Lời dẫn
Đau dạ dày là cách gọi thông thường của tình trạng đau tại vùng thượng vị, tức khu vực trên rốn và dưới mũi ức. Đây là một triệu chứng, không phải tên của một bệnh duy nhất. Đau có thể xuất hiện trong viêm dạ dày, loét dạ dày – tá tràng, trào ngược, rối loạn vận động dạ dày, bệnh gan mật, bệnh tụy, bệnh tim mạch và nhiều tình trạng khác.
Theo Trung y, đau dạ dày thuộc phạm vi Vị quản thống (胃脘痛), Vị thống (胃痛), Tâm hạ thống (心下痛), Tào tạp (嘈杂), Thôn toan (吞酸), Bĩ mãn (痞满) và Ẩu thổ (呕吐). Bệnh cơ căn bản là Vị khí mất hòa giáng, khí cơ trung tiêu không thông. “Bất thông tắc thống”, khí huyết không thông thì sinh đau; Vị khí nghịch lên thì ợ hơi, ợ chua, buồn nôn và nôn.
Bệnh có thể do hàn tà xâm phạm, ăn uống không điều độ, Can khí phạm Vị, thấp nhiệt, đàm trọc, huyết ứ hoặc Tỳ Vị hư nhược. Bệnh mới thường thiên về thực; bệnh lâu ngày thường chuyển hư hoặc hư thực xen lẫn.
Chú ý
Nếu đau thượng vị kèm nôn ra máu, chất nôn giống bã cà phê, đi ngoài phân đen, đau dữ dội đột ngột, bụng cứng, choáng, khó thở, đau ngực, vã mồ hôi lạnh, sụt cân, thiếu máu hoặc nuốt nghẹn, cần đi khám ngay.
Không tự dùng thuốc hoạt huyết, thuốc công hạ, rượu thuốc hoặc thuốc giảm đau kháng viêm khi chưa xác định nguyên nhân.
Người trên trung niên có đau thượng vị mới xuất hiện, nhất là khi đau liên quan gắng sức, tức ngực, khó thở hoặc lan lên cổ, vai, cánh tay, cần loại trừ bệnh mạch vành và nhồi máu cơ tim.
NGUYÊN NHÂN THƯỜNG GẶP THEO Y HỌC HIỆN ĐẠI
Viêm dạ dày cấp hoặc mạn tính.
Loét dạ dày – tá tràng.
Nhiễm Helicobacter pylori.
Trào ngược dạ dày – thực quản.
Rối loạn vận động dạ dày.
Dùng aspirin, ibuprofen, naproxen hoặc thuốc kháng viêm khác.
Rượu bia và thuốc lá.
Bệnh túi mật và đường mật.
Viêm tụy hoặc bệnh tụy.
Rối loạn chức năng tiêu hóa.
Căng thẳng và rối loạn cảm xúc.
Bệnh tim mạch có biểu hiện không điển hình.
ĐAU DẠ DÀY VÀ CẢM XÚC
Can chủ sơ tiết, có quan hệ mật thiết với sự điều đạt của khí cơ. Khi lo âu, uất ức hoặc tức giận kéo dài, Can khí không thư sướng, hoành nghịch phạm Vị, khiến Vị khí mất hòa giáng.
Người bệnh có thể xuất hiện đau đầy thượng vị, ợ hơi, buồn nôn, ăn kém và đại tiện không điều hòa. Khi triệu chứng tiêu hóa kéo dài, người bệnh lại dễ lo âu, mất ngủ và sợ bệnh nặng, tạo thành vòng luẩn quẩn giữa tinh thần và tiêu hóa.
Tuy nhiên, không nên quy mọi cơn đau dạ dày cho tâm lý. Trước khi xem xét yếu tố cảm xúc, cần loại trừ loét, H. pylori, xuất huyết, bệnh gan mật, tụy và bệnh tim mạch.
PHÂN BIỆT ĐAU DẠ DÀY VỚI ĐAU DO TIM
Đau nghiêng về bệnh dạ dày thường liên quan đến bữa ăn, kèm đầy bụng, ợ hơi, ợ chua, buồn nôn hoặc đau khi ấn vùng thượng vị.
Đau nghiêng về bệnh tim thường xuất hiện khi gắng sức, xúc động hoặc đi nhanh; có cảm giác đè nặng, bóp nghẹt sau xương ức hoặc thượng vị; có thể lan lên cổ, hàm, vai hoặc cánh tay; kèm khó thở, vã mồ hôi, mệt lả.
