Tài liệu tham khảo:
10 dấu hiệu sớm của u não là gì?
Trong cuộc sống thực, hầu hết mọi người đều không hiểu biết về u não. Nhiều bệnh nhân đã mất mạng vì không được chẩn đoán và điều trị sớm. Do đó, mọi người nên chú ý đến nó. 10 dấu hiệu sớm của u não được mô tả như sau.
(1) Đau đầu: Thường dữ dội và thường xảy ra vào sáng sớm. Đôi khi bệnh nhân thức dậy trong tình trạng đau đớn trong khi ngủ. Tuy nhiên, cơn đau đầu sẽ dần giảm hoặc biến mất sau khi đứng dậy và làm một số hoạt động nhẹ.
(2) Nôn: Do áp lực nội sọ tăng, trung tâm hô hấp của hành tủy bị kích thích, dẫn đến nôn. Nôn thường xảy ra sau cơn đau đầu và ở dạng tia.
(3) Suy giảm thị lực: Khi áp lực nội sọ tăng, máu tĩnh mạch trở về nhãn cầu sẽ bị chặn lại, dẫn đến xung huyết và phù nề, làm tổn thương các tế bào thị giác trên võng mạc của đáy mắt và gây giảm thị lực.
(4) Bất thường về tinh thần: Khối u não nằm ở thùy trán có thể phá hủy hoạt động tinh thần của thùy trán, gây ra các biểu hiện tinh thần bất thường như kích động, bồn chồn, trầm cảm, trầm cảm, mất trí nhớ và bịa đặt.
(5) Rối loạn cảm giác chi một bên: Thùy đỉnh, nằm ở giữa bán cầu não, chịu trách nhiệm về cảm giác. Các khối u ở khu vực này thường làm giảm hoặc biến mất tình trạng đau chi một bên, nhiệt độ, rung động và nhận thức cơ thể.
(6) Ảo giác khứu giác: Khối u ở thùy thái dương có thể gây ảo giác khứu giác khi được kích thích, tức là ngửi thấy mùi của một mùi không tồn tại, chẳng hạn như cơm cháy hoặc cao su cháy.
(7) Liệt nửa người hoặc đi loạng choạng: Các tổn thương tiểu não đặc hiệu hơn, tức là bệnh nhân thường bị liệt nửa người hoặc đi loạng choạng như say rượu sau khi bị đau đầu, nôn mửa và suy giảm thị lực.
(8) Ù tai và điếc: Thường gặp khi gọi điện thoại, tức là một tai nghe được nhưng tai còn lại thì không. Triệu chứng này thường là dấu hiệu báo trước của u thần kinh thính giác.
(9) Bệnh khổng lồ: Thường gặp hơn ở u tuyến yên. Bệnh nhân lớn nhanh và phát triển chứng to đầu chi (cằm to, mũi to, môi và lưỡi to, bàn tay và bàn chân to bất thường).
(10) Trẻ nhỏ ngừng phát triển và tăng trưởng: Thường gặp ở u sọ hầu. Biểu hiện lâm sàng là trẻ 15 hoặc 16 tuổi nhưng chỉ mới 5 hoặc 6 tuổi, các đặc điểm sinh dục chưa phát triển, bụng đầy mỡ, trông như “thiếu niên”.
Tóm lại, u não có nhiều biểu hiện khác nhau, vì vậy khi xuất hiện các dấu hiệu trên, bạn nên đến bệnh viện để kiểm tra chi tiết càng sớm càng tốt. Hiện nay, chụp cắt lớp vi tính và chụp cộng hưởng từ có thể chẩn đoán chính xác u não ở giai đoạn sớm.
Trung y nhìn nhận như thế nào về u não và có những phương phương danh tiếng nào có thể lựa chọn?
Trong các y thư cổ của Trung y, chưa ghi rõ thuật ngữ “u não”, nhưng căn cứ vào biểu hiện bệnh, các học giả y học hiện đại cho rằng có thể quy vào các phạm trù như “quyết nghịch”, “chân đầu thống” và “đầu phong”. Nguyên nhân bệnh có thể là đàm thấp nội trở, can phong nội động, hoặc khí huyết uất kết. Trung y áp dụng biện chứng luận trị, có thể tùy chứng lựa chọn các phép như:
Tư âm tiềm dương, trấn can tức phong; Ôn bổ tỳ thận, bổ não điền tủy; Hóa đàm thông lạc, tẩy đàm khai khiếu; Thanh nhiệt tả hỏa, giải độc hóa ứ
Đối với u não lành tính, thường có thể chữa khỏi sau phẫu thuật; u não ác tính thì sau phẫu thuật dễ tái phát.
