; khí trệ làm huyết hành không thuận; hàn ngưng làm mạch co rút. Khi những yếu tố này trở ở vùng ngực, đau thắt ngực dễ phát sinh.
Bất vinh tắc thống
Ngoài tình trạng không thông, Tâm mạch không được nuôi dưỡng cũng có thể sinh đau.
Khí huyết hư, khí âm cùng suy hoặc Tâm dương bất túc làm mạch lạc mất sự nuôi dưỡng và thúc đẩy. Đau trong các thể hư thường âm ỉ, kèm mệt, hồi hộp, thở ngắn và tăng khi lao lực.
Bản hư tiêu thực
Đau thắt ngực thường có hư thực xen lẫn.
Tiêu thực gồm huyết ứ, đàm trọc, khí trệ, hàn ngưng và đàm nhiệt.
Bản hư gồm Tâm khí hư, Tâm dương hư, khí âm lưỡng hư, Tâm huyết hư, Tỳ khí hư, Thận dương hư hoặc Can Thận âm hư.
Điều trị phải xét cả phần bế trở và phần chính khí suy. Không nên chỉ hoạt huyết hoặc chỉ bổ dưỡng.
Nguyên nhân thường gặp
Ăn uống không điều độ
Ăn nhiều béo ngọt, chiên rán, uống rượu, ăn quá no hoặc ăn khuya làm Tỳ mất kiện vận, thấp tụ thành đàm.
Đàm trọc bế vùng ngực khiến hung dương không thông, sinh ngực nặng và đau tức.
Tình chí uất kết
Giận dữ, căng thẳng, lo nghĩ và uất ức kéo dài làm Can khí không điều đạt.
Khí trệ thì huyết ứ. Khi khí huyết vùng ngực bị trở ngại, cơn đau thường liên quan rõ đến xúc động.
Hàn tà xâm nhập
Lạnh làm khí huyết co rút và ngưng trệ. Người có Tâm dương hư hoặc huyết ứ sẵn thường dễ đau khi ra ngoài lạnh, tắm lạnh hoặc gặp gió rét.
Lao lực
Làm việc quá sức làm hao khí. Tâm khí suy không đủ thúc đẩy huyết mạch, người bệnh dễ đau ngực, thở ngắn và mệt khi gắng sức.
Tuổi cao và bệnh lâu ngày
Tuổi cao làm Thận khí, âm huyết và dương khí dần suy. Bệnh mạch vành kéo dài cũng làm khí huyết hao tổn.
Khi phần hư và phần thực cùng tồn tại, cơn đau thường tái phát nhiều lần.
Nguyên tắc điều trị
Khi cơn đau cấp hoặc có biểu hiện không ổn định, ưu tiên đánh giá và xử trí theo chuyên khoa Tâm mạch.
Trong giai đoạn ổn định, Trung y có thể hỗ trợ theo các nguyên tắc:
Huyết ứ thì hoạt huyết hóa ứ, thông mạch chỉ thống.
Đàm trọc thì kiện Tỳ hóa đàm, thông dương khoan hung.
Đàm ứ cùng kết thì hóa đàm hoạt huyết.
Khí trệ thì sơ Can lý khí, điều đạt vùng ngực.
Hàn ngưng thì ôn thông tán hàn.
Tâm khí hư thì ích khí dưỡng Tâm.
Khí âm lưỡng hư thì ích khí dưỡng âm, phục mạch.
Tâm dương hư thì ôn dương ích khí, thông mạch.
Tâm Thận âm hư thì dưỡng âm, ích Thận, an thần.
Một. Tâm mạch huyết ứ
Chứng trạng
Đau ngực như châm, đau thắt hoặc bóp nghẹt, vị trí tương đối cố định, có thể lan ra vai, lưng hoặc cánh tay; sắc mặt tối, môi hơi tím, lưỡi tím hoặc có điểm ứ, tĩnh mạch dưới lưỡi tím giãn, mạch sáp hoặc kết đại.
Bệnh cơ
Huyết ứ bế trở Tâm mạch, khí huyết không thông nên đau. Đau cố định, lưỡi tím và môi tím là những biểu hiện thường gặp.
Pháp trị
Hoạt huyết hóa ứ, thông mạch chỉ thống.
