Người xưa có câu: “Đau răng không phải bệnh, nhưng đau lên thật khó chịu” (牙痛不是病,痛起来真要命). Câu nói này nhằm diễn tả mức độ đau dữ dội của bệnh răng, chứ không có nghĩa đau răng là tình trạng có thể xem nhẹ.
Đau răng là một triệu chứng thường gặp, có thể do tổn thương ngay tại răng, lợi, tủy răng, mô quanh chóp, nha chu hoặc các cấu trúc lân cận. Trong Trung y, đau răng thuộc phạm vi chứng Nha thống (牙痛), thường liên quan đến Vị hỏa, phong hỏa, thận âm hư, thận tinh bất túc hoặc khí huyết ứ trệ.
Đau răng có thể xuất hiện đột ngột hoặc kéo dài, đau âm ỉ hoặc dữ dội, đau khi ăn uống, đau về đêm, đau lan lên đầu, tai, thái dương hoặc xuống hàm. Việc phân biệt nguyên nhân có ý nghĩa quan trọng vì cùng là đau răng nhưng phép trị không hoàn toàn giống nhau.
NGUYÊN NHÂN ĐAU RĂNG THEO NHA KHOA HIỆN ĐẠI
Răng gồm ba loại mô cứng là men răng, ngà răng và xê măng chân răng, bên trong là tủy răng chứa nhiều mạch máu và sợi thần kinh. Khi men răng bị phá hủy, ngà răng hoặc tủy răng bị kích thích, tín hiệu đau sẽ truyền về hệ thần kinh trung ương.
Ngà răng có nhiều ống ngà nhỏ. Khi gặp lạnh, nóng, chua, ngọt hoặc tác động cơ học, dịch trong các ống ngà chuyển động, kích thích đầu mút thần kinh và tạo cảm giác ê buốt. Khi bệnh đã tiến vào tủy, phản ứng viêm trong một khoang kín làm áp lực tăng lên, vì vậy cơn đau thường dữ dội, đặc biệt vào ban đêm hoặc khi nằm.
Những bệnh thường gây đau răng gồm:
Sâu răng
Giai đoạn đầu có thể chưa đau. Khi tổn thương sâu hơn, người bệnh đau buốt khi ăn đồ ngọt, chua, lạnh hoặc nóng. Cơn đau thường giảm khi loại bỏ kích thích. Nếu thức ăn mắc vào lỗ sâu, răng có thể đau khi nhai.
Viêm tủy cấp
Đau tự phát, đau thành từng cơn, mức độ dữ dội, thường tăng vào ban đêm. Người bệnh có thể khó xác định chính xác răng đau. Nóng hoặc lạnh làm cơn đau tăng, sau khi ngừng kích thích, cảm giác đau vẫn còn kéo dài.
Viêm quanh chóp chân răng
Đau liên tục, xác định được rõ vị trí. Người bệnh có cảm giác răng dài ra, chạm răng trước các răng khác, đau khi cắn hoặc nhai. Khi gõ vào răng, cảm giác đau tăng. Lợi vùng quanh chân răng có thể đỏ, sưng hoặc xuất hiện áp xe.
Viêm nha chu
Đau thường âm ỉ, kèm lợi sưng đỏ, chảy máu, hơi thở hôi, chảy mủ, tụt lợi hoặc răng lung lay. Trường hợp nặng có thể xuất hiện áp xe nha chu và đau tăng rõ rệt.
Ê buốt ngà răng
Thường gặp khi men răng bị mòn, cổ răng khuyết hình chêm, lợi tụt hoặc chân răng lộ. Răng buốt nhói khi gặp lạnh, nóng, chua, ngọt hoặc khi chải răng.
Nứt răng
Vết nứt nhỏ đôi khi khó quan sát. Người bệnh thường đau khi cắn thức ăn cứng, đau nhói khi nhả lực cắn, hoặc ê buốt kéo dài. Nếu đường nứt lan vào tủy, có thể gây viêm tủy và đau dữ dội.
Viêm lợi trùm răng khôn
Thường gặp ở răng khôn hàm dưới mọc lệch hoặc chưa mọc hoàn toàn. Lợi vùng răng khôn sưng đau, há miệng khó, nuốt đau, hơi thở hôi, đôi khi kèm sốt và sưng vùng má.