Các biểu hiện không phải lúc nào cũng điển hình. Vì vậy, khi nghi ngờ bệnh tim, cần đi cấp cứu hoặc kiểm tra điện tâm đồ, không nên tự uống thuốc dạ dày để chờ theo dõi.
THUỐC GIẢM ĐAU VÀ DẠ DÀY
Một số thuốc giảm đau kháng viêm như aspirin, ibuprofen, naproxen và diclofenac có thể làm tổn thương hàng rào niêm mạc, gây viêm, loét và xuất huyết.
Không nên tự sử dụng các thuốc này để điều trị đau thượng vị. Người đang dùng aspirin hoặc thuốc chống đông vì bệnh tim mạch không được tự ngừng mà phải trao đổi với bác sĩ.
NHẬN THỨC CỦA TRUNG Y
Vị chủ thu nạp và lấy hòa giáng làm thuận. Tỳ chủ vận hóa, giúp chuyển vận tinh vi của thủy cốc. Can chủ sơ tiết, điều đạt khí cơ.
Hàn tà làm khí huyết ngưng trệ.
Thực tích làm trung tiêu bế tắc.
Can uất làm Vị khí nghịch.
Thấp nhiệt làm Vị mất hòa giáng.
Đàm trọc làm khí cơ không thông.
Huyết ứ làm đau cố định.
Tỳ Vị hư hàn làm trung tiêu mất ôn dưỡng.
Vị âm hư làm Vị lạc thiếu nhu dưỡng.
BIỆN CHỨNG LUẬN TRỊ
Bệnh cơ
Hàn tà xâm phạm Vị quản, làm khí huyết co rút, Vị khí không thông.
Chứng trạng: Đau thượng vị khởi phát đột ngột, gặp lạnh hoặc ăn đồ sống lạnh thì đau tăng, gặp ấm thì giảm, thích uống nước nóng, không khát, có thể nôn nước trong, lưỡi rêu trắng mỏng, mạch huyền khẩn.
Phép trị
Ôn Vị tán hàn, hành khí chỉ thống.
Phương thang: Lương phụ hoàn gia giảm gồm cao lương khương, hương phụ; có thể gia sinh khương, trần bì, bán hạ, sa nhân, diên hồ sách tùy chứng.
Gia giảm
Nôn nước trong: gia bán hạ, sinh khương.
Khí trệ rõ: gia mộc hương, trần bì.
Đau co thắt: gia bạch thược, chích cam thảo.
Bệnh cơ
Ăn uống quá mức hoặc thức ăn khó tiêu đình lại trong Vị, làm khí cơ bế tắc.
Chứng trạng: Thượng vị đầy đau sau ăn, ợ hơi có mùi thức ăn, ợ chua, buồn nôn hoặc nôn thức ăn chưa tiêu, nôn hoặc trung tiện xong thì dễ chịu hơn, đại tiện có mùi hôi hoặc bí kết, rêu lưỡi dày nhớt, mạch hoạt.
Phép trị
Tiêu thực đạo trệ, hòa Vị giáng nghịch.
Phương thang: Bảo hòa hoàn gia giảm gồm sơn tra, thần khúc, bán hạ, phục linh, trần bì, liên kiều, lai phục tử, mạch nha, kê nội kim.
Gia giảm
Đầy trướng nhiều: gia chỉ thực, hậu phác.
Táo bón: gia qua lâu nhân hoặc hỏa ma nhân.
Tỳ khí hư: gia đảng sâm, bạch truật, hoài sơn dược.
Bệnh cơ
Can khí uất kết, hoành nghịch phạm Vị, làm khí cơ trung tiêu không thông.
Chứng trạng: Thượng vị đầy tức hoặc đau lan sang hai bên sườn, ợ hơi nhiều, hay thở dài, buồn nôn, đau tăng khi căng thẳng hoặc tức giận, đại tiện không thoải mái, rêu lưỡi mỏng, mạch huyền.
Phép trị
Sơ Can lý khí, hòa Vị chỉ thống.
Phương thang: Sài hồ sơ can tán gia giảm gồm sài hồ, hương phụ, chỉ xác, bạch thược, xuyên khung, trần bì, cam thảo, phật thủ, diên hồ sách.
Gia giảm
Ợ chua: gia ô tặc cốt, ngõa lăng tử.
