Đau dạ dày.
Tài liệu tham khảo:
Ba cách chữa đau dạ dày
Đau dạ dày do lạnh: Có thể dùng 1kg muối hạt rang nóng, gói thành 2 túi vải, luân phiên chườm nóng lên vùng bị đau, giúp giảm đau hiệu quả.
Rượu ngũ cốc 500g, hạt hoàng liên nhỏ (còn gọi là hạt ngũ vị tử đất) 100g, thêm đường kính vừa đủ, ngâm thành rượu thuốc. Uống hàng ngày, có hiệu quả trong điều trị bệnh dạ dày.
Khi bị viêm dạ dày ruột cấp, nôn mửa, tiêu chảy, có thể thêm một chút muối vào chế độ ăn uống để điều chỉnh chất điện giải và bảo vệ cơ quan dạ dày, ruột.
Đau dạ dày – bệnh thường gặp của hệ thống tỳ vị trong Đông y
Đau dạ dày là bệnh thường gặp trong các bệnh lý về tỳ vị của Đông y. Nguyên nhân và cơ chế bệnh rất rõ ràng, không có gì đặc biệt hay huyền bí. Các nguyên nhân thường gặp gây đau dạ dày bao gồm: viêm dạ dày cấp hoặc mạn tính, loét dạ dày tá tràng, viêm tá tràng, sa niêm mạc dạ dày, ung thư dạ dày, u lành tính dạ dày… Chỉ cần xác định chính xác nguyên nhân, phần lớn các trường hợp đau dạ dày có thể giảm triệu chứng bằng thuốc Tây. Một số trường hợp khó chữa có thể dùng thuốc Đông y. Điều quan trọng là cần chẩn đoán chính xác và kịp thời, loại trừ khả năng mắc bệnh ác tính để tránh chậm trễ trong điều trị.
Phương pháp đơn giản
Bột mai mực và bột bối mẫu với tỷ lệ bằng nhau, tán thành bột mịn. Mỗi lần uống 3g, thích hợp cho người bị đau dạ dày có triệu chứng trào ngược axit.
Hương phụ 6g, cao lương khương 3g, sắc nước uống. Dùng cho đau dạ dày do lạnh và khí trệ.
Thanh mộc hương tán thành bột mịn, mỗi lần uống 3g. Dùng cho đau dạ dày do khí trệ.
Tam thất bột 3g, bạch cập bột 4.5g, đại hoàng bột 1.5g, trộn đều, mỗi lần uống 3g. Dùng cho đau dạ dày do huyết ứ, nôn ra máu hoặc phân đen.
Lưu ý đối với người bị đau dạ dày
Đau dạ dày có thể do nhiều bệnh lý gây ra, nhưng phổ biến nhất là viêm dạ dày mạn tính và loét dạ dày tá tràng. Vì hai bệnh này có quá trình tiến triển mạn tính, dễ tái phát và khó chữa dứt điểm, nên việc điều chỉnh chế độ ăn uống là vô cùng quan trọng.
1/ Chỉnh sửa thói quen ăn uống xấu. Ăn thanh đạm, hạn chế thực phẩm nhiều dầu mỡ, gia vị kích thích như rượu, đồ cay. Tránh ăn quá chua, quá ngọt, quá mặn, quá đắng, hoặc quá cay. Người có thói quen hút thuốc nên bỏ thuốc lá.
2/ Ăn uống đúng giờ, đúng lượng. Người bị đau dạ dày lâu dài cần ăn đúng giờ, khoảng cách giữa các bữa ăn hợp lý. Người bị đau cấp tính nên ăn ít và chia thành nhiều bữa nhỏ, hạn chế đồ ăn vặt để giảm tải cho dạ dày.
3/ Đảm bảo cân bằng dinh dưỡng, chế độ ăn cần cung cấp đủ thực phẩm giàu vitamin để bảo vệ niêm mạc dạ dày, nâng cao sức đề kháng và thúc đẩy quá trình phục hồi tổn thương.
4/ Thức ăn nên mềm, ấm, dễ tiêu hóa, chế biến bằng cách hấp, luộc, nấu, hầm. Tránh thức ăn cứng, thô. Khi ăn, nên nhai kỹ, ăn chậm để thức ăn hòa trộn với nước bọt, hỗ trợ tiêu hóa và phục hồi sau bệnh. Chú ý điều chỉnh nhiệt độ món ăn theo mùa, người tỳ vị hư hàn nên kiêng đồ sống, lạnh. Người khí trệ do gan uất nên tránh ăn ngay sau khi giận dữ.
Một trường hợp thực tế
Bốn tháng trước, Tiểu Hoa được chồng đưa đến phòng tư vấn tâm lý của tôi do tình trạng đau dạ dày liên miên gây ra bởi trầm cảm.
Câu chuyện bắt đầu từ năm 1980.
Năm đó, dù chỉ thiếu 5 điểm để đỗ đại học, nhưng cô vẫn gặp may mắn. Cuối năm, cô được nhận vào làm ở một doanh nghiệp nhà nước lớn có hiệu quả kinh doanh tốt với thành tích đứng thứ ba trong kỳ thi tuyển. Sang năm sau, nhà máy lại cử cô đi học hai năm tại một trường quản lý cán bộ. Sau khi tốt nghiệp, cô được phân về bộ phận kinh doanh của nhà máy – lúc bấy giờ là phòng ban hot nhất. Cô tự hào vì sự tín nhiệm của lãnh đạo, dồn hết tâm huyết vào công việc và năm nào cũng hoàn thành xuất sắc các nhiệm vụ được giao. Dù công việc vất vả, cô vẫn cảm thấy hài lòng.
Tuy nhiên, cùng với sự mở rộng cải cách và chuyển đổi từ nền kinh tế kế hoạch sang kinh tế thị trường, đến cuối những năm 1980, sản phẩm của nhà máy bắt đầu ế ẩm và ngày càng khó tiêu thụ. Đến năm 1991, nhà máy rơi vào tình trạng sản xuất cầm chừng, công nhân lần lượt nghỉ việc luân phiên. Đến mùa hè năm 1995, nhà máy hoàn toàn ngừng sản xuất, cô cũng nằm trong nhóm công nhân cuối cùng bị cho nghỉ việc.
Chồng cô là nhân viên đường sắt, mỗi tháng kiếm được ít nhất 1000 tệ, nên sau khi cô thất nghiệp, gia đình vẫn tạm sống ổn. Chồng cô khuyên cô nghỉ ngơi một thời gian. Tuy nhiên, cô cảm thấy như mất đi linh hồn, ngồi không yên, đứng cũng không xong, lúc nào cũng bị nỗi buồn, hoang mang, lo âu và bất lực đeo bám. Hy vọng duy nhất của cô là nhà máy sớm khôi phục sản xuất để cô được trở lại làm việc. Nhưng nửa năm sau, điều cô chờ đợi lại là tin tức nhà máy bị một doanh nghiệp địa phương thuê lại, và họ không sử dụng công nhân cũ.
Không còn hy vọng, cô mở một cửa hàng bán buôn nhỏ với sự hỗ trợ của chồng.
Công việc kinh doanh, dù mệt nhọc, không phải là điều khiến cô đau khổ nhất. Điều khiến cô khó chịu là, trước đây khi làm việc tại nhà máy, người khác phải cầu cạnh cô. Giờ đây, cô phải niềm nở với khách hàng, đi gặp gỡ, thuyết phục, khiến cô cảm thấy rất mất mặt. Trước đây, cô từng coi thường những người buôn bán nhỏ, nghĩ họ thật tầm thường, chỉ vì tiền mà tranh cãi, gian dối lẫn nhau. Giờ cô cũng trở thành một người như vậy, ngày ngày vì vài xu lẻ mà tranh cãi với khách. Dù kinh doanh kiếm được nhiều hơn so với khi làm ở nhà máy, cô vẫn không vui và muốn từ bỏ. Nhưng đã đầu tư không ít tiền, hơn nữa con trai sắp tốt nghiệp cấp hai, việc học cấp ba trọng điểm cần một khoản tiền lớn, nên cô vẫn phải cố gắng làm việc dù không muốn.
Không chỉ tâm trạng rối bời, cô còn thường xuyên mất ngủ, nhiều lúc muốn khóc không kiềm chế được. Cô đã thử uống thuốc ngủ và thuốc Đông y an thần nhưng không hiệu quả.
“Họa vô đơn chí”
Một ngày nọ, khi bị kiểm tra, cơ quan quản lý thị trường phát hiện lô hàng cô nhập là hàng giả. Họ tịch thu hàng và phạt cô. Cú sốc này khiến cô không ăn uống gì vài ngày, nằm liệt giường. Cô xuất hiện triệu chứng ợ hơi, trào ngược axit, đau âm ỉ vùng bụng trên. Một hôm, cô phát hiện phân có màu đen và đến bệnh viện. Bác sĩ chẩn đoán cô bị xuất huyết do loét dạ dày. Sau khi điều trị nội trú, máu được cầm nhưng sức khỏe và tinh thần của cô bị suy kiệt nghiêm trọng.
Cô trở nên uể oải, thiếu sức sống, thường xuyên đau đầu, chóng mặt và buồn nôn. Chu kỳ kinh nguyệt cũng trở nên bất thường, mỗi khi gần kỳ kinh, cô càng thêm căng thẳng, khó chịu. Cảm giác bị đè nén, cô độc, lo âu, và bệnh tật khiến cô cảm thấy cuộc sống vô cùng đau khổ và không có ý nghĩa. Cô từng nghĩ đến việc tự tử nhưng trách nhiệm làm vợ, làm mẹ đã níu cô lại.
Khi không còn hy vọng chữa bệnh, cô đọc được bài viết của tôi về tâm lý và sức khỏe. Điều đó khiến cô gửi thư cầu cứu đến tòa soạn, mong muốn tìm lại sức khỏe và niềm vui sống. Sau khi lắng nghe câu chuyện của cô và xem xét bệnh án, tôi tiến hành kiểm tra tâm lý và chẩn đoán cô mắc “chứng suy nhược thần kinh do trầm cảm.” Tôi giải thích cặn kẽ và hướng dẫn cô cách tự điều chỉnh tâm lý, đồng thời kê đơn thuốc. Cô lo lắng về tác dụng phụ của thuốc với dạ dày, nhưng tôi giải thích rằng: “Bệnh dạ dày của cô là do tâm trạng lâu dài không tốt gây ra. Khi tâm trạng cải thiện, bệnh dạ dày cũng sẽ tốt hơn. Cô yên tâm dùng thuốc.”
Quả nhiên, sau hơn 3 tháng điều trị, chứng trầm cảm của cô khỏi hẳn, và những cơn đau dạ dày cũng không còn xảy ra nữa.