Một số phương danh tiếng điều trị u não bằng Trung y:
(1) Phương nghiệm của cố giáo sư Chu Vân Tường, nguyên viện trưởng Học viện Trung y Nam Kinh, chuyên gia Trung y nổi tiếng toàn quốc: Thành phần: Tiểu xuyên khung, chế ngô công (mỗi thứ 5g), cẩu kỷ tử, đan sâm (mỗi thứ 15g), đương quy, kê cước tử, chế viễn chí, hồng hoa, đào nhân, cát cánh, bối mẫu, bán hạ, thần khúc (mỗi thứ 9g), dâm dương hoắc 30g, thái tử sâm 24g.
Cách dùng: Sắc uống, mỗi ngày 1 thang, dùng lâu dài, gia giảm theo chứng.
(2) Phương nghiệm của bác sĩ Vu Mẫn – Bệnh viện Nhạc Dương, Học viện Trung y Thượng Hải:
Thành phần: Bán hạ, nam tinh, hạ khô thảo, thạch xương bồ, cương tàm, sinh mẫu lệ, địa long, ngô công, trư phục linh, thiềm tô, địa thiền trùng, thiên long (tắc kè) – mỗi vị lượng phù hợp.
Chỉ định: Các loại u nguyên phát hệ thần kinh trung ương như u thần kinh đệm, ung thư tuyến yên, u dây thần kinh thính giác, u sọ hầu, u màng não, u tuyến tùng thể,…
Cách dùng: Mỗi ngày 1 thang, sắc uống 2 lần/ngày. Một liệu trình kéo dài 3 tháng, sau vài liệu trình có thể đổi thành dùng ngắt quãng, nên dùng lâu dài.
(3) Hai phương nghiệm của bác sĩ Lưu Vĩnh Cập – Học viện Y học Thượng Hải số 2:
Phương 1: Thành phần: Xà lục cốc, xà quả thảo (mỗi thứ 30g), bán biên liên, bán chi liên, hạ khô thảo, thiên quỳ tử, thất diệp nhất chi hoa, quán chúng, bạt thiệt (mỗi thứ 15g).
Chỉ định: Các loại u ác tính hệ thần kinh trung ương (như u thần kinh đệm, u di căn, u màng não ác tính), dùng sau phẫu thuật.
Cách dùng: Sắc uống, mỗi ngày 1 thang.
Phương 2: Thành phần: Bạch hoa xà thiệt thảo, bán biên liên, bán chi liên, quán chúng, thạch kiến xuyên, thất diệp nhất chi hoa, bạt thiệt, rễ trà, lá liễu (mỗi vị 30g).
Chỉ định: U ác tính hệ thần kinh trung ương, sau phẫu thuật bị tăng áp nội sọ.
Cách dùng: Sắc uống, mỗi ngày 1 thang.
Tập Nhất Chỉ Công hỗ trợ điều trị u não như thế nào?
(1) Chuẩn bị: Đứng thẳng, hai chân rộng bằng vai, hơi cong đầu gối, hóp bụng. Giữ đầu thẳng như cái bát, ưỡn ngực, thẳng eo, thả lỏng hông. Hạ vai, khuỷu tay, gập lòng bàn tay. Mở nhẹ các ngón tay, nhẹ nhàng hạ mí mắt. Liếm vòm miệng trên bằng lưỡi, dồn trọng tâm về gót chân. Đảm bảo cơ thể thư giãn, thoải mái, hít thở tự nhiên, đều, sâu, tĩnh tâm.
(2) Rung: Cong nhẹ đầu gối, rung, toàn thân rung theo hướng lên xuống, thả lỏng toàn thân, ấn gót chân liên tục. Tần suất rung là 120 lần/phút.