Phương thang
Huyết phủ trục ứ thang gia giảm (血府逐瘀汤加减): Đương quy (当归), Sinh địa hoàng (生地黄), Đào nhân (桃仁), Hồng hoa (红花), Xích thược (赤芍), Xuyên khung (川芎), Ngưu tất (牛膝), Sài hồ (柴胡), Chỉ xác (枳壳), Cát cánh (桔梗), Cam thảo (甘草), Đan sâm (丹参), Uất kim (郁金).
Gia giảm
Đau rõ gia Huyền hồ sách (玄胡索); ngực tức gia Qua lâu (瓜蒌), Giới bạch (薤白); hồi hộp, mất ngủ gia Toan táo nhân (酸枣仁), Bá tử nhân (柏子仁). Nhũ hương (乳香) và Một dược (没药) chỉ nên cân nhắc khi có người chuyên môn theo dõi.
Ý nghĩa
Đào nhân, Hồng hoa, Xích thược, Xuyên khung và Đan sâm hoạt huyết hóa ứ; Đương quy và Sinh địa dưỡng huyết; Sài hồ, Chỉ xác và Uất kim điều khí; Cát cánh tuyên thông vùng ngực; Ngưu tất dẫn huyết đi xuống.
Chú ý
Người đang dùng thuốc chống đông hoặc thuốc chống kết tập tiểu cầu không được tự dùng phương hoạt huyết mạnh.
Hai. Đàm trọc bế trở Tâm mạch
Chứng trạng
Ngực tức nặng như bị đè, đau không sắc nhưng kéo dài, thân thể nặng nề, dễ béo, bụng lớn, đầu nặng, đàm nhiều, ăn kém, bụng đầy, buồn nôn, rêu lưỡi trắng dày nhầy, mạch hoạt hoặc huyền hoạt.
Bệnh cơ
Tỳ mất kiện vận, thấp tụ thành đàm. Đàm trọc bế vùng ngực làm hung dương không thông và Tâm mạch bị trở ngại.
Pháp trị
Kiện Tỳ hóa đàm, thông dương khoan hung, lý khí thông mạch.
Phương thang
Qua lâu giới bạch bán hạ thang hợp Nhị trần thang gia giảm (瓜蒌薤白半夏汤合二陈汤加减): Qua lâu (瓜蒌), Giới bạch (薤白), Bán hạ (半夏), Trần bì (陈皮), Phục linh (茯苓), Cam thảo (甘草), Chỉ xác (枳壳), Đan sâm (丹参), Uất kim (郁金), Trạch tả (泽泻), Sơn tra (山楂).
Gia giảm
Đàm nhiều, buồn nôn gia Trúc nhự (竹茹), Sinh khương (生姜); bụng đầy, ăn kém gia Sa nhân (砂仁), Mộc hương (木香), Bạch truật (白术); thân thể nặng gia Hà diệp (荷叶), Ý dĩ nhân (薏苡仁).
Ý nghĩa
Qua lâu và Giới bạch khoan hung thông dương; Bán hạ, Trần bì và Phục linh hóa đàm; Chỉ xác hành khí; Trạch tả khứ thấp; Đan sâm hoạt huyết; Uất kim hành khí hóa ứ; Sơn tra tiêu thực.
Ba. Đàm ứ hỗ kết
Chứng trạng
Đau tức ngực tái phát lâu ngày, vừa có ngực nặng, đàm nhiều, thân thể nặng, rêu lưỡi nhầy, vừa có môi tím, sắc mặt tối, lưỡi tím hoặc điểm ứ, mạch huyền hoạt hoặc sáp.
Bệnh cơ
Đàm trọc và huyết ứ cùng kết trong Tâm mạch. Đàm làm khí cơ nặng nề, huyết ứ làm mạch không thông. Bệnh thường kéo dài và tái phát.
Pháp trị
Hóa đàm khứ trọc, hoạt huyết hóa ứ, thông Tâm mạch.