Nhận xét của bác sĩ: Áp lực tinh thần và cảm xúc tiêu cực có ảnh hưởng xấu đến chức năng của hệ tiêu hóa. Hầu như ai cũng từng trải qua điều này, chẳng hạn khi tâm trạng không tốt, thường xuất hiện các triệu chứng như chán ăn, buồn nôn, nôn mửa, đầy hơi… Nếu cảm xúc tiêu cực không được giải tỏa kịp thời, lâu ngày có thể dẫn đến loét dạ dày tá tràng. Vì vậy, trên lâm sàng, đa số bệnh nhân có rối loạn tâm lý thường gặp các vấn đề về hệ tiêu hóa như đau dạ dày.
Do thiếu kiến thức về sức khỏe tâm lý, nhiều bệnh nhân không nhận ra rằng sự bất thường về cảm xúc cũng là một loại bệnh. Họ không biết rằng những bất thường này có thể gây ra bệnh dạ dày, chỉ biết lặp đi lặp lại việc khám và điều trị tại các khoa nội, khoa đông y mà không đạt hiệu quả. Bệnh lý cơ thể kéo dài không khỏi sẽ làm gia tăng cảm xúc tiêu cực, và cảm xúc tiêu cực lại làm trầm trọng thêm bệnh lý cơ thể, tạo thành vòng luẩn quẩn ác tính.
Một tình trạng khác trên lâm sàng là loét dạ dày tá tràng lâu ngày không khỏi có thể trở thành yếu tố gây ra cảm xúc trầm cảm thứ phát. Khi đó, do sự tương tác giữa hai yếu tố này, bệnh trở nên phức tạp hơn và khó điều trị. Ví dụ, một nông dân trung niên bị đau vùng thượng vị, đầy hơi và cảm giác nóng nhẹ. Ông đã đi khám ở nhiều bệnh viện và dùng đủ loại thuốc chống loét nhưng không cải thiện. Sau khi nội soi dạ dày, ông được chẩn đoán viêm dạ dày ăn mòn và loét hành tá tràng. Dù đã điều trị đúng cách trong hai tuần và triệu chứng có cải thiện, ông vẫn lo lắng, sợ rằng mình bị ung thư nhưng chưa được phát hiện, và yêu cầu chụp CT. Thấy bệnh nhân có tâm trạng suy sụp, bác sĩ điều trị mời bác sĩ tâm lý thăm khám, kê thêm thuốc chống trầm cảm. Hai tuần sau, các triệu chứng cải thiện rõ rệt và ông vui vẻ xuất viện.
Vì vậy, tôi muốn nhắc nhở bạn đọc rằng, nếu gặp khó khăn khi điều trị bệnh tiêu hóa, bạn nên thử gặp bác sĩ tâm lý. Có thể bạn sẽ tìm thấy một “ánh sáng cuối đường hầm.”
Nguồn: Gia đình bác sĩ
Đừng nhầm lẫn đau tim với đau dạ dày
Có người nói rằng bệnh tim và bệnh dạ dày là hai vấn đề hoàn toàn không liên quan, dễ phân biệt. Nhưng thực tế, hiện tượng nhầm lẫn giữa hai bệnh này không hề hiếm gặp, dẫn đến chẩn đoán sai hoặc điều trị không đúng. Hãy xem hai trường hợp sau:
Trường hợp 1:Bệnh nhân nam, 58 tuổi, bị khó chịu ở ngực phát từng cơn suốt hơn hai năm. Đôi khi đau xuất hiện ở ngực, đôi khi lan đến vùng thượng vị, dường như liên quan đến ăn uống không đúng cách. Vì vậy, ông đã điều trị như một bệnh dạ dày và dùng rất nhiều thuốc dạ dày, nhưng triệu chứng lúc nặng lúc nhẹ. Gần đây, sau một cơn giận dữ, bệnh nặng hơn, kiểm tra điện tâm đồ cho thấy thiếu máu cơ tim nghiêm trọng. Sau khi điều trị như bệnh mạch vành, triệu chứng cải thiện rõ rệt.
Trường hợp 2:
Bệnh nhân nữ, 44 tuổi, thường xuyên khó chịu ở vùng thượng vị nhiều năm, kèm theo trào ngược axit, ợ hơi, hồi hộp. Bà đã điều trị như bệnh tim, dùng thuốc giãn mạch máu trong thời gian dài nhưng không hiệu quả. Sau khi nội soi dạ dày, phát hiện bà bị loét hành tá tràng. Điều trị theo hướng bệnh loét, các triệu chứng khó chịu vùng thượng vị hầu như biến mất.
Làm thế nào để phân biệt bệnh tim và bệnh dạ dày?
Tim và dạ dày có chức năng khác nhau, nằm ở hai khoang khác nhau: tim ở ngực, dạ dày ở bụng. Nhưng cả hai chỉ ngăn cách bởi cơ hoành và đều chịu sự chi phối của thần kinh tự chủ. Khi bị bệnh, đau là biểu hiện chính, nếu không phân biệt kỹ lưỡng dễ nhầm lẫn. Vì vậy, việc hiểu rõ các đặc điểm đau của từng bệnh là rất quan trọng, tất nhiên cần kết hợp với các triệu chứng khác.
Bệnh dạ dày:
Thường xuất hiện trước tuổi trung niên, bệnh kéo dài.
Đau thường do ăn uống không đúng cách (như ăn đồ lạnh, cứng, cay nóng…) hoặc thay đổi thời tiết đột ngột.
Vị trí đau ở vùng thượng vị, cảm giác đau như nóng rát, kèm cảm giác tức bụng.
Thường có hiện tượng trào ngược axit, ợ hơi.
Khi phát tác, thường không ảnh hưởng đến các hoạt động bình thường, bệnh có thể kéo dài vài ngày đến vài tuần. Sử dụng thuốc chống co thắt và trung hòa axit như Weisu Ping, Gaiwei Ping hoặc tiêm atropin có thể có hiệu quả. Bệnh nhân thường thích giữ ấm vùng thượng vị, nếu dùng tay ấn vào vùng thượng vị thường sẽ cảm thấy đau.
Đau do bệnh tim, chủ yếu gặp ở bệnh mạch vành. Đau thường xuất hiện do lao động mệt nhọc hoặc căng thẳng cảm xúc, vị trí đau nằm sau xương ức, có cảm giác như dao cắt, cảm giác đè nén, nặng nề, và có thể lan đến mặt trong của cánh tay phải, cổ hoặc lưng. Cơn đau thường khiến bệnh nhân phải dừng mọi hoạt động, kéo dài vài phút đến vài giờ, và có thể giảm khi nghỉ ngơi hoặc dùng thuốc, chẳng hạn như đặt nitroglycerin dưới lưỡi (đau do nhồi máu cơ tim thường không giảm được). Hầu hết người bệnh đều có tiền sử tái phát.
Theo những điều trên, cần chú ý:
Nếu trên 40 tuổi (phụ nữ có thể sau 50 tuổi, nhưng không tuyệt đối), trước đó chưa từng bị đau dạ dày mà đột nhiên xuất hiện đau ở ngực hoặc thượng vị, hoặc chỉ cảm thấy tức ngực, khó thở, không nên vội vàng kết luận là đau dạ dày, cần xem xét khả năng bị đau thắt ngực hoặc nhồi máu cơ tim.
Những người có tiền sử đau dạ dày mà gặp triệu chứng đau bất thường cũng cần nghĩ đến đau thắt ngực hoặc nhồi máu cơ tim, nên đến bệnh viện để kiểm tra điện tâm đồ ngay.
Hầu hết bệnh nhân nhồi máu cơ tim cấp đều có những biểu hiện bất thường trước khi phát bệnh, được gọi là dấu hiệu tiền triệu của nhồi máu cơ tim. Những người mắc bệnh mạch vành cần đặc biệt chú ý đến các biểu hiện bất thường để tránh hậu quả đáng tiếc. Một số bệnh nhân nhồi máu cơ tim không xuất hiện đau điển hình ở vùng trước tim, hoặc chỉ có cảm giác tức ngực nhẹ, khó thở, buồn nôn, nôn, do đó dễ bị bỏ qua và chậm trễ trong điều trị. Hiện tượng này được gọi là nhồi máu cơ tim không đau, và cần được quan tâm đặc biệt. Tốt hơn hết nên kiểm tra điện tâm đồ nhiều lần còn hơn chẩn đoán nhầm là đau dạ dày.
Không dùng thuốc giảm đau khi bị đau dạ dày
Thuốc giảm đau được sử dụng rất phổ biến trong điều trị các bệnh như đau đầu, đau khớp, đau thần kinh, đau cơ, đau răng hoặc cảm cúm… Tuy nhiên, có người sử dụng thuốc giảm đau khi đau dạ dày, kết quả không những không giảm được đau mà còn khiến cơn đau trầm trọng hơn, thậm chí gây xuất huyết hoặc thủng dạ dày, đe dọa tính mạng.
Nguyên nhân là vì trong thuốc giảm đau có chứa axit acetylsalicylic, phenacetin, và caffeine, khi sử dụng liều cao có thể kích thích trực tiếp niêm mạc dạ dày, đồng thời thúc đẩy tiết axit dạ dày. Axit dạ dày sẽ gây kích thích mạnh mẽ lên niêm mạc và vết loét, làm bệnh viêm hoặc loét dạ dày nặng hơn, gây xuất huyết.
Ngay cả người không bị đau dạ dày, nếu dùng thuốc giảm đau lâu dài, cũng dễ bị ảnh hưởng đến dạ dày, gây ra các triệu chứng như đau dạ dày, buồn nôn, nôn mửa, trào ngược axit, chán ăn. Do đó, đối với người bị đau dạ dày, dù là loét dạ dày tá tràng hay viêm dạ dày, dùng thuốc giảm đau để giảm đau là hoàn toàn sai lầm. Cách điều trị đúng là sử dụng các loại thuốc chống co thắt và trung hòa axit như Propantheline, Metoclopramide, hoặc Trihexyphenidyl.
Một bát canh giúp giảm đau dạ dày
Ngoài việc sử dụng thuốc, trong trường hợp đau dạ dày phát tác, bạn cũng có thể áp dụng phương pháp ăn uống để giảm đau. Uống canh là một cách rất tốt.
Đau dạ dày có thể chia thành ba loại: đau do hư hàn, đau do khí uất can vị, và đau do thấp nhiệt.
Đau do hư hàn dạ dày:
Biểu hiện: đau âm ỉ ở dạ dày, thích ấm, thích được xoa bóp; đau tăng khi đói và giảm sau khi ăn; buồn nôn ra nước trong; tay chân lạnh; sợ lạnh; đi ngoài phân lỏng; lưỡi nhạt, rêu lưỡi trắng; mạch hư nhuyễn.