Mất ngủ: gia toan táo nhân, hợp hoan bì.
Tức ngực sườn rõ: gia thanh bì, uất kim.
Bệnh cơ
Can khí uất lâu hóa nhiệt, nhiệt phạm Vị làm Vị khí nghịch và Vị lạc bị kích thích.
Chứng trạng: Đau nóng rát vùng thượng vị, ợ chua, cồn cào, miệng khô đắng, dễ cáu, táo bón, tiểu tiện vàng, lưỡi đỏ rêu vàng, mạch huyền sác.
Phép trị
Sơ Can thanh nhiệt, hòa Vị giáng nghịch.
Phương thang: Hóa can tiễn hợp Tả kim hoàn gia giảm gồm thanh bì, trần bì, bạch thược, mẫu đơn bì, chi tử, hoàng liên, ngô thù du lượng nhỏ, trạch tả, cam thảo.
Gia giảm
Ợ chua nhiều: gia ô tặc cốt, ngõa lăng tử.
Đau nhiều: gia xuyên luyện tử, diên hồ sách.
Táo bón: gia huyền sâm, hỏa ma nhân.
Bệnh cơ
Thấp nhiệt uẩn kết ở trung tiêu, làm Tỳ mất vận hóa và Vị mất hòa giáng.
Chứng trạng: Thượng vị đầy đau hoặc nóng rát, miệng đắng nhớt, buồn nôn, cơ thể nặng nề, ăn kém, đại tiện dính hoặc không thoải mái, tiểu tiện vàng, lưỡi đỏ rêu vàng nhớt, mạch hoạt sác.
Phép trị
Thanh nhiệt hóa thấp, hòa trung giáng nghịch.
Phương thang: Liên phác ẩm gia giảm gồm hoàng liên, hậu phác, bán hạ, thạch xương bồ, bạch đậu khấu, chi tử, lô căn, hoắc hương, phục linh, trúc nhự.
Gia giảm
Miệng đắng rõ: gia hoàng cầm, nhân trần.
Đầy trướng nhiều: gia chỉ thực, mộc hương.
Nôn nhiều: gia sinh khương lượng nhỏ.
Bệnh cơ
Tỳ mất vận hóa, thủy thấp ngưng thành đàm, đàm trọc ngăn trở Vị khí.
Chứng trạng: Thượng vị đau đầy, ngực tức, miệng dính, buồn nôn hoặc nôn dịch nhầy, nhiều đờm, người nặng nề, rêu lưỡi trắng dày nhớt, mạch hoạt.
Phép trị
Kiện Tỳ hóa đàm, hành khí hòa Vị.
Phương thang: Nhị trần thang hợp Bình vị tán gia giảm gồm bán hạ, trần bì, phục linh, cam thảo, thương truật, hậu phác, hoắc hương, sa nhân.
Gia giảm
Ngực tức rõ: gia qua lâu bì, chỉ thực.
Buồn nôn: gia trúc nhự, sinh khương.
Ăn kém: gia kê nội kim, mạch nha.
Chú ý
Không tự dùng các phương công trục đàm mạnh như Tiểu vị đan. Những vị như cam toại, đại kích và ô đầu có độc tính và chỉ thuộc phạm vi chuyên môn đặc biệt.
Bệnh cơ
Khí trệ lâu ngày dẫn đến huyết ứ, Vị lạc không thông nên đau cố định.
Chứng trạng: Đau thượng vị cố định, đau như kim châm hoặc dao cắt, đau tăng về đêm, không thích ấn, lưỡi tím hoặc có điểm ứ, mạch sáp.
Phép trị
Hoạt huyết hóa ứ, hành khí chỉ thống.
Phương thang: Đan sâm ẩm hợp Thất tiếu tán gia giảm gồm đan sâm, đàn hương, sa nhân, bồ hoàng, ngũ linh chi, diên hồ sách, uất kim, bạch thược, cam thảo.
Gia giảm
Khí trệ rõ: gia hương phụ, chỉ xác.
Khí hư: gia hoàng kỳ, đảng sâm.
Vị âm hư: gia bắc sa sâm, mạch môn đông.
Chú ý
Không dùng phép hoạt huyết khi có nôn máu, phân đen, thiếu máu đang tiến triển hoặc đang sử dụng thuốc chống đông.
Bệnh cơ
Tỳ Vị khí hư, vận hóa suy giảm, khí cơ trung tiêu trì trệ.