Một số bệnh ngoài răng cũng có thể gây đau giống đau răng, như đau dây thần kinh sinh ba, viêm xoang hàm, viêm xương hàm, bệnh khớp thái dương hàm, u vùng hàm mặt hoặc một số bệnh toàn thân. Vì vậy, đau kéo dài không rõ nguyên nhân cần được thăm khám đầy đủ.
NHẬN THỨC CỦA TRUNG Y VỀ ĐAU RĂNG
Trung y cho rằng răng là phần dư của xương, Thận chủ cốt, sinh tủy, nên sự bền chắc của răng có quan hệ mật thiết với Thận. Kinh Vị và kinh Đại trường đi qua vùng răng lợi, vì vậy thực hỏa ở Dương minh thường gây đau răng, lợi sưng đỏ và miệng hôi.
Đau răng có thể do ngoại phong dẫn hỏa tà xâm nhập, do ăn nhiều thức ăn cay nóng làm Vị hỏa bốc lên, do Thận âm hao tổn khiến hư hỏa thượng viêm, hoặc do khí huyết ứ trệ sau viêm nhiễm và chấn thương.
Nói tóm lại, thực chứng thường đau dữ dội, sưng đỏ rõ, thích lạnh, miệng hôi, khát nước và đại tiện táo. Hư chứng thường đau âm ỉ, răng lung lay, đau tái phát, chân răng yếu, lưng gối mỏi hoặc đau tăng về chiều tối.
BIỆN CHỨNG LUẬN TRỊ
Triệu chứng
Đau răng khởi phát tương đối nhanh, đau từng cơn, vùng lợi có thể hơi sưng đỏ. Đau gặp gió lạnh hoặc thay đổi thời tiết thì tăng. Có thể kèm đau đầu, sợ gió, miệng khô nhẹ. Lưỡi hơi đỏ, rêu mỏng, mạch phù sác.
Phép trị
Sơ phong thanh nhiệt, tiêu sưng chỉ thống.
Phương thang
Bạc hà liên kiều phương hoặc Ngân kiều tán gia giảm.
Thành phần tham khảo: Kim ngân hoa, liên kiều, bạc hà, ngưu bàng tử, kinh giới, cát cánh, trúc diệp, cam thảo, bạch chỉ.
Gia giảm
Đau vùng răng hàm trên: gia bạch chỉ, tân di.
Đau vùng răng hàm dưới: gia hoàng cầm, thạch cao.
Lợi sưng đau rõ: gia bồ công anh, tử hoa địa đinh.
Đau lan lên thái dương: gia cúc hoa, xuyên khung.
Triệu chứng
Đau răng dữ dội, đau liên tục hoặc đau theo nhịp đập. Lợi sưng đỏ, có thể chảy máu, chảy mủ, miệng hôi, khát nước, thích uống lạnh, đại tiện táo, tiểu tiện vàng. Lưỡi đỏ, rêu vàng dày, mạch hồng sác hoặc hoạt sác.
Phép trị
Thanh Vị tả hỏa, giải độc tiêu sưng.
Phương thang
Thanh vị tán gia giảm.
Thành phần tham khảo: Hoàng liên, sinh địa hoàng, đan bì, đương quy, thăng ma, sinh thạch cao, tri mẫu, ngưu tất.
Gia giảm
Đau và sưng nhiều: gia kim ngân hoa, liên kiều, bồ công anh.
Đại tiện táo: gia đại hoàng, mang tiêu.
Chảy máu lợi: gia trắc bá diệp, bạch mao căn.
Có mủ hoặc áp xe: gia tạo giác thích, thiên hoa phấn, xuyên sơn giáp theo cách dùng cổ phương; trong thực hành hiện nay cần thay thế bằng dược liệu phù hợp và tuân thủ quy định bảo tồn động vật.
Triệu chứng
Đau răng gặp lạnh thì tăng, gặp ấm thì giảm, không sưng đỏ nhiều. Có thể kèm sợ lạnh, đau đầu, nghẹt mũi, rêu lưỡi trắng mỏng, mạch phù khẩn.
Phép trị
Sơ phong tán hàn, thông lạc chỉ thống.
Phương thang
Xuyên khung trà điều tán gia giảm.
Thành phần tham khảo: Xuyên khung, kinh giới, phòng phong, bạch chỉ, khương hoạt, tế tân, bạc hà, cam thảo.
Chú ý
Tế tân cần dùng đúng liều và đúng quy định chuyên môn. Không nên tự ý sử dụng kéo dài.