Các loại canh trị liệu bằng thực phẩm cho đau dạ dày:
1/Canh cho đau dạ dày do hư hàn
Canh thịt chó hầm phục linh:
Nguyên liệu: 12g phục linh chế sẵn, 500g thịt chó đen tươi, 20g gừng tươi, 9g vỏ quýt khô, một lượng vừa đủ dầu thực vật và muối.
Cách làm: Cho tất cả nguyên liệu vào nồi, đun sôi với lửa lớn, sau đó hạ lửa vừa và hầm cho đến khi thịt chó mềm. Dùng cả nước lẫn thịt.
2/ Canh dạ dày heo hầm tiêu trắng:
Nguyên liệu: 15g tiêu trắng (đập dập), 1 cái dạ dày heo tươi (hoặc nửa cái), 3 lát gừng tươi (bóc vỏ).
Cách làm: Cho tiêu trắng và gừng vào trong dạ dày heo, dùng dây buộc chặt hai đầu, cho vào nồi hầm với nước sạch khoảng 1,5 giờ. Sau khi hầm, thêm gia vị, dùng nước và ăn dạ dày.
3/. Canh cho đau dạ dày do khí uất can vị
①Canh thịt nạc hầm với phật thủ và sa nhân:
Nguyên liệu: 15g phật thủ (nếu tươi thì 30g), 5g sa nhân, 250g thịt nạc heo tươi.
Cách làm: Rửa sạch phật thủ và thịt, cho vào nồi, đun lửa vừa trong 1 giờ. Thêm sa nhân vào, đun thêm 5 phút, tắt bếp. Thêm gia vị, dùng nước và ăn thịt.
② Canh dạ dày heo hầm với hoa bưởi:
Nguyên liệu: 5g hoa bưởi, 250g dạ dày heo tươi.
Cách làm: Rửa sạch dạ dày, cắt thành miếng nhỏ. Cho dạ dày và hoa bưởi vào nồi, thêm nước sạch, hầm với lửa vừa trong 1 giờ. Thêm muối khi dùng, ăn cả nước và dạ dày.
4/. Canh cho đau dạ dày do thấp nhiệt
①Canh thịt nạc hầm với cầu tất ứng và diệp hạ châu:
Nguyên liệu: 15g cầu tất ứng, 12g Thổ Nhân trần, 200g thịt nạc heo tươi.
Cách làm: Rửa sạch nguyên liệu, cho vào nồi với nước sạch, đun lửa vừa khoảng 1 giờ. Thêm gia vị, dùng nước và ăn thịt.
②Canh dạ dày heo hầm với thạch sùng:
Nguyên liệu: 90g thạch sùng tươi (hoặc 30g khô), 500g dạ dày heo tươi.
Cách làm: Rửa sạch dạ dày, cắt thành miếng lớn. Cho dạ dày và thạch sùng vào thố chưng cách thủy 1 giờ. Sau khi nêm gia vị, dùng nước và dạ dày. Nếu không dùng hết, có thể chia làm nhiều lần.
Tầm quan trọng của dinh dưỡng trong việc điều trị đau dạ dày
Câu nói: “An thân chi bản, tất tư vu thực” (cơ sở của sức khỏe nằm ở dinh dưỡng) nhấn mạnh rằng thức ăn cũng có thể chữa bệnh như thuốc nếu được sử dụng đúng cách. Vì vậy, hãy quan tâm đến chế độ ăn uống hàng ngày để tăng cường sức khỏe.
Điều hòa khí huyết để chữa đau vùng thượng vị
Tổng quan
Dựa trên quá trình phát triển của đau thượng vị, tôi chia thành ba loại: khí trệ, huyết ứ và hư chứng (bao gồm khí hư và huyết hư). Nguyên tắc điều trị là:
Khí trệ: Khai thông.
Huyết ứ: Hành khí hoạt huyết.
Hư tổn: Bổ dưỡng.
Tôi áp dụng các phương pháp điều hòa khí huyết với hiệu quả tốt:
Điều hòa khí để hòa huyết: Sử dụng cho đau dạ dày do khí trệ.
Nguyên nhân:
Do dạ dày: Ăn uống không điều độ, ăn uống quá no hoặc để đói.
Do cảm xúc: Căng thẳng, lo lắng, tức giận gây cản trở lưu thông khí của dạ dày.
Khi khí bị đình trệ, chức năng huyết cũng bị ảnh hưởng (theo quan niệm “Khí là soái của huyết”). Do đó, điều trị cần tập trung điều hòa khí để làm hòa huyết.
Bài thuốc tham khảo
Hương Tô Ẩm cải tiến:
Thành phần cơ bản: Hương phụ, tô cánh, vỏ quýt (liều lượng nhẹ).
Tác dụng: Lý khí, thông khí, hòa huyết, giải uất.
Bổ sung: Vỏ tích, bồ bồ, vỏ phật thủ…
Công dụng: Khai thông khí, làm dịu dạ dày, giải tỏa căng thẳng, giảm đau.
Lưu ý: “Khí hành thì huyết hành.” Việc lưu thông khí không chỉ giúp giảm đau mà còn cải thiện chức năng tiêu hóa.
Khi khí dạ dày thông và vận hành bình thường, tuần hoàn máu cũng trở nên thông suốt.
Thay đổi thành phần bài thuốc theo triệu chứng:
Nếu kèm theo các triệu chứng như tức ngực và sườn, miệng đắng, buồn nôn, biểu hiện gan uất, có thể thêm sài hồ, thanh bì, uất kim để giải uất và thư gan.
Nếu có táo bón, đầy bụng, chức năng tiêu hóa đình trệ, có thể thêm đại hoàng ngâm rượu, qua lâu, tử tô tử để thông ruột và giảm tắc nghẽn.
Nếu đau dạ dày do ăn đồ lạnh, hàn khí gây đau, có thể thêm cao lương khương, bích thượng nhục để hành khí, tán hàn, giảm đau.
Nếu đầy bụng dai dẳng không dứt, có thể phối hợp kê nội kim tán (gồm kê nội kim, trầm hương, hoặc mộc hương, sa nhân, hương viên bì với lượng bằng nhau, nghiền thành bột). Mỗi lần uống 3g, ngày 2 lần. Có thể dùng làm thuốc sắc.
Ví dụ lâm sàng 1
Bệnh nhân: Tống XX, nam, 46 tuổi.
Triệu chứng: Đầy bụng, ợ hơi, thỉnh thoảng đau âm ỉ, tái phát gần một năm. Sau ăn, triệu chứng đầy bụng nặng hơn, chán ăn, đại tiểu tiện bình thường (chẩn đoán Tây y: viêm dạ dày mãn tính, giảm axit dạ dày). Lưỡi có rêu vàng, mạch chậm.
Nguyên nhân: Khí trệ thực tích, dạ dày mất điều hòa.
Phương pháp điều trị: Điều hòa khí huyết.
Bài thuốc:
Hương phụ, trần bì, chỉ xác, hương viên bì, tam tiên sao, đại phúc bì (mỗi loại 10g),
Kê nội kim sao, phật thủ, sa nhân (mỗi loại 5g),
Mộc hương (6g).
Sau 6 thang thuốc, các triệu chứng giảm rõ rệt, ăn uống ngon miệng hơn. Tiếp tục điều chỉnh theo phương thuốc gốc, thêm 10 thang nữa, triệu chứng đầy bụng cơ bản được kiểm soát.
Phương pháp này chủ yếu điều trị đau dạ dày do huyết ứ. Khí trệ lâu ngày dẫn đến huyết ứ, gây triệu chứng đau dạ dày kèm đầy bụng, trong đó đau là chính.
Mặc dù nguyên nhân chính là huyết, nhưng do khí trệ gây ra. Khí hành huyết hành, nên điều trị tập trung điều hòa khí huyết để giảm đau và cải thiện tiêu hóa.
Bài thuốc: Kim Diên Hương Phụ Thang (gồm kim lăng tử, diên hồ sách, hương phụ, trần bì, chỉ xác, đại phúc bì). Bài thuốc này đặc biệt hiệu quả với đau dạ dày do huyết ứ nhẹ, triệu chứng đau kèm đầy bụng, trong đó đau là chính.
Nếu có hiện tượng hóa hỏa, kèm nóng rát dạ dày, trào ngược axit, có thể thêm hoàng liên, ngô thù du để thanh nhiệt, giải uất và hành khí.
Nếu đau dạ dày do lạnh, thích ấm, có thể thêm cao lương khương, cam tùng để hành khí, tán hàn và giảm đau.
Nếu kèm tâm phiền, lưỡi đỏ, rêu vàng, có thể thêm sơn chi, trúc nhự để thanh nhiệt.
Ví dụ lâm sàng 2
Bệnh nhân: Cư XX, nam, 42 tuổi.
Triệu chứng: Đau vùng thượng vị nhiều năm, gần đây đau nặng hơn trong 20 ngày qua, đau quặn từng cơn, lan đến vai và lưng, nôn ra dịch đắng, đau nặng hơn khi đói, khô miệng, khát nước, ăn uống kém, đại tiện táo, tiểu tiện vàng. Tây y chẩn đoán: loét hành tá tràng.
Nguyên nhân: Gan vị không hòa, khí huyết ứ trệ.
Phương pháp điều trị: Điều hòa huyết khí, thư gan giảm đau.
Bài thuốc:
Kim linh tử, hương phụ, chỉ xác, ngư bàng cốt, ngũ linh chi sao (mỗi loại 10g),
Diên hồ sách, phật thủ, thanh bì, trần bì (mỗi loại 5g),
Hoàng liên (2.5g), ngô thù du (1.5g), hoạt thạch nung (12g).
Sau 18 thang thuốc, triệu chứng đau biến mất, ăn uống bình thường, được chữa khỏi.
Tiến triển của đau dạ dày do huyết ứ nặng
Khi huyết ứ kéo dài, triệu chứng nặng hơn, thường chỉ có đau mà không đầy bụng, hoặc đau nhói dữ dội. Một số trường hợp kèm theo xét nghiệm máu trong phân dương tính.
Bài thuốc: “Thương Bì Hương Trùng Thang”
Thành phần: bì nhím sao, cửu hương trùng sao, ngũ linh chi sao, kim lăng tử, diên hồ sách, nhũ hương chế, mộc dược chế, hương phụ, hương viên bì, phật thủ.
Nếu xuất huyết nhiều, có thể thêm bồ hoàng thán, tam thất bột, ngư bàng cốt, a giao châu để cầm máu.