Phương thang
Ôn đảm thang hợp Huyết phủ trục ứ thang gia giảm (温胆汤合血府逐瘀汤加减): Bán hạ (半夏), Trần bì (陈皮), Trúc nhự (竹茹), Phục linh (茯苓), Chỉ thực (枳实), Cam thảo (甘草), Sinh khương (生姜), Đại táo (大枣), Đương quy (当归), Sinh địa hoàng (生地黄), Đào nhân (桃仁), Hồng hoa (红花), Xích thược (赤芍), Xuyên khung (川芎), Đan sâm (丹参), Ngưu tất (牛膝), Uất kim (郁金).
Gia giảm
Đau ngực rõ gia Qua lâu (瓜蒌), Giới bạch (薤白), Huyền hồ sách (玄胡索); thấp trọc nặng gia Hà diệp (荷叶), Trạch tả (泽泻), Ý dĩ nhân (薏苡仁); mất ngủ gia Toan táo nhân (酸枣仁), Dạ giao đằng (夜交藤).
Ý nghĩa
Ôn đảm thang hóa đàm và điều hòa Đởm Vị; Huyết phủ trục ứ thang hoạt huyết, điều khí vùng ngực; Đan sâm, Xích thược, Xuyên khung, Đào nhân và Hồng hoa thông mạch; Uất kim hành khí hóa ứ.
Chú ý
Phương có nhiều vị hoạt huyết, không được tự dùng khi đang sử dụng thuốc ảnh hưởng đến đông máu.
Bốn. Khí trệ huyết ứ
Chứng trạng
Đau tức ngực liên quan đến căng thẳng, giận dữ hoặc lo nghĩ; ngực sườn đầy tức, hay thở dài, dễ cáu, mất ngủ, đau có vị trí tương đối cố định, lưỡi tối hoặc có điểm ứ, mạch huyền sáp.
Bệnh cơ
Can khí uất kết làm khí cơ vùng ngực không thông. Khí trệ lâu ngày làm huyết hành chậm và hình thành huyết ứ.
Pháp trị
Sơ Can lý khí, hoạt huyết thông mạch, dưỡng Tâm an thần.
Phương thang
Sài hồ sơ Can tán hợp Đan sâm ẩm gia giảm (柴胡疏肝散合丹参饮加减): Sài hồ (柴胡), Hương phụ (香附), Chỉ xác (枳壳), Bạch thược (白芍), Xuyên khung (川芎), Trần bì (陈皮), Cam thảo (甘草), Đan sâm (丹参), Đàn hương (檀香), Sa nhân (砂仁), Uất kim (郁金), Xích thược (赤芍), Toan táo nhân (酸枣仁).
Gia giảm
Dễ giận, miệng đắng gia Chi tử (栀子), Hoàng cầm (黄芩); mất ngủ gia Dạ giao đằng (夜交藤), Bá tử nhân (柏子仁), Hợp hoan bì (合欢皮); đau ngực rõ gia Qua lâu (瓜蒌), Giới bạch (薤白), Huyền hồ sách (玄胡索).
Ý nghĩa
Sài hồ, Hương phụ, Chỉ xác và Trần bì sơ Can lý khí; Bạch thược hòa Can; Đan sâm, Xuyên khung và Xích thược hoạt huyết; Đàn hương, Sa nhân và Uất kim hành khí khoan hung; Toan táo nhân dưỡng Tâm.
Năm. Hàn ngưng Tâm mạch
Chứng trạng
Đau ngực phát khi gặp lạnh, gió lạnh hoặc tắm lạnh; đau co thắt, được ấm thì giảm, kèm sợ lạnh, tay chân lạnh, sắc mặt trắng xanh, lưỡi nhạt tím, rêu trắng, mạch trầm khẩn hoặc trầm trì.
Bệnh cơ
Hàn chủ ngưng trệ và co rút. Hàn làm mạch lạc co lại, khí huyết không thông nên đau.
Pháp trị
Tán hàn thông dương, ôn thông Tâm mạch.
Phương thang
Qua lâu giới bạch quế chi thang gia giảm (瓜蒌薤白桂枝汤加减): Qua lâu (瓜蒌), Giới bạch (薤白), Quế chi (桂枝), Bán hạ (半夏), Chỉ thực (枳实), Hậu phác (厚朴), Đan sâm (丹参), Xuyên khung (川芎), Cam thảo (甘草).