Triệu chứng
Đau răng âm ỉ, thường tái phát, lợi hơi đỏ hoặc co rút, chân răng lộ, răng lung lay nhẹ. Đau tăng về chiều tối, có thể kèm miệng khô, họng khô, nóng lòng bàn tay bàn chân, ra mồ hôi trộm, đau mỏi lưng gối. Lưỡi đỏ, ít rêu, mạch tế sác.
Phép trị
Tư âm bổ Thận, giáng hư hỏa, cố xỉ.
Phương thang
Tri bá địa hoàng thang gia giảm.
Thành phần tham khảo: Thục địa hoàng, sơn thù nhục, hoài sơn dược, phục linh, trạch tả, đan bì, tri mẫu, hoàng bá, cốt toái bổ, ngưu tất.
Gia giảm
Răng lung lay rõ: gia tục đoạn, nữ trinh tử, hạn liên thảo.
Lợi co rút, chân răng lộ: gia thạch hộc, mạch môn đông.
Đau mỏi lưng gối: gia đỗ trọng, tang ký sinh.
Triệu chứng
Đau âm ỉ kéo dài, răng lung lay, lợi nhạt màu, chân răng yếu, gặp lạnh đau tăng. Người bệnh có thể sợ lạnh, tứ chi lạnh, lưng gối mỏi, tiểu đêm nhiều, lưỡi nhạt, rêu trắng, mạch trầm trì hoặc trầm nhược.
Phép trị
Ôn bổ Thận dương, cường cốt cố xỉ.
Phương thang
Hữu quy hoàn hoặc Kim quỹ thận khí hoàn gia giảm.
Thành phần tham khảo: Thục địa hoàng, sơn thù nhục, hoài sơn dược, đỗ trọng, tục đoạn, cốt toái bổ, thỏ ty tử, phụ tử chế, nhục quế.
Chú ý
Thể này ít gặp trong đau răng cấp. Chỉ dùng thuốc ôn bổ khi có đầy đủ biểu hiện dương hư, không nên thấy đau răng là dùng thuốc nóng.
Triệu chứng
Đau cố định tại một vị trí, đau như kim châm, đau tăng khi ấn hoặc cắn, thường gặp sau chấn thương, sau thủ thuật nha khoa, nứt răng hoặc viêm kéo dài. Lợi có thể tím sẫm, lưỡi có điểm ứ huyết, mạch huyền sáp.
Phép trị
Hành khí hoạt huyết, thông lạc chỉ thống.
Phương thang
Huyết phủ trục ứ thang hoặc Đào hồng tứ vật thang gia giảm.
Thành phần tham khảo: Đào nhân, hồng hoa, đương quy, xuyên khung, xích thược, sinh địa hoàng, ngưu tất, chỉ xác, cát cánh, sài hồ, cam thảo.
PHƯƠNG PHÁP CHÂM CỨU
Châm cứu có thể hỗ trợ giảm đau, nhưng không thay thế việc điều trị sâu răng, viêm tủy, áp xe hoặc viêm quanh chóp.
Huyệt thường dùng
Đại trường-4 Hợp cốc
Vị-44 Nội đình
Vị-6 Giáp xa
Vị-7 Hạ quan
Tam tiêu-17 Ế phong
Đốc-26 Nhân trung
Nhâm-24 Thừa tương
Đại trường-20 Nghinh hương
Phối huyệt theo vị trí
Răng cửa hàm trên: Đại trường-20 Nghinh hương, Đốc-26 Nhân trung, Đại trường-4 Hợp cốc.
Răng hàm trên: Vị-7 Hạ quan, Vị-6 Giáp xa, Đại trường-4 Hợp cốc.
Răng cửa hàm dưới: Nhâm-24 Thừa tương, Vị-5 Đại nghênh, Đại trường-4 Hợp cốc.
Răng hàm dưới: Vị-6 Giáp xa, Vị-7 Hạ quan, Vị-44 Nội đình.
Vị hỏa thịnh: phối Vị-44 Nội đình, Đại trường-11 Khúc trì.
Thận âm hư: phối Thận-3 Thái khê, Thận-6 Chiếu hải.
Châm cứu cần do người có chuyên môn thực hiện. Không nên tự châm hoặc chích nặn máu tại lợi đang viêm.