Công dụng:
Bì nhím sao: Vị đắng, tính bình, không độc, đi vào kinh vị và đại tràng, có tác dụng loại bỏ huyết ứ, giảm đau, cầm máu.
Cửu hương trùng sao: Vị mặn, tính ấm, không độc, giúp thông khí trệ, mạnh nguyên dương, giảm đau, đặc biệt hiệu quả với đau do khí huyết ứ trệ.
Kết hợp hai dược liệu này có tác dụng loại bỏ huyết ứ, thông khí trệ, giảm đau và cầm máu hiệu quả.
Thông thường, sau khi đau giảm hoặc cơ bản được kiểm soát, người bệnh thường xuất hiện các biểu hiện hư yếu như ăn ít, mệt mỏi. Khi đó có thể sử dụng phương pháp điều hòa dạ dày, kiện tỳ, bồi bổ nhẹ, chẳng hạn dùng Chỉ Truật Hoàn hoặc Hương Sa Lục Quân Tử Thang để kết thúc liệu trình điều trị. Tuyệt đối không nên bồi bổ sớm hoặc bổ quá mức, vì dạ dày cần thông mới bổ được, nếu bổ không đúng cách sẽ gây khí trệ huyết ứ, làm bệnh cũ tái phát.
Bệnh án lâm sàng:
Bệnh nhân: Quách XX, nam, 38 tuổi.
Lịch sử bệnh: Bắt đầu đau vùng thượng vị từ năm 1972, đã được chẩn đoán loét hành tá tràng qua chụp baryt. Đau nhói, tái phát nhiều lần.
Triệu chứng khi đến khám (7/9/1976):
Đau dạ dày khi đói, đau nhói, không chịu được khi ấn, vị trí đau cố định.
Kèm nóng rát, trào ngược axit, đại tiện táo bón.
Lưỡi hơi đỏ, rêu vàng nhầy, mạch huyền tế.
Chẩn đoán: Khí trệ huyết ứ, nhiệt hóa do uất lâu ngày, tổn thương huyết mạch.
Phương pháp điều trị: Hoạt huyết hóa ứ, điều hòa khí huyết.
Bài thuốc:
Bì nhím sao, cửu hương trùng, phật thủ, diên hồ sách bột (hoà uống), cam thảo (mỗi loại 5g).
Mã vĩ liên (6g), bạch thược, hương duyên bì, kim linh tử (mỗi loại 10g),
Ngô thù du (1.5g), hoạt thạch nung (12g).
Sau 6 thang, đau dạ dày khi đói giảm, trào ngược axit cũng ngừng. Tiếp tục điều chỉnh bài thuốc, khứ Thược dược, Cam thảo, Ngô du, mã vĩ liên thêm sa nhân, hương phụ, đại phúc bì để kiện tỳ, hành khí, dùng 3 thang nữa, đau dạ dày giảm hẳn, ăn uống ngon miệng hơn. Một tháng sau, bệnh tái phát do uống rượu, điều trị lại theo phương pháp cũ và đạt hiệu quả tốt.
Phương pháp này áp dụng cho chứng tỳ vị hư hàn. Bệnh dạ dày kéo dài không khỏi, thường chuyển từ thực chứng sang hư chứng, gây tỳ vị hư hàn.
Triệu chứng:
Đau dạ dày âm ỉ, thích ấm, thích xoa bóp.
Tay chân lạnh, đại tiện lỏng, đôi khi nôn ra nước trong.
Lưỡi nhạt, rêu trắng, mạch trầm trì.
Phương pháp điều trị: Bổ khí ôn trung, tán hàn giảm đau.
Bài thuốc: Gia vị Hoàng Kỳ Kiến Trung Thang (Hoàng kỳ, quế chi, bạch thược, cam thảo sao, đường phèn, cao lương khương, đại táo, kim linh tử, diên hồ sách, trần bì).
Tác dụng: Điều hòa âm dương tỳ vị, lưu thông khí huyết, kiện tỳ.
Ví dụ lâm sàng:
Bệnh nhân: Thẩm XX, nam, trưởng thành.
Lịch sử bệnh: Loét dạ dày nhiều năm, tái phát.
Triệu chứng: Đau dạ dày âm ỉ, thích ấm, thích xoa bóp, ăn ít, đầy bụng, ợ hơi, đôi khi nôn ra nước trong. Mệt mỏi, tay chân yếu, đại tiện lỏng. Mặt vàng tái, lưỡi nhạt, rêu trắng, mạch nhược.
Chẩn đoán: Háo khí thương dương, dạ dày hư hàn, khí nghịch.
Bài thuốc:
Hoàng kỳ, quế chi, bạch thược, cao lương khương, kim lăng tử, diên hồ sách, trần bì (mỗi loại 10g).
Cam thảo sao (6g), đường phèn (30g, pha uống), đại táo (4 quả).
Sau 3 thang, đau giảm rõ rệt. Tuy nhiên, khi gặp lạnh, triệu chứng tái phát nhẹ, tiếp tục dùng bài thuốc, các triệu chứng biến mất.
3/ Hòa huyết dưỡng âm
Phương pháp này áp dụng cho chứng tỳ vị hư nhiệt.
Triệu chứng: Đau dạ dày kéo dài, đau âm ỉ, nóng rát, tâm phiền, khô miệng, họng khát. Lưỡi đỏ, ít rêu hoặc tróc rêu, mạch tế sác.
Phương pháp điều trị: Dưỡng âm, ích vị, hòa huyết, giảm đau.
Bài thuốc: Gia giảm Ích Vị Thang (bắc sa sâm, mạch đông, thạch hộc, đan sâm, bạch thược, cam thảo, Ô mai, hương phụ, kim linh tử) chủ trị. Phương này là thang Ích vị gia giảm, dưỡng âm để ích vị, có công dụng hoà huyết giảm đau. Nếu bệnh nhân thường xuyên bị chướng bụng, kèm theo cảm giác nặng đì, hoặc nNếu có biểu hiện sa tạng (nội tạng hạ hãmsa sút), nên dùng Bổ Trung Ích Khí Thang phối hợp chỉ xác để vừa thăng vừa giáng.
Bệnh án đề cử họ Trần, nữ, 58t,vì viêm teo dạ dày điều trị đãlâu không khỏi nên đến viện khám bệnh. Chứng trạng chủ yếu đau dạ dày âm ỉ, hỉ án (thích ấn nắn), chán ăn, có lúc đầu óc tối tăm, nặng thì chóng mặt, thân hình gầy yếu, bực bội vội vã, chất lưỡi hồng, lưỡi không rêu và khô, mạch trầm tế vô lực. Đó là bệnh dạ dày lâu ngày khí huyết đều hư, tổn thương rất nặng. Điều trị nên dưỡng âm ích vị,hoà huyết giảm đau, xử phương: Sa sâm,Mạch đông, huyền sâm, thạch hộc, kim linh tử, hương ohuj đều 10g, Diên hồ, Ô mai, Cam thảo đều 5g, Hoa phấn, sinh địa đều 12g.Phương trên có thể uống liên tục 20 thang, bệnh thế hoãn giải, ăn uống cải thiện, lưỡi và rêu biến chuyển, các chứng trạng bực bội vội vã cũng giảm.
** Theo y học cổ truyền, “Thông thì không đau, khí huyết điều hòa; đau thì không thông, khí huyết ứ trệ.” Đau và đầy ở vùng thượng vị suy cho cùng đều do khí huyết không lưu thông gây ra. Các phương pháp như điều khí hòa huyết, điều huyết hòa khí, bổ khí ôn trung, hòa huyết dưỡng âm được đề cập ở trên thực chất đều là các phương pháp làm thông khí huyết. Như nhà y học cao sĩ tông thời nhà Thanh viết trong cuốn “Y Học Chân Truyền”:
“Phương pháp làm thông có nhiều cách khác nhau: điều khí để hòa huyết, điều huyết để hòa khí đều là thông; nghịch khí thì làm cho khí hạ hành, khí kết thì làm cho khí tản ra, cũng là thông; hư thì bổ để thông, hàn thì ôn để thông – tất cả đều là phương pháp làm thông.”
Việc áp dụng nhiều phương pháp làm thông trong điều trị bệnh dạ dày nhằm mục đích làm cho khí dạ dày thông suốt, phù hợp với nguyên tắc “khí dạ dày phải giáng thì mới hòa, phủ tạng thông thì mới bổ.”
Đặc điểm lâm sàng của đau vùng thượng vị rất phức tạp.
Vị trí đau có thể ở vùng thượng vị hoặc lan đến hai bên mạn sườn.
Một số trường hợp thích được xoa bóp, số khác thì không.
Có người đau rát, nóng, số khác thì đau co thắt hoặc đầy tức.
Đau trước hoặc sau khi ăn khác nhau, đau kéo dài quanh năm hoặc đau theo mùa cũng khác nhau.
Nguyên nhân: Do ăn uống không điều độ, căng thẳng cảm xúc, đói hoặc lao lực quá mức.
Theo y học hiện đại, trừ một số ít trường hợp không tìm được nguyên nhân (xếp vào rối loạn chức năng thần kinh), hầu hết các trường hợp thuộc về loét hoặc viêm, hoặc kết hợp cả hai.
Y học cổ truyền cho rằng bệnh thường do đàm, ứ huyết gây đau. Vì vậy, điều trị y học cổ truyền không chỉ có các phương pháp tẩy đàm, tiêu ứ, hoạt huyết để chữa triệu chứng, mà còn có các phương pháp thanh nhiệt, trừ hàn, dưỡng vị để chữa tận gốc, giúp làm tan viêm và lành vết loét. Các phương pháp này đều dựa trên chẩn đoán chính xác, nên dù là loét, viêm hay rối loạn chức năng thần kinh đều có thể đạt hiệu quả tốt.
Dưới đây là một số kinh nghiệm điều trị đau vùng thượng vị:
1/ Phương pháp tẩy đàm giảm đau
Tẩy đàm, tiêu ứ, hoạt huyết tuy là chữa triệu chứng nhưng khi loại bỏ các yếu tố bệnh lý này, không chỉ giảm đau mà còn giúp tiêu viêm và làm lành vết loét.
Biểu hiện:
Đau dạ dày kèm khô miệng, miệng dính, hoặc nôn ra dịch nhầy. Đây là dấu hiệu dạ dày có đàm trọc, thường khó tiêu.
Phương pháp điều trị:
Trường hợp nhẹ: Dùng pháp thanh nhiệt hóa đàm, tham khảo bài Hải Hà Hoàn của Đan Khê (Hải hà cước, qua lâu nhân), có thể gia giảm.