Gia giảm
Sợ lạnh rõ gia Can khương (干姜); đau nhiều gia Huyền hồ sách (玄胡索); khí hư gia Hoàng kỳ (黄芪), Đảng sâm (党参). Phụ tử chế (制附子) và Tế tân (细辛) chỉ dùng khi có người chuyên môn theo dõi.
Ý nghĩa
Qua lâu và Giới bạch thông dương khoan hung; Quế chi ôn thông; Bán hạ hóa đàm; Chỉ thực và Hậu phác hành khí; Đan sâm và Xuyên khung hoạt huyết.
Chú ý
Không tự dùng Phụ tử hoặc Tế tân. Đau ngực gặp lạnh vẫn có thể là biểu hiện cấp tính nguy hiểm.
Sáu. Tâm khí hư
Chứng trạng
Đau hoặc tức ngực âm ỉ, hồi hộp, thở ngắn, mệt mỏi, vận động thì tăng, tự ra mồ hôi, sắc mặt nhợt, tiếng nói nhỏ, lưỡi nhạt, mạch hư nhược hoặc tế nhược.
Bệnh cơ
Tâm khí hư không đủ sức thúc đẩy huyết dịch. Tâm mạch mất nuôi dưỡng nên người bệnh đau âm ỉ, hồi hộp và mệt khi gắng sức.
Pháp trị
Ích khí dưỡng Tâm, kiêm hoạt huyết thông mạch.
Phương thang
Bảo nguyên thang hợp Đan sâm ẩm gia giảm (保元汤合丹参饮加减): Hoàng kỳ (黄芪), Đảng sâm (党参), Chích cam thảo (炙甘草), Đan sâm (丹参), Đàn hương (檀香), Sa nhân (砂仁), Mạch môn đông (麦门冬), Ngũ vị tử (五味子). Nhục quế (肉桂) chỉ dùng lượng nhỏ khi hàn tượng rõ.
Gia giảm
Mệt nhiều gia Bạch truật (白术), Phục linh (茯苓); mồ hôi nhiều gia Phù tiểu mạch (浮小麦), Mẫu lệ (牡蛎), Ma hoàng căn (麻黄根); hồi hộp gia Toan táo nhân (酸枣仁), Long cốt (龙骨), Bá tử nhân (柏子仁).
Ý nghĩa
Hoàng kỳ và Đảng sâm ích khí; Đan sâm thông mạch; Đàn hương và Sa nhân hành khí; Mạch môn đông dưỡng âm; Ngũ vị tử liễm khí định Tâm.
Bảy. Khí âm lưỡng hư
Chứng trạng
Đau ngực âm ỉ, hồi hộp, thở ngắn, mệt, miệng khô, ra mồ hôi, ngủ kém, lòng bàn tay bàn chân hơi nóng, lưỡi đỏ nhạt hoặc ít rêu, mạch tế sác hoặc hư sác.
Bệnh cơ
Khí hư không đủ sức vận huyết; âm hư làm Tâm mạch thiếu nhu dưỡng. Khí âm cùng suy nên đau thường âm ỉ, kèm mệt, hồi hộp và miệng khô.
Pháp trị
Ích khí dưỡng âm, phục mạch thông lạc, dưỡng Tâm an thần.
Phương thang
Sinh mạch tán hợp Chích cam thảo thang gia giảm (生脉散合炙甘草汤加减): Đảng sâm (党参), Mạch môn đông (麦门冬), Ngũ vị tử (五味子), Chích cam thảo (炙甘草), Sinh địa hoàng (生地黄), A giao (阿胶), Ma nhân (麻仁), Quế chi (桂枝), Sinh khương (生姜), Đại táo (大枣), Đan sâm (丹参), Toan táo nhân (酸枣仁).
Gia giảm
Mất ngủ gia Bá tử nhân (柏子仁), Dạ giao đằng (夜交藤); mồ hôi nhiều gia Phù tiểu mạch (浮小麦), Mẫu lệ (牡蛎); ngực tức gia Qua lâu (瓜蒌), Uất kim (郁金).
Ý nghĩa
Đảng sâm ích khí; Mạch môn đông và Sinh địa dưỡng âm; Ngũ vị tử liễm khí; Chích cam thảo và A giao dưỡng huyết phục mạch; Quế chi thông dương; Đan sâm thông mạch; Toan táo nhân dưỡng Tâm.