CÁC BIỆN PHÁP GIẢM ĐAU TẠM THỜI
Súc miệng bằng nước muối ấm
Có thể súc miệng nhẹ nhàng bằng nước muối sinh lý hoặc nước muối ấm loãng để làm sạch thức ăn, giảm kích thích và hỗ trợ vệ sinh vùng răng đau.
Chườm lạnh ngoài má
Nếu vùng má sưng hoặc đau nhiều, có thể chườm lạnh bên ngoài trong khoảng 10 đến 15 phút mỗi lần. Không nên đặt đá trực tiếp lên da hoặc lên răng.
Làm sạch thức ăn mắc trong kẽ răng
Dùng chỉ nha khoa nhẹ nhàng để loại bỏ thức ăn mắc. Không dùng vật nhọn chọc sâu vào lợi hoặc lỗ sâu.
Tránh các yếu tố kích thích
Tạm thời tránh thức ăn quá nóng, lạnh, cứng, ngọt, chua hoặc cay. Nhai bằng bên đối diện nếu có thể.
Thuốc giảm đau
Có thể dùng thuốc giảm đau thông thường theo hướng dẫn trên nhãn hoặc theo chỉ định của bác sĩ. Người có bệnh gan, thận, dạ dày, đang dùng thuốc chống đông, phụ nữ mang thai hoặc người có tiền sử dị ứng cần hỏi người có chuyên môn trước khi dùng.
NHỮNG CÁCH KHÔNG NÊN TỰ THỰC HIỆN
Không nên tự nhét tỏi, thuốc bột, dầu gió, cồn, aspirin hoặc các chất kích thích vào lỗ sâu. Những chất này có thể gây bỏng niêm mạc, làm tổn thương lợi và không loại bỏ được nguyên nhân bệnh.
Không đặt bông tẩm cồn nồng độ cao trực tiếp vào vùng đau.
Không tự dùng kháng sinh, metronidazol hoặc cotrimoxazol khi chưa được khám. Đau răng không phải lúc nào cũng cần kháng sinh, và dùng không đúng có thể gây dị ứng, tương tác thuốc, kháng thuốc hoặc che lấp triệu chứng.
Không tự dùng dụng cụ nhọn để chọc vào buồng tủy, dẫn lưu mủ hoặc nạo lỗ sâu. Đây là thủ thuật nha khoa phải được thực hiện trong điều kiện vô khuẩn.
Không trì hoãn đi khám chỉ vì cơn đau đã giảm. Viêm tủy có thể tạm ngừng đau khi tủy hoại tử, nhưng nhiễm trùng vẫn tiếp tục lan xuống vùng quanh chóp.
KHI NÀO CẦN KHÁM KHẨN CẤP
Cần đến nha sĩ sớm khi đau kéo dài hơn một đến hai ngày, đau tự phát về đêm, đau tăng dần, đau khi cắn hoặc răng có lỗ sâu rõ.
Cần khám khẩn cấp khi có một trong các biểu hiện sau:
Mặt, má, hàm hoặc vùng dưới cằm sưng nhanh.
Sốt, rét run hoặc mệt lả.
Khó há miệng, khó nuốt, khó thở.
Đau lan xuống cổ hoặc lên vùng mắt.
Chảy mủ nhiều, hơi thở hôi rõ.
Răng bị chấn thương, lung lay hoặc gãy.
Người bệnh có bệnh tim, suy giảm miễn dịch, đái tháo đường khó kiểm soát hoặc đang điều trị ung thư.
Nói tóm lại
Đau răng chỉ là biểu hiện bên ngoài, nguyên nhân bên trong có thể là sâu răng, viêm tủy, viêm quanh chóp, viêm nha chu, nứt răng hoặc bệnh lý ngoài răng. Theo Trung y, đau răng thường liên quan đến phong hỏa, Vị hỏa, Thận hư hoặc khí huyết ứ trệ. Điều trị cần căn cứ vào tính chất đau, tình trạng sưng đỏ, nóng lạnh, toàn thân, lưỡi và mạch để phân biệt hư thực.
Các phương pháp súc miệng, chườm lạnh, châm cứu hoặc dùng thuốc Trung y có thể hỗ trợ giảm đau, nhưng sâu răng, viêm tủy, áp xe và viêm quanh chóp vẫn cần điều trị nha khoa thích hợp. Giảm đau tạm thời không đồng nghĩa với bệnh đã khỏi.
Trường Xuân biên soạn