Trường hợp nặng: Nếu kèm triệu chứng tức ngực, thở khó, táo bón, có thể dùng Tiểu Vị Đan (Ô đầu hoa, cam toại, đại kích, đại hoàng, hoàng bá).
Ngoài ra, các bài thuốc Qua Lâu Tiết Bạch Bán Hạ Thang, Chỉ Thực Tiết Bạch Quế Chi Thang trong sách Kim Quỹ Yếu Lược cũng rất hiệu quả trong điều trị đau dạ dày do đàm trọc, không chỉ dùng riêng cho đau thắt ngực.
2/Phương pháp tiêu ứ giảm đau
Khái niệm:
Ứ huyết là tình trạng dạ dày – ruột bị tắc nghẽn.
Theo kinh nghiệm, hầu hết các bệnh nhân được chẩn đoán y học cổ truyền có ứ huyết trong dạ dày – ruột khi kiểm tra bằng y học hiện đại đều có loét hành tá tràng.
Điều trị:
Sau khi dùng thuốc, một số bệnh nhân đi ngoài ra chất trắng đục, thịt vụn hoặc phân đen cứng. Đây là các chất ứ tắc tích tụ lâu ngày từ viêm nhiễm hoặc loét dạ dày – ruột, kết hợp với thức ăn, dịch tiết và tích tụ do nhu động ruột kém.
Sự hình thành ứ huyết không chỉ làm tăng đau mà còn gây táo bón, đầy bụng, chán ăn, đau bụng do nhu động ruột chậm.
Phương pháp tiêu ứ giảm đau giúp giảm các triệu chứng trên và hỗ trợ làm lành vết loét, cải thiện chức năng tiêu hóa.
** 1. Phương pháp thông tiện giảm đau
Đau dạ dày kèm theo triệu chứng sợ gió lạnh ở vùng thượng vị, không chịu được thức ăn lạnh thường được điều trị bằng các bài thuốc có tác dụng thông tiện như Thông Tiên Đan (gồm hắc sửu, binh lang, tam lăng, nga truật, đại hoàng, mộc hương, đại tạo anh) hoặc Đại Hoàng Phụ Tử Thang, là những phương tễ có tác dụng tả hạ.
Như: Bệnh nhân: 1972 Lý XX, đã đau dạ dày nhiều năm, chẩn đoán loét hành tá tràng, dùng thuốc Đông Tây y suốt nhiều năm không hiệu quả.
Triệu chứng: Trước đây bệnh nhân có triệu chứng ra nhiều mồ hôi ở tay chân, nhưng sau khi bị đau dạ dày, tay chân khô và không còn ra mồ hôi. Đại tiện thường xuyên táo, khó chịu.
Phương pháp điều trị:
Dựa trên triệu chứng ẩm thấp bên trong, sử dụng bài Thông Tiên Đan (khứ tạo anh) với hắc sửu 6g, binh lang, tam lăng, nga truật, đại hoàng (mỗi loại 9g), sắc uống.
Kết quả: Sau 2 thang, đại tiện ra nhiều chất trắng đục, bụng trở nên nhẹ nhõm. Sau đó, thêm các thuốc trừ thấp như bạch truật, thương truật để điều hòa, bệnh nhân ăn uống bình thường, triệu chứng biến mất.
Lại như: 1956 Nông dân nam, người vùng Uy hải, khoảng 40 tuổi, đau vùng thượng vị và bụng nhiều năm, mỗi lần đau thường kéo dài vài ngày và không đại tiện được. Mạch trầm khẩn
Điều trị trước đây: Dùng nhiều bài thuốc hành khí thông tiện như chỉ thực, đại hoàng (lượng lên tới 30g), nhưng không hiệu quả.
Phương pháp điều trị: Sử dụng Đại Hoàng Phụ Tử Thang, gồm đại hoàng, phụ tử, tế tân (mỗi loại 9g).
Kết quả: Sau 1 thang, đại tiện ra nhiều chất cứng màu đen, kích thước lớn như hạt đậu, bụng nhẹ nhõm, thoải mái. Hai phương trên đều có tác dụng tiêu ứ chỉ thống, thông thường nếu đại tiện bí kết, rêu lưỡi trắng nhầy, thiên nhiều về thấp thì dùng Thông tiên đan. Nếu đại tiện bí kết, mạch tượng trầm khẩn, chân tay lạnh, chất lưỡi nhạt, hiện tượng hàn lãnh rõ rệt thì dùng thang Đại hoàng phụ tử.
Lưu ý hai điểm khi dùng Đại Hoàng Phụ Tử Thang: Một là người bệnh không nôn ói. Vì nôn ói là bệnh cơ hướng lên trên (nghịch khí)không phù hợp dùng phương pháp hạ.
Hai là liều lượng tế tân nên dùng cao, thường từ 6–9g, để kích thích nhu động ruột phối hợp cùng phụ tử, giúp đại hoàng phát huy tác dụng thông tiện.
Đau dạ dày do huyết ứ thường là kết quả của loét dạ dày – tá tràng. Máu rỉ ra từ vết loét lâu ngày bị ứ trệ, hình thành huyết chết, thường hòa lẫn với dịch tiết. Huyết ứ ở dạ dày – ruột không chỉ cản trở quá trình lành vết loét mà còn dễ kích hoạt cơn đau khi gặp lạnh, nóng hoặc ăn thức ăn cay.
Triệu chứng: Đau dạ dày dạng châm chích, lưỡi có điểm ứ huyết, mạch thường sáp.
Phương pháp điều trị:
Sử dụng các vị thuốc như ngũ linh chi và bồ hoàng, vừa hoạt huyết, vừa hóa ứ và táo thấp.
Ngoài ra, ngũ linh chi có thể phối hợp phèn phi, nghiền thành bột mịn, hòa rượu uống. Cũng có thể phối hợp với đào nhân, nghiền thành bột, làm thành viên thuốc dùng với rượu hoặc giấm.
Đây là dạng đau dạ dày phổ biến nhất trong lâm sàng.
Triệu chứng: Cảm giác nóng rát trong dạ dày, lưỡi đỏ, mạch nhanh. Cơn đau lúc nặng lúc nhẹ, nặng hơn khi ăn đồ lạnh hoặc uống nước lạnh. Có thể kèm theo tự ra mồ hôi trên trán, tay chân lạnh.
Phương pháp điều trị: Sử dụng chi tử và hoàng liên làm dược liệu chính.
Khi nhiệt quá cao xuất hiện triệu chứng giả hàn (tay chân lạnh), cần thêm các vị thuốc có tính cay, nóng để hỗ trợ. Ví dụ:
Bài Thương xúc Tán (chi tử sao, nước gừng tươi).
Ngoài ra còn có thể dùng Phèn sinh và phèn phi sao bằng nhau, làm thành viên uống với rượu (phối hợp cay nóng).
Lưu ý: Chi tử có tác dụng dẫn nhiệt xuống. Hoàng liên và phèn phi không lan tỏa mà cố định, thêm tác dụng táo thấp, rất phù hợp với chứng nhiệt kèm thấp.
Ví dụ lâm sàng:Một số bài thuốc nổi tiếng như:
Thanh Trung Thang (Thống Chỉ Phương).
Thanh Trung Tiễn Thống Thang (Trương Thị Y Thông).
Thanh Nhiệt Giải Uất Thang (Thẩm Thị Tôn Sinh).
Nếu bệnh nhân bị đau dạ dày do nhiệt kèm sợ lạnh, không ăn được đồ lạnh, cần phối hợp các vị thuốc hàn – nhiệt như: Chi tử kết hợp gừng tươi.
Hoàng liên phối hợp xuyên khung, hương phụ. Sự kết hợp này không chỉ làm giảm tác dụng đối kháng giữa nhiệt tà và thuốc hàn, mà còn tăng hiệu quả giải nhiệt và giảm đau.
Cần bổ sung thêm một số điều sau:
Người viết đối với trường hợp đau dạ dày do nhiệt mà không dám ăn đồ lạnh hoặc uống nước lạnh, thông thường sẽ dùng các loại thuốc có tính hàn lạnh kết hợp với gừng khô. Nếu vùng dạ dày nhạy cảm với gió lạnh, sẽ kết hợp thêm bạch chỉ. Khi điều trị đau dạ dày do nhiệt, sau khi uống thuốc mà hết đau thì chỉ được coi là có hiệu quả, chưa được xem là khỏi hoàn toàn. Phải uống thuốc đến khi ăn đồ lạnh, uống nước lạnh mà không bị tái phát thì mới coi là chữa khỏi.
Đối với trường hợp đau dạ dày do ứ nhiệt, khi dùng các phương thuốc kể trên, thường có thể giảm đau nhanh chóng. Tuy nhiên, cũng có một số ít trường hợp, sau khi giảm đau lại tái phát không lâu sau đó. Nếu các phương thuốc trước không đạt hiệu quả lớn, điều đó cho thấy ứ nhiệt đã được giải nhưng vẫn còn tồn tại sự tích tụ dơ bẩn, chưa được làm sạch hoàn toàn. Lúc này, có thể dùng 3–6 gram muối Glauber (元明粉)(Nguyên Minh Phấn), hòa với nước ấm để uống, bệnh sẽ khỏi. Đối với đau dạ dày do nhiệt, kèm theo cảm giác đau và chướng, lan ra hai bên sườn, mạch huyền sác, cần tả can hỏa, bài thuốc Kim Linh Tử Tán có hiệu quả tốt nhất.
Ngoài ra, còn có phương pháp ôn trung chỉ thống (làm ấm dạ dày để giảm đau), sử dụng các vị thuốc như gừng khô, lương khương, quế nhục, ngô thù du, thảo đậu khấu, với bài thuốc như Lý Trung Thang. Để dưỡng dạ dày và giảm đau, bài Đương Quy Kiến Trung Thang là lựa chọn tốt, còn để dưỡng dạ dày, bài Diệp Thị Dưỡng Vị Thang là tốt nhất. Lý Khắc Thiệu dùng vỏ trứng chữa đau dạ dày: Rửa sạch vỏ trứng, đặt vào một chiếc thìa lớn, dùng lửa nhỏ rang cho đến khi toàn bộ vỏ trứng chuyển sang màu vàng, sau đó nghiền thành bột mịn, càng mịn càng tốt. Mỗi lần lấy nửa thìa, hòa với nước ấm để uống, dùng 2 lần mỗi ngày, uống trước bữa ăn. Phương pháp này có hiệu quả khá tốt đối với đau dạ dày do uống rượu quá nhiều và đau dạ dày phát sinh đột ngột vào ban đêm. (Trích từ Kiện khang thời báo). Chữa đau dạ dày, nôn ra nước chua: Lấy 20 vỏ trứng gà, 60 gram xương cá mực (ô tặc cốt). Đặt cả hai vào chảo sắt, rang cho vàng, nghiền thành bột mịn. Mỗi lần uống 3–5 gram, mỗi ngày uống 3 lần, sau bữa ăn. Phương pháp này chủ yếu dùng để điều trị viêm dạ dày. (Trích từ Kiện khang thời báo)
Cách chọn thuốc không kê đơn để trị đau dạ dày theo y học cổ truyền
Ngày 18 tháng 7 năm 2000
Đau dạ dày chủ yếu biểu hiện ở tình trạng đau thường xuyên tại vùng thượng vị. Thường kèm theo cảm giác đầy tức vùng ngực và bụng, buồn nôn, nôn mửa, cảm giác khó chịu và ợ chua, đại tiện lỏng hoặc táo bón.