Tám. Tâm dương hư
Chứng trạng
Đau ngực âm ỉ hoặc gặp lạnh thì tăng, hồi hộp, thở ngắn, mệt mỏi, sắc mặt trắng xanh, sợ lạnh, tay chân lạnh, có thể phù nhẹ, lưỡi nhạt tối, rêu trắng, mạch trầm trì hoặc trầm tế.
Bệnh cơ
Tâm dương suy làm huyết mạch mất sự ôn thông. Huyết hành chậm, hàn và ứ dễ kết, gây đau và lạnh tứ chi.
Pháp trị
Ôn dương ích khí, hoạt huyết thông mạch.
Phương thang
Tham phụ thang hợp Quế chi cam thảo thang gia giảm (参附汤合桂枝甘草汤加减): Đảng sâm (党参), Phụ tử chế (制附子), Quế chi (桂枝), Chích cam thảo (炙甘草), Hoàng kỳ (黄芪), Đan sâm (丹参), Xuyên khung (川芎), Đương quy (当归), Phục linh (茯苓).
Gia giảm
Sợ lạnh rõ gia Can khương (干姜); phù nhẹ gia Trạch tả (泽泻), Xa tiền tử (车前子); hồi hộp, ngủ kém gia Long cốt (龙骨), Mẫu lệ (牡蛎).
Ý nghĩa
Đảng sâm và Hoàng kỳ ích khí; Phụ tử chế và Quế chi ôn dương; Đan sâm, Xuyên khung và Đương quy dưỡng huyết hoạt huyết; Phục linh kiện Tỳ lợi thủy.
Chú ý
Phụ tử có độc tính. Không tự dùng thuốc ôn dương mạnh khi có đau ngực cấp, rối loạn nhịp, huyết áp không ổn định hoặc suy tim.
Chín. Tâm Thận âm hư
Chứng trạng
Ngực tức hoặc đau nhẹ, hồi hộp, mất ngủ, ra mồ hôi đêm, miệng khô, ù tai, chóng mặt, lưng gối đau mỏi, lòng bàn tay bàn chân nóng, lưỡi đỏ ít rêu hoặc có vết nứt, mạch tế sác.
Bệnh cơ
Tâm âm và Thận âm cùng suy, Tâm mạch mất nhu dưỡng, Tâm thần không yên. Nếu kiêm đàm hoặc huyết ứ, vùng ngực càng bức bối.
Pháp trị
Dưỡng âm ích Thận, dưỡng Tâm an thần, thông mạch nhẹ.
Phương thang
Thiên vương bổ tâm đan hợp Tả quy ẩm gia giảm (天王补心丹合左归饮加减): Sinh địa hoàng (生地黄), Huyền sâm (玄参), Thiên môn đông (天门冬), Mạch môn đông (麦门冬), Đan sâm (丹参), Đương quy (当归), Phục linh (茯苓), Viễn chí (远志), Toan táo nhân (酸枣仁), Bá tử nhân (柏子仁), Ngũ vị tử (五味子), Thục địa hoàng (熟地黄), Sơn thù du (山茱萸), Sơn dược (山药), Cẩu kỷ tử (枸杞子).
Gia giảm
Mồ hôi đêm gia Mẫu lệ (牡蛎), Phù tiểu mạch (浮小麦); ngực tức gia Qua lâu (瓜蒌), Uất kim (郁金); huyết ứ nhẹ gia Xích thược (赤芍).
Ý nghĩa
Sinh địa, Huyền sâm, Thiên môn đông và Mạch môn đông dưỡng âm; Thục địa, Sơn thù du, Sơn dược và Cẩu kỷ tử bổ Can Thận; Đan sâm thông mạch; Toan táo nhân, Bá tử nhân và Viễn chí dưỡng Tâm an thần.
Đau ngực không điển hình
Không phải mọi cơn đau ngực do thiếu máu cơ tim đều biểu hiện giống nhau.
Phụ nữ, người cao tuổi và người đái tháo đường có thể chỉ thấy khó thở, mệt lả, đau lưng, đau hàm, buồn nôn hoặc đầy tức thượng vị.