Chứng trạng: Đau âm ỉ hoặc đầy thượng vị, ăn xong đầy tăng, nhanh no, ăn kém, ợ hơi, mệt, hơi thở ngắn, đại tiện phân nát, lưỡi nhạt, mạch tế nhược.
Phép trị
Kiện Tỳ ích khí, hòa Vị tiêu bĩ.
Phương thang: Hương sa lục quân tử thang gia giảm gồm đảng sâm, bạch truật, phục linh, chích cam thảo, trần bì, bán hạ, mộc hương, sa nhân, sinh khương, đại táo.
Gia giảm
Ăn kém: gia kê nội kim, mạch nha.
Đầy nhiều: gia chỉ xác, hậu phác.
Phân lỏng: gia hoài sơn dược, liên tử.
Bệnh cơ
Tỳ Vị dương khí suy, trung tiêu mất sự ôn dưỡng, khí huyết vận hành không thuận.
Chứng trạng: Đau âm ỉ kéo dài, đói đau, thích ấm, thích xoa, ăn thức ăn ấm thì giảm, nôn nước trong, ăn kém, tay chân lạnh, mệt mỏi, đại tiện lỏng, lưỡi nhạt rêu trắng, mạch trầm trì hoặc hư nhược.
Phép trị
Ôn trung kiện Tỳ, ích khí chỉ thống.
Phương thang: Hoàng kỳ kiến trung thang gia giảm gồm hoàng kỳ, quế chi, bạch thược, sinh khương, đại táo, chích cam thảo, di đường; có thể gia cao lương khương, trần bì, diên hồ sách tùy chứng.
Gia giảm
Nôn nước trong: gia bán hạ, sa nhân.
Phân lỏng: gia phục linh, hoài sơn dược.
Khí hư rõ: gia đảng sâm, bạch truật.
Bệnh cơ
Vị âm hao tổn, niêm mạc và Vị lạc mất sự nhu dưỡng, Vị khí không hòa giáng.
Chứng trạng: Đau âm ỉ hoặc nóng nhẹ vùng thượng vị, miệng họng khô, đói nhưng ăn không nhiều, đại tiện khô, người gầy, lòng bàn tay bàn chân nóng, lưỡi đỏ ít rêu hoặc rêu bong, mạch tế sác.
Phép trị
Dưỡng âm ích Vị, sinh tân hòa huyết.
Phương thang: Ích vị thang hoặc Sa sâm mạch đông thang gia giảm gồm bắc sa sâm, mạch môn đông, sinh địa hoàng, thạch hộc, ngọc trúc, thiên hoa phấn, bạch thược, ô mai, cam thảo.
Gia giảm
Đau âm ỉ: gia xuyên luyện tử, diên hồ sách.
Khí trệ: gia phật thủ, hương phụ.
Táo bón: gia huyền sâm, hỏa ma nhân.
Bệnh cơ
Bệnh kéo dài, ăn uống giảm hoặc từng chảy máu làm khí huyết đều hư, Vị lạc thiếu sự nuôi dưỡng.
Chứng trạng: Đau âm ỉ, thích ấn, ăn kém, mệt, chóng mặt, sắc mặt nhợt, hồi hộp, hơi thở ngắn, lưỡi nhạt hoặc đỏ nhạt ít rêu, mạch tế nhược.
Phép trị
Ích khí dưỡng huyết, kiện Tỳ hòa Vị.
Phương thang: Quy tỳ thang hợp Hương sa lục quân tử thang gia giảm gồm đảng sâm, hoàng kỳ, bạch truật, phục linh, đương quy, long nhãn nhục, toan táo nhân, mộc hương, sa nhân, trần bì, bán hạ, chích cam thảo.
Gia giảm
Vị âm hư: gia bắc sa sâm, mạch môn đông, thạch hộc.
Thiếu máu rõ: cần xét nghiệm và điều trị nguyên nhân theo y học hiện đại.
Bệnh cơ
Tỳ Vị hư yếu, thăng giáng rối loạn, hàn và nhiệt cùng tồn tại ở trung tiêu.
Chứng trạng: Thượng vị bĩ đầy, đau không nhiều hoặc lúc đau lúc không, buồn nôn, ợ hơi, bụng sôi, miệng có thể đắng nhưng bụng lại sợ lạnh, đại tiện lúc táo lúc lỏng, rêu lưỡi vàng trắng lẫn nhau, mạch huyền hoặc hoạt.