Y học cổ truyền thường chia đau dạ dày thành sáu loại và điều trị khác nhau:
1/ Loại hàn tà: Đặc trưng là đau dạ dày đột ngột, gặp lạnh thì đau tăng, gặp ấm thì đau giảm, sợ lạnh, không khát nước, lưỡi có rêu mỏng trắng. Dùng phương pháp tán hàn chỉ thống.
2/ Loại do ứ đọng thức ăn: Đặc trưng là đau dạ dày thường do ăn uống quá độ, đau bụng chướng đau, ợ hơi chua, hoặc nôn thức ăn chưa tiêu hóa. Dùng phương pháp tiêu thực đạo trệ.
3/ Loại can khí phạm vị: Đặc trưng là đầy tức vùng thượng vị, đau lan ra hai bên sườn, đau theo đợt, ợ hơi liên tục, đại tiện không thông, thường do tình chí uất kết. Dùng phương pháp sơ can lý khí.
4/ Loại can vị uất nhiệt: Đặc trưng là đau thượng vị kèm nóng rát, đau dữ dội, bực bội, dễ cáu gắt, ợ chua, miệng khô đắng, lưỡi đỏ, rêu vàng. Dùng phương pháp sơ can tiết nhiệt, hòa vị.
5/ Loại huyết ứ đình trệ: Đặc trưng là đau thượng vị, đau cố định, không muốn chạm vào, hoặc có cảm giác đau như kim châm, lưỡi tím sậm. Dùng phương pháp hoạt huyết hóa ứ.
6/ Loại tỳ vị hư hàn: Đặc trưng là đau âm ỉ, thích ấm, thích xoa bóp, đau nhiều khi đói, giảm đau khi ăn, nôn ra nước trong, ăn uống kém, tay chân lạnh, đại tiện lỏng, lưỡi nhạt, rêu trắng. Dùng phương pháp ôn trung kiện tỳ.
Đã xác nhận một số thuốc không kê đơn để điều trị các loại đau dạ dày:
Loại hàn tà: Ôn Vị Thư Hoàn, Hương Sa Dưỡng Vị Hoàn.
Loại ứ đọng thức ăn: Hương Sa Bình Vị Hạt Lực.
Loại gan khí phạm vị: Hương Sa Dưỡng Vị Hoàn, Gia Vị Tả Kim Hoàn, Khí Trệ Vị Thống Hạt Lực, Vị Tô Xung Tễ.
Loại gan vị uất nhiệt: Lục Vị An Tiêu Tán.
Những phân loại trên đây cung cấp cho bệnh nhân tham khảo khi chọn thuốc không kê đơn để điều trị đau dạ dày, hoặc đã được chẩn đoán rõ ràng. Nên đơn giản biện chứng để dùng thuốc chính xác. Nếu sau khi dùng thuốc không kê đơn mà triệu chứng không thuyên giảm, cần đến bệnh viện kiểm tra và điều trị.
Tại sao đau dạ dày sau quan hệ?
Gần đây, một bệnh viện khoa tiêu hóa tiếp nhận một bệnh nhân nữ trung niên tự khai bị đau dạ dày sau quan hệ tình dục. Người bệnh chia sẻ rằng vì con đang học cấp 3, mỗi tối sau giờ tự học về đã là 8 giờ tối, cả gia đình mới ăn tối lúc này. Ban ngày ăn tại cơ quan nên rất chú trọng bữa tối, thường khá thịnh soạn. Kết quả kiểm tra là viêm dạ dày mãn tính. Bác sĩ cho rằng, mặc dù nguyên nhân gây viêm dạ dày mãn tính rất nhiều, nhưng trường hợp này có thể liên quan đến việc quan hệ sau bữa ăn no.
Khi cơ thể ở trạng thái nghỉ ngơi, lưu lượng máu phân bổ đến các cơ quan rất khác nhau. Cơ thể có khả năng điều chỉnh lượng máu đến các cơ quan theo nhu cầu. Khi ăn no, hệ tiêu hóa cần nhiều máu hơn để hỗ trợ tiêu hóa. Khi đó, lượng máu đến cơ quan sinh dục sẽ giảm đi, dẫn đến hiện tượng đau dạ dày sau quan hệ.
88 Do đặc điểm lớn nhất của cơ quan sinh dục trong lúc quan hệ tình dục là cần được cung cấp máu rộng rãi, nếu thực hiện quan hệ ngay sau khi ăn no, sẽ xảy ra tình trạng thiếu máu ở đường tiêu hóa, ảnh hưởng đến nhu động của dạ dày, từ đó làm suy giảm chức năng tiêu hóa. Lâu dần, có thể xuất hiện các triệu chứng khó chịu ở dạ dày như cảm giác đầy bụng, chướng bụng, đau bụng tương tự triệu chứng viêm dạ dày.
Theo y học cổ truyền: “Ăn no thì không quan hệ, quan hệ xong không ăn no”. Ý nói rằng, sau khi ăn no thì không nên quan hệ tình dục ngay lập tức “Dĩ bao vật phòng, dĩ phòng vật bao”
(Trích từ Báo Dương Tử)
Lựa chọn thuốc đông y để điều trị đau dạ dày như thế nào?
Đau dạ dày chủ yếu thuộc bệnh mãn tính, thường cần thời gian điều trị lâu dài để đạt hiệu quả tốt hoặc khỏi hẳn. Tuy nhiên, do có rất nhiều loại thuốc đông y chữa bệnh dạ dày với các thành phần và công dụng khác nhau, cần phải lựa chọn phù hợp với triệu chứng cụ thể. Dưới đây là 5 loại thuốc đông y thường dùng trong lâm sàng và đã được khẳng định hiệu quả, người bệnh có thể tham khảo và chọn dùng đúng theo triệu chứng:
1/ Hương Sa Dưỡng Vị Hoàn:
Thành phần gồm sa nhân, bạch truật, chỉ xác, bán hạ khúc, đảng sâm. Có tác dụng hòa vị chỉ ẩu, thư khí khoan hung. Thích hợp điều trị các chứng tỳ vị hư nhược, tiêu hóa kém, đầy tức hai bên sườn, đau vùng thượng vị, khó tiêu sau ăn, ợ chua, nôn ra nước chua, sắc mặt vàng nhợt, tứ chi mệt mỏi.
2/ Hương Sa Lục Quân Hoàn:
Thành phần gồm mộc hương, sa nhân, đảng sâm, bạch truật, phục linh, cam thảo sao. Có tác dụng ích khí kiện tỳ, hòa vị. Thích hợp điều trị tỳ hư khí trệ, tiêu hóa kém, ợ hơi, ăn ít, đầy tức vùng thượng vị và bụng.
3/ Bổ Trung Ích Khí Hoàn:
Thành phần gồm hoàng kỳ, đảng sâm, bạch truật, đương quy, sài hồ, thăng ma, trần bì, cam thảo sao. Có tác dụng bổ trung ích khí, thăng dương cử hãm. Thích hợp điều trị tỳ vị khí hư, ít nói, cơ thể mệt mỏi, chân tay yếu, sắc mặt nhợt nhạt, đầy tức thượng vị, đại tiện lỏng, lưỡi nhạt, rêu lưỡi mỏng trắng. Dùng lâu dài cũng có hiệu quả đối với bệnh sa dạ dày.
4/Tam Cửu Vị Thái:
Thành phần gồm tam nha khổ, cửu lý can, bạch thược, sinh địa, mộc hương. Có tác dụng tiêu viêm chỉ thống, lý khí kiện vị. Thích hợp điều trị viêm dạ dày nông, viêm dạ dày xói mòn, viêm dạ dày teo mạn tính. Hiệu quả tốt khi xuất hiện các triệu chứng đau dạ dày, đầy bụng, thừa axit, khó chịu vùng thượng vị, tiêu hóa kém hoặc uống rượu quá nhiều.
5/Viên Nấm Hầu Thủ: (viên Hầu cô khuẩn)
Được chế từ nấm hầu thủ, qua chiết xuất và cô đặc thành dạng viên. Thích hợp điều trị loét dạ dày, loét hành tá tràng, viêm dạ dày mạn tính, viêm dạ dày teo mạn tính. Ngoài ra, cũng có thể dùng làm hỗ trợ điều trị ung thư dạ dày và ung thư thực quản.
Hướng dẫn lựa chọn:
Nếu gặp các triệu chứng hàn thấp cản trở, đau âm ỉ vùng thượng vị, đầy tức khó chịu, có thể chọn Hương Sa Dưỡng Vị Hoàn.
Nếu gặp triệu chứng tỳ hư thấp trở, khí trệ, ăn ít, tiêu hóa chậm, đại tiện lỏng, đầy tức vùng bụng, có thể chọn Bổ Trung Ích Khí Hoàn.
Nếu gặp triệu chứng khô miệng, đau và đầy tức vùng dạ dày, hoặc cảm giác khó chịu kèm lưỡi vàng, rêu dày, có thể chọn Tam Cửu Vị Thái.
Nếu cần điều trị củng cố đau dạ dày mạn tính, có thể chọn Viên Nấm Hầu Thủ.
(Biên soạn: Vương Cần Siêu)
Điều trị đau dạ dày theo biện chứng
Đau dạ dày là tình trạng đau ở vùng thượng vị gần tâm vị, cũng là triệu chứng chính của viêm dạ dày, loét dạ dày, co thắt dạ dày.
Tây y chủ yếu áp dụng các biện pháp chống co thắt, giảm axit, tiêu viêm (đặc biệt trong trường hợp nhiễm khuẩn Helicobacter pylori).Trong khi đó, y học cổ truyền có cách chẩn đoán và điều trị khác biệt. Theo y học cổ truyền, dạ dày được coi là “biển của nước và ngũ cốc”. Bất kỳ chế độ ăn uống không điều độ, sự mất cân đối giữa nóng và lạnh đều có thể ảnh hưởng đến chức năng tiếp nhận và tiêu hóa của dạ dày.