Một số người đau ở những vị trí ít gặp nhưng vẫn có liên quan rõ với vận động và giảm khi nghỉ.
Do đó, không nên dùng một biểu hiện đơn lẻ để kết luận cơn đau có thuộc Tâm hay không.
Phân biệt với một số nguyên nhân khác
Đau cơ xương thành ngực
Đau thường tăng khi ấn vào một điểm, cử động vai, xoay người hoặc thay đổi tư thế.
Tuy nhiên, người bệnh mạch vành vẫn có thể đồng thời mắc đau cơ xương, nên việc ấn đau không loại trừ hoàn toàn bệnh Tâm.
Đau thần kinh liên sườn
Đau thường chạy dọc theo một hoặc hai khoang liên sườn, có tính nóng rát hoặc châm, tăng khi cử động thân mình và có điểm ấn đau.
Viêm màng phổi hoặc bệnh Phế
Đau thường tăng khi hít sâu, ho hoặc thay đổi tư thế, có thể kèm sốt, ho và khó thở.
Khó thở và đau ngực vẫn cần được đánh giá vì bệnh Phế và bệnh Tâm có thể cùng tồn tại.
Trào ngược dạ dày thực quản
Thường có nóng rát sau xương ức, ợ chua, trào dịch, tăng sau ăn hoặc khi nằm.
Đau thượng vị không nên mặc nhiên được xem là bệnh dạ dày, nhất là khi kèm mệt, vã mồ hôi hoặc xuất hiện khi gắng sức.
Bệnh túi mật
Đau thường liên quan đến bữa ăn nhiều dầu mỡ, vị trí ở vùng hạ sườn phải hoặc thượng vị, có thể lan ra vai lưng.
Thoái hóa cột sống cổ
Đau có thể liên quan đến tư thế cổ, lan xuống vai tay, kèm tê hoặc hạn chế vận động cổ.
Lo âu và tăng thông khí
Người bệnh có thể đau ngực, hồi hộp, thở nhanh, tê quanh miệng hoặc đầu ngón tay.
Không nên quy mọi cơn đau cho tâm lý khi chưa đánh giá nguyên nhân Tâm mạch.
Nhồi máu cơ tim
Đau thường nặng, kéo dài, không giảm như những cơn trước, kèm vã mồ hôi, buồn nôn, khó thở, choáng hoặc suy kiệt.
Một số trường hợp nhồi máu cơ tim không đau rõ. Vì vậy, triệu chứng toàn thân và sự thay đổi so với trước có ý nghĩa quan trọng.
Châm cứu hỗ trợ
Châm cứu có thể hỗ trợ điều khí, hoạt huyết, hóa đàm, an thần và cải thiện đau tức ngực nhẹ ở giai đoạn ổn định.
Các huyệt thường dùng gồm Tâm bào-6 Nội quan (内关), Nhâm-17 Chiên trung (膻中), Tâm-7 Thần môn (神门), Bàng quang-15 Tâm du (心俞), Bàng quang-14 Quyết âm du (厥阴俞), Nhâm-14 Cự khuyết (巨阙), Bàng quang-17 Cách du (膈俞), Vị-36 Túc tam lý (足三里), Tỳ-6 Tam âm giao (三阴交), Vị-40 Phong long (丰隆), Can-3 Thái xung (太冲).
Đau tức ngực và hồi hộp phối Tâm bào-6 Nội quan, Nhâm-17 Chiên trung, Bàng quang-15 Tâm du và Tâm-7 Thần môn.
Huyết ứ phối Bàng quang-17 Cách du, Tỳ-10 Huyết hải, Tâm bào-6 Nội quan và Tỳ-6 Tam âm giao.
Đàm trọc phối Vị-40 Phong long, Nhâm-12 Trung quản, Vị-36 Túc tam lý và Nhâm-17 Chiên trung.
Khí trệ phối Can-3 Thái xung, Đại trường-4 Hợp cốc, Tâm bào-6 Nội quan và Nhâm-17 Chiên trung.
Khí hư phối Vị-36 Túc tam lý, Nhâm-6 Khí hải, Bàng quang-15 Tâm du và Tâm bào-6 Nội quan.
Không dùng châm cứu để trì hoãn việc xử trí cơn đau cấp.
