ĐAU RĂNG.牙痛/牙疼
ĐAU RĂNG. (牙痛/牙疼)
Người xưa có câu: “Đau răng không phải bệnh, nhưng đau đến chết người” (俗话说,牙痛不是病,痛起来真要命).
Tài liệu tham khảo:
- Các phương pháp giảm đau răng khẩn cấp
- Sâu răng (龋齿)
- Dân gian thường gọi là “răng sâu” hay “răng bị mọt”. Khi tổn thương nặng sẽ gây đau răng, đặc biệt khi ăn đồ cứng, ngọt, chua hay tiếp xúc nóng lạnh. Ở trung niên, cao tuổi, nếu lợi (nướu) bị tụt, chân răng lộ, cũng dễ bị ê buốt.
- Cách giảm đau tạm thời:
- Dùng tỏi tươi (bóc vỏ, giã nhuyễn) nhét vào lỗ sâu.
- Lấy bột “Vân Nam Bạch Dược” trộn với nước ấm thành hỗn hợp sệt, bôi lên vùng quanh răng và lợi.
- Dùng dầu gió hoặc một vài giọt “thập trích thủy” (十滴水) chấm vào chỗ đau.
- Hoặc đánh răng liên tục bằng kem đánh răng chống ê buốt liều lượng nhiều hơn bình thường.
- Nếu răng quá nhạy cảm gây ê buốt, có thể:
- Nghiền 2–3 viên baking soda (小苏打) hòa vào 1 cốc nước sôi để nguội, súc miệng nhiều lần/ngày.
- Hoặc ngâm tỏi trong rượu nấu bằng hoàng tửu (黄酒), rồi dùng dịch đó thoa vào chỗ đau, cũng có tác dụng.
- Đau dây thần kinh răng
- Khi sâu răng xâm lấn đến tủy, vi khuẩn gây viêm tủy (đau thần kinh răng). Đặc điểm: đau tự nhiên, đau từng cơn dữ dội, không cần tác nhân kích thích vẫn đau. Thường bùng phát về đêm, khó ngủ, rất khó chịu.
- Nguyên nhân: lúc nằm, áp lực trong buồng tủy tăng; thêm tủy răng có mủ sinh khí, gặp nóng giãn nở, cơn đau càng mạnh.
- Cách giảm đau khẩn:
- Chườm lạnh bên má giúp giảm đau.
- Dùng bông gòn tẩm cồn 75% (2–3 phút), rồi đặt bông cồn lên chỗ đau.
- Ngậm một lát gừng tươi tại vị trí đau.
- Viêm quanh răng (牙周炎) viêm nha chu
- Một nguyên nhân khác gây đau răng, biểu hiện: lợi sưng đỏ, căng đau, răng lung lay, xê dịch, thậm chí chảy máu, chảy mủ, hơi thở hôi…
- Gần đây, y học thấy vi khuẩn kỵ khí liên quan chặt chẽ đến viêm quanh răng. Có thể dùng metronidazol (còn gọi “diệt trùng roi”, “灭滴灵”) 2 viên/lần (mỗi viên 200mg), ngày 3 lần, kiêng rượu. Hoặc cotrimoxazol (复方新诺明) 2 viên/lần (mỗi viên 500mg), ngày 2 lần (lần đầu dùng liều gấp đôi), người dị ứng không dùng.
- Các biện pháp phối hợp
- Với sâu răng kèm nhiễm trùng, viêm quanh răng, viêm lợi, viêm tủy…, có thể:
- Nghiền 6 viên Lục Thần Hoàn (六神丸) + chút rượu vàng, bôi vào lỗ sâu, hoặc đặt lên lợi để ngấm với nước bọt. Giúp giảm đau nhanh rồi hết.
- Tất cả phương pháp trên chỉ là tạm thời (biện pháp khẩn cấp). Khi hết cơn đau, vẫn cần đến bác sĩ nha khoa khám và điều trị.
- Bệnh răng miệng thường gặp – Đau răng
- Chủ yếu do bệnh răng hoặc tổ chức quanh răng, ngoài ra còn do một số bệnh khác như khối u hàm mặt, đau dây V (tam thoa)…
- Tại phòng khám cấp cứu, thường chỉ làm giảm đau tạm thời, chờ hết viêm cấp rồi mới điều trị chuyên khoa (ví dụ: viêm tủy cấp).
Ví dụ: Viêm tủy cấp, cách điều trị:
- Mở tủy dẫn lưu: hiệu quả nhất để giảm đau và ngăn viêm lan rộng. Nếu không có thiết bị nha khoa, có thể dùng thìa nạo bén hay cây thăm khám sắc chọc vào đáy xoang sâu. Để bớt đau và sợ, có thể gây tê tại chỗ, sau khi mở tủy, đặt bông tẩm eugenol (丁香油) vào, đừng nén chặt quá kẻo dẫn lưu kém.