** Các nguyên nhân thường gặp gây đau dạ dày:
Đau dạ dày có thể xuất phát từ các nguyên nhân như hàn tà xâm nhập dạ dày, ăn uống không điều độ gây tổn thương dạ dày, gan khí phạm vị, hoặc tỳ vị hư nhược. Trong lâm sàng, các nguyên nhân này được chia thành các thể bệnh cụ thể để biện chứng luận trị:
1/ Hàn tà xâm nhập dạ dày
Do hàn tà ngoại cảm xâm nhập vào dạ dày, làm cho vị khí bất hoà ( khí dạ dày không điều hòa) gây đau.
Triệu chứng: Đau dạ dày đột ngột, sợ lạnh, thích ấm, được làm ấm thì giảm đau, không khát nước, thích uống nước nóng, lưỡi có rêu mỏng trắng, mạch huyền khẩn.
Phương pháp điều trị: Tán hàn chỉ thống. Có thể sử dụng các thuốc như cao lương khương, hương phụ, ngô thù du, trần bì. Thuốc thành phẩm: Vị Khí Chỉ Thống Hoàn.
2/ Ăn uống không điều độ gây tích trệ
Do ăn uống không điều độ, khiến dạ dày mất điều hòa (thất hoà giáng) và dẫn đến đau.
Triệu chứng: Đầy tức và đau vùng thượng vị, ợ hơi chua, hoặc nôn ra thức ăn chưa tiêu hóa, nôn xong thì giảm đau. Có thể bị táo bón, lưỡi rêu dày nhờn, mạch hoạt.
Phương pháp điều trị: Tiêu thực đạo trệ. Có thể sử dụng các thuốc như lai phục tử, thần khúc, sơn tra, bán hạ, liên kiều, trần bì, phục linh. Thuốc thành phẩm: Bảo Hòa Hoàn, Gia Vị Bảo Hòa Hoàn.
3/ Can khí phạm vị
Do khí uất tổn thương gan, dẫn đến can khí tác động ngược lên dạ dày gây đau.
Triệu chứng: Đầy tức vùng thượng vị, đau lan sang hai bên sườn, ợ hơi thường xuyên, đại tiện không thông, đau dạ dày thường phát sinh do yếu tố cảm xúc. Lưỡi có rêu mỏng trắng, mạch trầm huyền.
Phương pháp điều trị: Sơ can lý khí. Có thể sử dụng các thuốc như sài hồ, chỉ xác, bạch thược, cam thảo, hương phụ, xuyên khung, xuyên luyện tử, diên hồ sách. Thuốc thành phẩm: Sơ Can Chỉ Thống Hoàn, Khí Trệ Vị Thống Xung Tễ, Vị Tô Xung Tễ.
4/ Can vị uất nhiệt
Do khí uất hóa nhiệt, can khí phạm vị gây đau.
Triệu chứng: Đau nóng rát vùng thượng vị, bứt rứt dễ cáu gắt, ợ chua, miệng khô đắng, lưỡi đỏ, rêu vàng, mạch huyền hoặc sác.
Phương pháp điều trị: Sơ can tiết nhiệt, hòa vị. Có thể sử dụng các thuốc như đan bì, sơn chi, thanh bì, trần bì, bạch thược, hoàng liên, hoàng cầm, đại hoàng. Thuốc thành phẩm: Tả Kim Hoàn.
5/ Vị âm hư
Do nhiệt uất tổn thương âm, khiến dạ dày không được nuôi dưỡng đầy đủ.
Triệu chứng: Đau dạ dày âm ỉ, khô miệng, họng khô, đại tiện táo, lưỡi đỏ, ít dịch nhầy, mạch nhỏ và nhanh.
Phương pháp điều trị: Dưỡng âm ích vị. Có thể sử dụng các thuốc như sa sâm, mạch môn, đương quy, sinh địa, xuyên luyện tử, kỷ tử, bạch thược, cam thảo. Thuốc thành phẩm: Dưỡng Vị Thư.
6/ Tỳ vị hư hàn
Do tỳ vị hư nhược, lạnh trong dạ dày gây đau.
Triệu chứng: Đau âm ỉ vùng thượng vị, thích ấm, thích xoa bóp, đau nhiều khi đói, giảm đau khi ăn, nôn ra nước trong, ăn uống kém, cơ thể mệt mỏi, chân tay lạnh, đại tiện lỏng, lưỡi nhạt, rêu trắng, mạch hư nhược hoặc trì hoãn.
Phương pháp điều trị: Ôn trung kiện tỳ, hòa vị chỉ thống. Có thể sử dụng các thuốc như hoàng kỳ, bạch thược, quế chi, cam thảo sao, sinh khương, đại táo, di đường, ngô thù du có tác dụng ôn trung kiện tỳ. Thuốc thành phẩm: Phụ Tử Lý Trung Hoàn, Ôn Vị Thư.
Lưu ý bổ sung:
Nếu đau dạ dày có cảm giác như kim châm, không muốn ấn nắn chạm vào, hoặc xuất hiện phân đen, lưỡi tím sẫm, cần dùng phương pháp hoạt huyết hóa ứ. Trường hợp có triệu chứng hư thực lẫn lộn, hàn nhiệt hỗn tạp, cần kết hợp cân bằng giữa chính tà, điều hòa hàn nhiệt.
Những người có tiền sử bệnh dạ dày cần kiêng rượu, tránh đồ cay nóng, đồng thời chú ý điều chỉnh chế độ ăn uống và bảo vệ tỳ vị.
Phương pháp tự xoa bóp chữa đau dạ dày
1/ Xoa bóp huyệt Nội Quan:
Dùng ngón tay cái day ấn huyệt, xoay tròn 36 lần. Khi đau có thể tăng lên 200 lần. Phương pháp này giúp kiện vị hành khí, giảm đau hiệu quả.
2/ Ấn huyệt Túc Tam Lý:
Dùng ngón tay cái ấn huyệt Túc Tam Lý, mỗi lần ấn 36 lần, khi đau có thể tăng lên khoảng 200 lần. Lực ấn có thể mạnh hơn một chút.
3/ Xoa bóp bụng:
Hai tay chồng lên nhau, nam để tay phải trên, tay trái dưới; nữ làm ngược lại. Lấy rốn làm trung tâm, xoa theo hình thái cực, 36 vòng theo chiều kim đồng hồ và 36 vòng ngược chiều. Phương pháp này giúp giảm đau, giảm chướng bụng, tăng cường cảm giác thèm ăn.
Một số bài thuốc chữa đau dạ dày
Bài thuốc 1: Nguyên liệu: Gừng khô 10g, tiêu đen 10 hạt.
Cách dùng: Nghiền thành bột, mỗi ngày uống 2 lần, hòa với nước.
Ứng dụng: Đau dạ dày do lạnh.
Bài thuốc 2: Nguyên liệu: Ngô thù du 60g, nhục quế 10g, đương quy 10g.
Cách dùng: Nghiền bột, vo viên với mật ong, kích thước như hạt đậu. Mỗi lần uống 3g, ngày 3 lần.
Ứng dụng: Đau dạ dày do lạnh.
Bài thuốc 3: Nguyên liệu: 30g hành ta cả rễ, 15g gừng tươi.
Cách dùng: Giã nát, rang nóng, bọc trong vải, chườm lên vùng dạ dày khi còn nóng.
Ứng dụng: Đau dạ dày do lạnh.
Bài thuốc 4: Nguyên liệu: Tỳ giải, gừng khô 15g, các vị khác 10g (ngô thù du, bạch chỉ, nhục quế,…)
Cách dùng: Nghiền bột, làm túi thuốc đắp vào bụng, thích hợp cho người bị đau dạ dày mãn tính.
Bài thuốc 5: Nguyên liệu: 2g diên hồ sách, 1g trầm hương, 1g nhục quế.
Cách dùng: Hòa nước uống, ngày 2 lần.
Ứng dụng: Hiệu quả với hầu hết các loại đau dạ dày (trừ chứng đau do nhiệt).
Danh sách phương thuốc chữa đau dạ dày
Bài thuốc 6: Nguyên liệu: Bạch tiêu, hồng táo (mỗi loại 7 quả), hạnh nhân 5 quả.
Cách dùng: Giã nát, sắc thuốc với nước và thêm rượu để uống.
Ứng dụng: Đau dạ dày do lạnh.
Bài thuốc 7: Nguyên liệu: Qua lâu bì 12g, hoàng cầm 3g.
Cách dùng: Sắc uống.
Ứng dụng: Đau dạ dày do nhiệt.
Bài thuốc 8:Nguyên liệu: Cát hoa 6g, chỉ tử 10g.
Cách dùng: Sắc uống.
Ứng dụng: Đau dạ dày do uống rượu.
Bài thuốc 9: Nguyên liệu: Vỏ quả óc chó xanh 100g, rượu trắng 400ml.
Cách dùng: Rửa sạch vỏ óc chó non, ngâm vào rượu trong bình kín 10 ngày. Uống 5ml khi đau.
Ứng dụng: Mọi loại đau dạ dày.
Bài thuốc 10: Nguyên liệu: Nhiều vỏ ốc, đường đỏ vừa đủ.
Cách dùng: Đem vỏ ốc nung khô trên ngói mới, tán bột. Mỗi lần uống 15g với nước đường đỏ.
Ứng dụng: Đau dạ dày kèm nôn nước chua.
Bài thuốc 11: Nguyên liệu: Đan sâm 30g, bạch đàn hương, sa nhân (mỗi loại 3g).
Cách dùng: Tán bột, uống 2g/lần, 3 lần/ngày.
Ứng dụng: Đau dạ dày do gan khí phạm vị.
Bài thuốc 12: Nguyên liệu: Ngũ linh chi, bồ hoàng (mỗi loại 3g).
Cách dùng: Tán bột, uống với nước ấm.
Ứng dụng: Đau dạ dày do ứ huyết.
Bài thuốc 13: Nguyên liệu: Hương phụ 10g, tô diệp 4.5g, chỉ xác 6g.
Cách dùng: Sắc uống.
Ứng dụng: Đau dạ dày do khí trệ.
Bài thuốc 14: Nguyên liệu: Thanh bì, cam thảo (mỗi loại 6g), ô dược, bạch thược, hương phụ (mỗi loại 9g), mộc hương 3g.
Cách dùng: Sắc uống.
Ứng dụng: Đau dạ dày do khí trệ.
Bài thuốc 15: Nguyên liệu: Hải phiêu tiêu, bối mẫu, đậu khấu, uất kim, kê nội kim, cam thảo, láng đằng (mỗi loại lượng bằng nhau).