Bấm huyệt
Có thể day nhẹ Tâm bào-6 Nội quan, Tâm-7 Thần môn, Nhâm-17 Chiên trung, Vị-36 Túc tam lý, Tỳ-6 Tam âm giao, Can-3 Thái xung và Vị-40 Phong long.
Không ấn mạnh vùng trước Tâm. Bấm huyệt chỉ có tính hỗ trợ thư giãn, không thay thế thuốc hoặc cấp cứu.
Cứu ngải
Cứu ngải chỉ phù hợp với thể hàn ngưng hoặc dương hư, biểu hiện sợ lạnh, tay chân lạnh, lưỡi nhạt và đau gặp lạnh tăng.
Có thể cân nhắc Nhâm-4 Quan nguyên, Nhâm-6 Khí hải, Vị-36 Túc tam lý, Đốc-4 Mệnh môn và Bàng quang-23 Thận du.
Không cứu khi đau ngực cấp, sốt, bốc hỏa, miệng khô, lưỡi đỏ, tim đập nhanh hoặc huyết áp chưa ổn định.
Ăn uống điều dưỡng
Người bệnh nên ăn thanh đạm, đủ chất và không quá no.
Cần hạn chế mỡ động vật, nội tạng, đồ chiên rán, thức ăn nhanh, bánh ngọt, nước ngọt, rượu và thức ăn quá mặn.
Nên tăng rau củ, ngũ cốc, các loại đậu, cá, đậu phụ và thịt nạc lượng vừa phải.
Không nên ăn quá no rồi vận động, tắm hoặc nằm ngủ ngay.
Thể đàm trọc
Cháo Ý dĩ nhân Sơn tra: Ý dĩ nhân (薏苡仁), Sơn tra (山楂), gạo tẻ. Người đau dạ dày hoặc Tỳ Vị hư hàn nên dùng Sơn tra ít.
Thể khí hư
Cháo Hoài sơn Liên tử Đại táo: Hoài sơn (山药), Liên tử (莲子), Đại táo (大枣), gạo tẻ.
Thể khí âm lưỡng hư
Cháo Mạch môn đông Bách hợp: Mạch môn đông (麦门冬), Bách hợp (百合), Liên tử (莲子), gạo tẻ.
Thể hàn ngưng
Cháo Sinh khương Thông bạch: Sinh khương (生姜), Thông bạch (葱白), gạo tẻ. Người âm hư, miệng khô hoặc lưỡi đỏ không nên dùng nhiều.
Tâm thần bất an
Cháo Bách hợp Liên tử: Bách hợp (百合), Liên tử (莲子), gạo tẻ. Người Tỳ Vị hư hàn hoặc tiêu lỏng nên dùng lượng vừa phải.
Chú ý về thuốc hoạt huyết
Tam thất (三七), Đan sâm (丹参), Hồng hoa (红花), Đào nhân (桃仁), Xuyên khung (川芎), Uất kim (郁金), Nhũ hương (乳香) và Một dược (没药) đều có thể ảnh hưởng đến huyết hành.
Người đang sử dụng thuốc chống đông hoặc thuốc chống kết tập tiểu cầu không nên tự dùng những vị này liều cao hoặc kéo dài.
Không nên xem Tam thất hoặc Đan sâm là thuốc bổ Tâm dùng hằng ngày.
Sinh hoạt điều dưỡng
Tránh gắng sức đột ngột
Không nên chạy, leo dốc nhanh, nâng vật nặng hoặc cố làm việc khi đã có ngực tức.
Nếu mức hoạt động gây đau ngày càng nhẹ hơn trước, cần được đánh giá lại.
Giữ ấm
Người đau khi gặp lạnh cần giữ ấm vùng đầu, cổ, ngực, lưng và bàn chân.
Không tắm lạnh hoặc ra ngoài rét đột ngột ngay sau khi thức dậy.
Không ăn quá no
Bữa ăn quá lớn làm Tỳ Vị phải vận hóa nhiều, vùng ngực dễ bức bối và Tâm phải làm việc nhiều hơn.
Nên ăn vừa đủ, nhai chậm và nghỉ nhẹ sau ăn.
Giữ đại tiện thông thuận
Rặn mạnh làm khí huyết dao động và tăng gánh nặng cho Tâm.