(3) Lắc tay: Dựa theo rung, vung tay trái, tay phải qua lại luân phiên, biên độ vung tăng dần từ nhỏ đến lớn. Khi vung tay trước người, vỗ nhẹ vào bụng; khi chúng được vung ra sau cơ thể, hãy đánh nhẹ vào xương cùng. Khi biên độ vung tăng lên, hãy đánh vào bụng, xương cùng, eo và lưng theo thứ tự. (4) Thư giãn cơ bắp: dần dần ngừng lắc và vung tay áo, trở về vị trí chuẩn bị ban đầu, tập trung, thư giãn cơ bắp bằng tâm trí, thư giãn các cơ quan nội tạng, thư giãn cơ và xương, và thư giãn cơ thể và tâm trí. Thứ tự: đầu, cổ, vai, cánh tay, ngực, lưng, eo, chân, đầu gối, ống chân, lòng bàn chân, gót chân.
(5) Nuôi dưỡng Đan điền: tập trung tâm trí vào Đan điền, nằm cách rốn khoảng 1 inch và sâu khoảng 1,5 đến 2,5 inch vào bụng. Tập trung tâm trí của bạn, nghĩ đến từ “yên tĩnh” khi hít vào và đưa ý thức của bạn vào Đan điền khi thở ra. Hơi thở và chuyển động của khí bên trong phải được phối hợp.
(6) Thủ huyệt: Các huyệt đạo mà bạn tập trung vào thường ở phần thân dưới, vì vậy không lo khí dương làm nhiễu loạn phần thân trên. Nếu hỏa gan bị viêm hoặc khí gan bị ứ đọng, có thể thủ Đại Đôn và Thái Xung; nếu âm gan thận hư, có thể thủ Thái Tây và Tam Âm Giao; nếu tỳ hư, có thể chọn Túc Tam Lý; nếu đàm ẩm, có thể chọn Phong Long; nếu nhiệt ẩm, có thể thủ Địa Cơ; nếu tâm thận không thông, có thể thủ Vĩnh Tuyền, v.v.
(7) Súc miệng: Tập trung vào huyệt Kim Tân và Ngọc Diệp dưới lưỡi. Có thể di chuyển nhẹ gốc lưỡi để tăng tiết nước bọt, sau đó nuốt từ từ vào đan điền thành nhiều ngụm.
(8) Trống: Từ từ giơ hai tay lên, ngón trỏ, ngón giữa và ngón đeo nhẫn cong lỏng lẻo, dùng ngón giữa làm ngón chính, hai ngón còn lại làm ngón phụ, nhắm vào huyệt đạo trên đầu, gõ nhẹ. Dùng cổ tay di chuyển các ngón tay, tần suất khoảng 120 đến 140 lần/phút. Góc trên của tai, Sun, trước tai, Tinggong, ở góc trán, Taiyang, ở trán, Zanzhu (đánh vào các huyệt Thiên Anh và Thanh Minh cùng một lúc, sau đó di chuyển trở lại đỉnh đầu, Si Shencong, ở vùng chẩm, Yuzhen, ở cổ, Fengchi.
(9) Tắm mặt: xoa hai lòng bàn tay vào nhau để làm ấm, và tắm mặt 10 lần.
(10) Kết thúc bài tập: nhẹ nhàng mở mắt, nhấc lưỡi ra khỏi vòm miệng trên và đi lại xung quanh.
Cách chăm sóc động kinh do khối u não?
Khi bệnh nhân lên cơn, người nhà hoặc những người khác nên cho bệnh nhân nằm trên nệm mềm, một bên giường dựa vào tường và bên còn lại được bảo vệ bằng khung gỗ để tránh bị ngã. Cởi cúc cổ áo kịp thời, nới lỏng thắt lưng và dùng đũa tre hoặc cán bàn chải đánh răng cuộn lại bằng khăn tay nhét vào giữa răng hàm trên và hàm dưới ở góc miệng bệnh nhân; tháo răng giả của bệnh nhân, nghiêng đầu sang một bên, chú ý đến việc tiết dịch và nôn mửa. Nếu cơn động kinh vẫn tiếp diễn, cần đưa bệnh nhân đến bệnh viện để cấp cứu ngay lập tức.
Ly Trường Xuân dịch