Cách dùng: Tán bột, mỗi lần uống 3g, 2 lần/ngày.
Ứng dụng: Đau dạ dày do gan vị không hòa.
Bài thuốc 16: Nguyên liệu: Bách hợp 30g, sa sâm nam 15g, bạch thược, cam thảo (mỗi loại 10g), mật ong vừa đủ.
Cách dùng: Sắc uống.
Ứng dụng: Đau dạ dày do âm hư.
Bài thuốc 17: Nguyên liệu: Bạch phàn 30g.
Cách dùng: Nung chảy, làm thành viên nhỏ như hạt đậu, dùng mật ong làm dẫn. Uống 3 viên/lần, 2 lần/ngày.
Ứng dụng: Co thắt dạ dày.
Bài thuốc 18: Nguyên liệu: Mật gấu 5g, băng phiến 1g.
Cách dùng: Tán bột, đóng viên nang, mỗi viên 0.3g. Uống 2–3 viên/lần, 2–3 lần/ngày.
Ứng dụng: Đau dạ dày do giun đường mật.
Bài thuốc 19: Nguyên liệu: Sa sâm, đan sâm, ngọc trúc (mỗi loại 15g), mạch môn, bạch thược tươi, phật thủ, hương uyển bì, xuyên luyện tử, hỏa ma nhân, bán hạ sống (mỗi loại 10g), cam thảo sống 6g, ô mai 5g.
Cách dùng: Sắc uống.
Ứng dụng: Đau dạ dày do âm vị không đủ.
Bài thuốc 20: Nguyên liệu: Ngũ linh chi sao, bồ hoàng tươi, xuyên luyện tử sao, bán hạ sống, trần bì sao, đương quy (mỗi loại 10g), đan sâm 20g, đàn hương, cam thảo sống, diên hồ sách (mỗi loại 6g), tam thất bột (3g pha uống).
Cách dùng: Sắc uống.
Ứng dụng: Đau dạ dày do ứ huyết tắc nghẽn.
Bài thuốc 21: Nguyên liệu: Hồng hoa, hương phụ, thanh bì, mộc hương (mỗi loại 10g), chỉ xác sao 30g, ngũ linh chi 20g, diên hồ sách 15g, đinh hương 12g, minh hùng, bột ba đậu (mỗi loại 6g).
Cách dùng: Tán bột, bảo quản kín. Khi đau, pha 1–1.5g uống.
Ứng dụng: Đau dạ dày do ứ huyết tắc nghẽn.
Tổng quan về bệnh đau dạ dày
I/ Tên bệnh
Đau dạ dày, còn gọi là đau vùng thượng vị, là tình trạng đau tái diễn tại vùng thượng vị. Trong y học cổ truyền, còn được gọi là “tâm thống”, “vị tâm thống”, “tâm phúc thống””tâm hạ thống”. Đến thời nhà Minh, y học cổ truyền đã phân biệt rõ đau dạ dày và đau tim.
II/Tây y
Đau dạ dày có thể liên quan đến viêm dạ dày cấp và mãn tính, loét dạ dày tá tràng, sa niêm mạc dạ dày.
III/Nguyên nhân và cơ chế bệnh sinh
Dạ dày là nguồn gốc của năm tạng sáu phủ, chủ yếu chịu trách nhiệm tiếp nhận và tiêu hóa thức ăn. Nếu hàn tà xâm nhập, gây lạnh và cản trở khí cơ, dẫn đến khí dạ dày không điều hòa gây đau. Ăn uống không điều độ, hoặc ăn quá nhiều đồ béo ngọt, gây ứ trệ khí cơ, làm mất điều hòa dạ dày cũng dẫn đến đau.
Gan có chức năng sơ tiết và điều hòa dạ dày. Nếu lo nghĩ, tức giận, làm tổn thương gan, gan khí tác động ngược lên dạ dày gây đau. Ngoài ra, làm việc quá sức, bệnh lâu ngày, gây tỳ vị hư nhược, trung tiêu lạnh, cũng có thể dẫn đến đau. Trong một số trường hợp, khí trệ lâu ngày gây huyết ứ, khí huyết không lưu thông, làm đau dạ dày tái phát.
IV/Phân loại biện chứng
Đau dạ dày cần phân biệt giữa hư và thực:
Hàn tà xâm nhập dạ dày: Do hàn tà xâm nhập gây khí dạ dày không điều hòa.
Triệu chứng: Đau dạ dày đột ngột, sợ lạnh, thích ấm, nôn ra nước trong, không khát nước, thích uống nóng, có thể kèm theo cảm giác sợ lạnh, lưỡi có rêu mỏng trắng, mạch huyền khẩn.
Nếu tích trệ do ăn uống: Do ăn uống không điều độ làm khí cơ bị cản trở.
Triệu chứng: Đầy tức, đau vùng thượng vị, ợ chua, cảm giác khó chịu không yên, nôn mửa hoặc xì hơi xong thì giảm đau, đại tiện không thông, lưỡi rêu dày nhờn, mạch hoạt.
Nếu can khí phạm vị (dạ dày): Do khí uất tổn thương gan tác động ngược lên dạ dày.
Triệu chứng: Đầy tức vùng thượng vị, đau lan sang hai bên sườn, ợ hơi liên tục, dễ cáu gắt, buồn bực, ợ chua, đại tiện không thông, thường liên quan đến cảm xúc, lưỡi rêu mỏng trắng, mạchhuyền.
Ứ huyết gây đau dạ dày: Do huyết ứ gây cản trở khí cơ.
Triệu chứng: Đau cố định, không muốn chạm vào, đau tăng sau ăn, có thể kèm nôn ra máu hoặc phân đen, lưỡi tím sẫm hoặc có vết bầm, mạch tế sáp. Là biểu hiện của huyết ứ đình trệ,
Các trường hợp trên phần lớn thuộc thực chứng.
Hư chứng:Thường do tỳ vị hư yếu.
Triệu chứng: Đau âm ỉ, nôn nước trong, thích ấm, thích được xoa bóp, ăn uống kém, mệt mỏi, chân tay lạnh, đại tiện lỏng, lưỡi rêu mỏng trắng, mạch hư nhược hoặc trì hoãn. Mặc dù có nhiều nguyên nhân gây đau vùng thượng vị và có nhiều thay đổi về cơ chế bệnh sinh nhưng chúng đều có hai điểm chung:
1/ Tắc nghẽn khí huyết trong kinh mạch, vận hành không thông sướng gây đau
2/ Vị trí đau luôn nằm ở dạ dày, có liên quan mật thiết đến gan. Khi gan không điều hòa, chức năng sơ tiết bị ảnh hưởng sẽ gây đau dạ dày.
Phương pháp điều trị
Điều trị đau dạ dày dựa trên nguyên tắc thông kinh mạch, điều hòa khí huyết, thể hiện ý tưởng “Dĩ thông vi thuận” đã thông thì thuận.
I/ Thực chứng
Nguyên tắc: Khai thông khí huyết ứ đọng, hòa vị giảm đau.
Huyệt chính: Trung quản, Nội quan, Túc tam lý.
Phối huyệt:
Hàn tà phạm dạ dày: Vị du, Giải khê.
Tích trệ do ăn uống: Lương môn, Phong long.
Can khí phạm vị : Thái xung.
Khí trệ huyết ứ: Lương khâu, Cách du.
II/ Hư chứng
Nguyên tắc: Ôn trung kiện tỳ, hòa vị giảm đau.
Huyệt chính: Trung quản, Tỳ du, Vị du, Túc tam lý.
Phối huyệt:
Hư hàn nặng: Khí hải, Quan nguyên.
Vị âm hư, hư hỏa bốc lên: Nội đình.
Lưu ý:
Nội quan là huyệt lạc của kinh tâm bào, liên kết với tam tiêu, có tác dụng điều hòa khí cơ, thông kinh mạch, giảm đau dạ dày hiệu quả.
Túc tam lý là huyệt hợp của kinh dương minh, giúp điều hòa khí cơ, giảm đau, ngăn nôn. Hai huyệt này kết hợp có tác dụng thông kinh, điều khí huyết, giảm đau, chống nôn hiệu quả.
Ghi chú
Đau dạ dày thuộc phạm vi cấp tính, cần điều trị triệu chứng trước (“cấp tắc trị tiêu”), sau khi giảm đau cần tiếp tục điều trị theo nguyên tắc tùy tình trạng hàn, nhiệt, hư, thực và thể trạng bệnh nhân để đạt hiệu quả lâu dài.
Công dụng của khoai tây trong giảm đau dạ dày
Khoai tây, còn gọi là thổ vu, thổ đậu, dương vu, là thân củ của cây khoai tây thuộc họ cà. Khoai tây vừa là rau, vừa là lương thực, đồng thời là nguyên liệu chế biến tinh bột.
Thành phần và công dụng:
Khoai tây chứa nhiều đường, protein, chất béo, vitamin B1, B2, C, caroten, axit citric, axit lactic, và nhiều loại muối vô cơ (đặc biệt là kali).
Mầm và vỏ khoai tây chứa lượng nhỏ solanin, một chất có tác dụng giảm co thắt cơ trơn của dạ dày, giảm tiết dịch vị.
Y học cổ truyền:
Khoai tây vị ngọt, tính bình, có tác dụng bổ tỳ ích khí, hòa vị điều trung, thông lợi đại tiện. Dùng để chữa tỳ vị hư nhược, tiêu hóa kém, đầy bụng, đau bụng, táo bón.
Cách chế biến khoai tây chữa bệnh
Mật khoai tây:
Nguyên liệu: Khoai tây tươi 100g, mật ong vừa đủ.
Cách làm: Giã khoai tây lấy nước, đun lửa to rồi lửa nhỏ đến khi sệt, thêm mật ong đun tiếp đến khi đặc như mật. Đựng trong lọ, uống 2 lần/ngày, mỗi lần 2 thìa.
Công dụng: Chữa loét dạ dày, loét tá tràng, táo bón mãn tính.
Nước ép khoai tây:
Nguyên liệu: Khoai tây tươi.
Cách dùng: Ép lấy nước, uống 2 thìa trước bữa ăn.
Công dụng: Chữa loét dạ dày, viêm dạ dày mãn tính, táo bón, chàm da.
Nước ép khoai tây, gừng và cam:
Nguyên liệu: Khoai tây tươi 100g, gừng tươi 10g, nước cam tươi 30ml.
Cách dùng: Ép khoai tây và gừng lấy nước, thêm nước cam, uống 30ml mỗi ngày.
Công dụng: Chữa đau dạ dày do rối loạn thần kinh, buồn nôn.
Ly Nguyễn Nghị dịch 12/2024