Phép trị
Tân khai khổ giáng, điều hòa hàn nhiệt, hòa Vị tiêu bĩ.
Phương thang: Bán hạ tả tâm thang gia giảm gồm bán hạ, hoàng cầm, hoàng liên, can khương, đảng sâm hoặc nhân sâm, đại táo, chích cam thảo.
Gia giảm
Ợ chua: gia ô tặc cốt, ngõa lăng tử.
Đầy trướng: gia hậu phác, chỉ thực.
Ăn kém: gia sa nhân, kê nội kim.
QUAN NIỆM “THÔNG TẮC BẤT THỐNG”
Đau Vị quản có thể do khí trệ, huyết ứ, hàn ngưng, đàm thấp, thực tích hoặc hư tổn. Vì vậy, chữ “thông” không chỉ có nghĩa là công hạ.
Khí trệ thì hành khí để thông.
Huyết ứ thì hoạt huyết để thông.
Nghịch khí thì giáng nghịch để thông.
Hàn ngưng thì ôn để thông.
Đàm thấp thì hóa đàm, trừ thấp để thông.
Khí huyết hư thì bổ dưỡng để phục hồi sự vận hành.
Âm hư thì dưỡng âm, nhu Vị để khí cơ điều hòa trở lại.
Vì thế, phép thông phải căn cứ bệnh cơ, không thể thấy đau hoặc táo bón rồi dùng thuốc tả hạ mạnh.
CÁC PHƯƠNG PHÁP KHÔNG NÊN TỰ ÁP DỤNG
Không tự dùng Thông tiên đan, Đại hoàng phụ tử thang, Tiểu vị đan hoặc Đại thừa khí thang để chữa đau bụng và táo bón.
Không tự dùng ba đậu, cam toại, đại kích, ô đầu, phụ tử hoặc tế tân liều cao.
Không tự uống bồ hoàng, ngũ linh chi, tam thất hoặc đào nhân khi có phân đen hay nôn máu.
Không uống rượu thuốc để chữa đau dạ dày.
Không sử dụng mẹo uống bột vỏ trứng, vỏ ốc hoặc dược liệu không rõ nguồn gốc thay cho chẩn đoán và điều trị.
CHÂM CỨU VÀ BẤM HUYỆT
Châm cứu có thể hỗ trợ giảm đau, đầy bụng, buồn nôn và điều hòa Vị khí trong giai đoạn ổn định.
Huyệt thường dùng
Nhâm-12 Trung quản.
Tâm bào-6 Nội quan.
Vị-36 Túc tam lý.
Tỳ-4 Công tôn.
Vị-21 Lương môn.
Bàng quang-20 Tỳ du.
Bàng quang-21 Vị du.
Can-3 Thái xung.
Tỳ-6 Tam âm giao.
Bàng quang-17 Cách du.
Phối huyệt tham khảo
Hàn tà phạm Vị: Nhâm-12 Trung quản, Vị-36 Túc tam lý, Nhâm-6 Khí hải.
Can khí phạm Vị: Nhâm-12 Trung quản, Tâm bào-6 Nội quan, Can-3 Thái xung, Đởm-34 Dương lăng tuyền.
Tỳ Vị hư hàn: Nhâm-12 Trung quản, Vị-36 Túc tam lý, Bàng quang-20 Tỳ du, Bàng quang-21 Vị du.
Vị âm bất túc: Nhâm-12 Trung quản, Tâm bào-6 Nội quan, Tỳ-6 Tam âm giao, Thận-3 Thái khê.
Huyết ứ: Nhâm-12 Trung quản, Bàng quang-17 Cách du, Tỳ-10 Huyết hải; không áp dụng khi đang chảy máu.
Tự bấm huyệt
Có thể day nhẹ Tâm bào-6 Nội quan và Vị-36 Túc tam lý, mỗi huyệt một đến ba phút. Vùng Nhâm-12 Trung quản chỉ xoa nhẹ khi không có đau dữ dội hoặc nghi bệnh bụng cấp.
Không bấm mạnh hoặc chườm nóng khi đau đột ngột dữ dội, bụng cứng, nôn nhiều, phân đen hoặc chưa xác định nguyên nhân.
ĐIỀU DƯỠNG ĂN UỐNG
Ăn đúng giờ và lượng vừa phải.