Nên ăn đủ chất xơ, vận động nhẹ và điều chỉnh táo bón sớm.
Điều hòa tình chí
Giận dữ, lo âu và căng thẳng làm khí cơ vùng ngực mất điều đạt.
Khi căng thẳng, có thể tạm dừng công việc, thở chậm, đi bộ nhẹ hoặc trò chuyện với người thân.
Dùng thuốc đúng
Không tự ngừng thuốc khi cơn đau đã giảm.
Nếu đã được kê thuốc dùng khi lên cơn, cần mang theo và hiểu rõ cách dùng.
Không dùng thuốc điều trị rối loạn cương cùng nitrate khi chưa có hướng dẫn chuyên môn.
Những điều nên làm
Khám Tâm mạch khi có đau ngực mới xuất hiện.
Ghi nhớ hoàn cảnh khởi phát, tính chất và thời gian của cơn đau.
Mang thuốc đã được kê khi đi xa.
Dùng thuốc đều đặn.
Kiểm soát huyết áp, đường huyết và mỡ máu.
Bỏ thuốc lá.
Ăn vừa đủ, không quá no.
Vận động theo sức.
Giữ ấm khi trời lạnh.
Tái khám đúng hẹn.
Những điều không nên làm
Không xem mọi cơn đau ngực là do dạ dày hoặc thần kinh.
Không tự xử trí cơn đau cấp bằng dầu xoa, rượu thuốc hoặc bấm huyệt.
Không tự ngừng thuốc Tâm mạch.
Không tiếp tục vận động khi đang đau.
Không ăn quá no rồi tắm hoặc làm việc nặng.
Không tự dùng nhiều vị hoạt huyết.
Không hút thuốc.
Không trì hoãn cấp cứu khi đau mới xuất hiện, tăng nặng hoặc kéo dài.
Chú ý
Bài viết trình bày nhận thức và phương pháp biện chứng theo Trung y. Khi xuất hiện đau ngực mới, đau dữ dội, đau khi nghỉ, đau tăng hơn trước hoặc đau lan ra vai, cánh tay, lưng, cổ, hàm hay vùng thượng vị, kèm khó thở, vã mồ hôi, buồn nôn, choáng ngất, sắc mặt tái xám hoặc tay chân lạnh, cần đi khám hoặc cấp cứu kịp thời.
Không dùng thuốc thang, châm cứu, bấm huyệt, dầu xoa hoặc dược thiện để trì hoãn việc xử trí.
Kết luận
Đau thắt ngực là biểu hiện của tình trạng cơ tim không được cung cấp đầy đủ máu trong một thời điểm. Cơn đau có thể ổn định và liên quan đến gắng sức, nhưng cũng có thể xuất hiện khi nghỉ, tăng dần hoặc kéo dài, báo hiệu tình trạng không ổn định.
Trong Trung y, bệnh thuộc phạm vi Hung tý và Tâm thống. Bệnh cơ chủ yếu là Tâm mạch không thông hoặc không được nuôi dưỡng, thuộc bản hư tiêu thực.
Huyết ứ thì hoạt huyết hóa ứ; đàm trọc thì kiện Tỳ hóa đàm; đàm ứ cùng kết thì hóa đàm hoạt huyết; khí trệ thì sơ Can lý khí; hàn ngưng thì ôn thông tán hàn; Tâm khí hư thì ích khí dưỡng Tâm; khí âm lưỡng hư thì ích khí dưỡng âm; Tâm dương hư thì ôn dương thông mạch; Tâm Thận âm hư thì dưỡng âm ích Thận.
Trung y có thể hỗ trợ điều hòa khí huyết, cải thiện thể chất, giấc ngủ và những triệu chứng nhẹ trong giai đoạn ổn định. Tuy nhiên, mọi cơn đau ngực mới, tăng nặng hoặc khác thường đều phải được xem xét thận trọng.
Nói tóm lại, điều quan trọng nhất không phải chỉ làm cơn đau tạm thời giảm xuống, mà là nhận biết đúng mức độ nguy hiểm, kiểm soát nguyên nhân và giữ cho Tâm mạch ổn định lâu dài.
Trường Xuân biên soạn và tổng hợp