- Châm cứu giảm đau:
- Dùng huyệt Hợp cốc là chính. Tùy vị trí răng:
- Răng cửa hàm trên: thêm huyệt Nghinh hương, Nhân trung
- Răng hàm dưới phía sau: Hạ quan, giáp xa…
- Răng cửa hàm dưới: Thừa tương, Đại nghênh, giáp xa…
- Có thể dùng huyệt điểm tê răng…
- Gây tê cục bộ để giảm đau tạm, nếu cần thì nhổ răng.
- Dùng thuốc giảm đau, kháng viêm: như “dung dịch giảm đau răng”, Eugenol (丁香酚)…, đau dây V có thể dùng carbamazepin. Nếu mặt sưng, có thể đắp ngoài “Lục Hợp Đan”, “Như Ý Kim Hoàng tán”…
III. Tại sao con người bị đau răng?
- Bên trong răng có sợi thần kinh, nên khi răng hư tổn, thần kinh răng bị kích thích trực tiếp/gián tiếp, sẽ truyền tín hiệu về não trung ương, gây cảm giác đau.
- Cấu tạo răng: 3 mô cứng (men răng, ngà răng, xương răng) và 1 mô mềm (tủy răng). Ngà răng là phần chính, men bao bọc thân răng, xương bọc chân răng. Giữa có buồng tủy (chứa mạch máu, dây thần kinh), thông qua lỗ chóp chân răng nối với mô quanh răng.
- Ngà răng rất nhạy với tác động cơ học, nhiệt độ, hóa chất. Trong ống ngà có sợi thần kinh. Cơn đau do kích thích trực tiếp các đầu mút thần kinh ở ngà hoặc do dịch trong ống ngà di chuyển tạo áp lực (theo giả thuyết thủy động), hoặc tế bào tạo ngà bị kích thích truyền tín hiệu đến sợi thần kinh…
- Tủy răng chứa mạng thần kinh phong phú (sợi có myelin truyền cảm giác đau, sợi không myelin thuộc thần kinh giao cảm điều chỉnh co giãn mạch). Vì thế khi răng bị tổn thương đến ngà và tủy, bệnh nhân thấy đau rõ rệt.
Những bệnh nào có thể gây đau răng?
Đau răng là triệu chứng thường gặp nhất trong các bệnh răng miệng. Nhiều nguyên nhân, như:
- Sâu răng (龋齿)
- Viêm tủy cấp (急性牙髓炎)
- Viêm quanh chóp cấp – mạn (根尖周炎)
- Viêm quanh răng (牙周炎)
- Ê buốt ngà (牙本质过敏)
- Nứt răng (牙齿折裂)
- …
- Sâu răng:
- Xuất hiện lỗ sâu, lúc đầu không đau, chỉ đau khi gặp chua, ngọt, nóng, lạnh hoặc thức ăn lọt vào lỗ sâu. Khi hết kích thích, đau ngưng.
- Viêm tủy cấp:
- Đau tự phát, theo cơn, đau dữ dội hơn lúc nằm hoặc khi tiếp xúc nóng lạnh, khó xác định răng nào. Thường tìm thấy một lỗ sâu sâu, hoặc túi lợi sâu, hoặc bệnh lý không do sâu nhưng lộ ngà – tủy. Thử nóng/lạnh gây đau dữ dội, dù ngưng kích thích vẫn đau kéo dài. Mở tủy xong, đau giảm ngay.
- Viêm quanh chóp cấp:
- Đau liên tục, rõ vị trí, răng bị cảm giác dài ra, chạm khớp khó, không nhai được. Khám thấy răng đau khi gõ, lợi vùng đó đỏ sưng, ấn đau.
- Viêm quanh răng (nha chu):
- Đau âm ỉ, kèm sưng đỏ, chảy máu, chảy mủ; nặng thì lung lay, tụt nướu.
- Ê buốt ngà:
- Thường thấy bề mặt răng bị mòn, men vỡ, nướu tụt, cổ răng lộ ngà. Gặp kích thích nóng, lạnh, chua, ngọt, răng đau buốt.
- Những bệnh dễ nhầm đau răng hoặc kèm đau răng:
- Đau dây V, viêm tủy xương hàm, viêm huyệt ổ răng (dry socket), viêm lợi trùm răng khôn, viêm xoang hàm mủ cấp, u ác hàm, u ác lợi, nang thân răng, răng ngầm chèn ép…, hoặc các bệnh toàn thân như nhiễm trùng hô hấp, bệnh tim thiếu máu, bệnh bạch cầu, rối loạn tâm lý, suy nhược thần kinh…
Trường Xuân dịch