Không để quá đói rồi ăn quá no.
Nhai kỹ, ăn chậm.
Hạn chế rượu bia và bỏ thuốc lá.
Không nằm ngay sau ăn.
Hạn chế món làm triệu chứng tăng như thức ăn quá cay, chua gắt, quá nóng, nhiều dầu hoặc cà phê quá mức.
Không kiêng khem quá mức gây thiếu dinh dưỡng.
Không dùng nhiều món thuốc cay nóng cho mọi trường hợp đau dạ dày.
Thể hư hàn có thể dùng món ấm nhẹ, dễ tiêu; thể Vị âm hư hoặc uất nhiệt không thích hợp dùng tiêu, gừng, quế hoặc rượu thuốc nhiều.
DƯỢC THIỆN THAM KHẢO
Tỳ Vị hư hàn
Cháo hoài sơn dược, liên tử và một lượng nhỏ sinh khương. Chỉ dùng khi đau thích ấm, bụng lạnh, lưỡi nhạt rêu trắng.
Can khí phạm Vị
Canh thịt nạc nấu phật thủ và sa nhân lượng nhẹ. Sa nhân nên cho vào cuối để giữ mùi thơm.
Vị âm bất túc
Cháo bắc sa sâm, mạch môn đông hoặc ngọc trúc.
Thấp nhiệt
Cháo ý dĩ nhân, phục linh lượng vừa. Không thích hợp khi bụng lạnh hoặc tiêu lỏng.
Khí huyết hư
Cháo hoài sơn dược, liên tử, đại táo lượng vừa. Thiếu máu vẫn cần xét nghiệm và điều trị đặc hiệu.
NHỮNG ĐIỀU NÊN LÀM
Đi khám khi đau thượng vị kéo dài hoặc tái phát.
Xét nghiệm H. pylori khi có chỉ định.
Nội soi khi có dấu hiệu cảnh báo.
Thông báo tất cả thuốc đang dùng cho bác sĩ.
Ăn uống điều độ.
Giảm rượu bia và bỏ thuốc lá.
Theo dõi mối liên hệ giữa đau, bữa ăn, cảm xúc và đại tiện.
Đi cấp cứu nếu nôn máu, phân đen, choáng, khó thở hoặc đau dữ dội.
NHỮNG ĐIỀU KHÔNG NÊN LÀM
Không tự chẩn đoán mọi đau thượng vị là đau dạ dày.
Không tự mua kháng sinh điều trị H. pylori.
Không tự dùng NSAID để giảm đau.
Không tự ngừng aspirin hoặc thuốc chống đông đang dùng vì bệnh tim mạch.
Không uống rượu thuốc chữa đau dạ dày.
Không tự dùng thuốc hoạt huyết khi có nguy cơ xuất huyết.
Không dùng thuốc công hạ mạnh để điều trị táo bón kèm đau bụng.
Không trì hoãn khám khi sụt cân, thiếu máu, nuốt nghẹn hoặc đau về đêm kéo dài.
Nói tóm lại
Đau dạ dày là triệu chứng có thể phát sinh từ nhiều bệnh lý khác nhau. Trước khi điều trị cần xác định nguyên nhân và loại trừ xuất huyết, thủng, bệnh gan mật, tụy và tim mạch.
Theo Trung y, bệnh thuộc phạm vi Vị quản thống, với bệnh cơ căn bản là Vị khí mất hòa giáng và khí cơ trung tiêu không thông. Các thể thường gặp gồm hàn tà phạm Vị, thực tích đình trệ, Can khí phạm Vị, Can Vị uất nhiệt, Tỳ Vị thấp nhiệt, đàm trọc trở Vị, huyết ứ Vị lạc, Tỳ Vị khí hư, Tỳ Vị hư hàn, Vị âm bất túc, khí huyết lưỡng hư và hàn nhiệt thác tạp.
Điều trị không chỉ là “giảm đau” mà phải căn cứ hàn nhiệt, hư thực, khí huyết và đàm thấp. Hàn thì ôn, nhiệt thì thanh, khí trệ thì lý khí, huyết ứ thì hoạt huyết, thực tích thì tiêu đạo, hư thì bổ dưỡng. Tuy nhiên, khi có dấu hiệu xuất huyết, thủng hoặc bệnh bụng cấp, việc cấp cứu và chẩn đoán y học hiện đại phải được đặt lên trước.
Trường Xuân biên soạn