Khái quát
Đau quặn mật là cơn đau phát sinh khi sỏi hoặc những yếu tố khác làm tắc nghẽn đường thoát của dịch mật, khiến túi mật hoặc đường mật tăng co bóp và áp lực trong lòng ống tăng cao.
Cơn đau thường xuất hiện đột ngột ở vùng thượng vị hoặc hạ sườn phải, có thể lan lên vai phải, vùng dưới xương bả vai hoặc ra sau lưng. Người bệnh thường buồn nôn, nôn, vã mồ hôi, sắc mặt nhợt và đứng ngồi không yên.
Trong Trung y, đau quặn mật thường được xem xét trong phạm vi các chứng:
Hiếp thống 脅痛.
Phúc thống 腹痛.
Vị quản thống 胃脘痛.
Đởm trướng 膽脹.
Âu thổ 嘔吐.
Bệnh vị chủ yếu ở Can và Đởm, đồng thời liên quan đến Tỳ, Vị và Tam tiêu. Bệnh cơ căn bản là Can Đởm khí trệ, phủ khí không thông; có thể kiêm thấp nhiệt, đàm trọc, huyết ứ hoặc hàn ngưng.
Cơ chế hình thành cơn đau
Sỏi mắc ở cổ túi mật hoặc ống túi mật
Khi sỏi còn nằm tự do trong túi mật, người bệnh có thể không có triệu chứng.
Sau bữa ăn nhiều chất béo, túi mật co bóp mạnh. Nếu viên sỏi di chuyển đến cổ túi mật hoặc ống túi mật rồi mắc lại, dịch mật không thể thoát ra ngoài.
Áp lực trong túi mật tăng lên, thành túi mật bị căng và tiếp tục co bóp để vượt qua chỗ tắc, từ đó hình thành cơn đau dữ dội.
Sỏi làm tắc ống mật chủ
Khi sỏi đi vào ống mật chủ và gây tắc, đường mật phía trên vị trí tắc giãn ra.
Người bệnh có thể đau quặn, vàng da, nước tiểu sẫm, phân nhạt màu, sốt hoặc rét run.
Viêm và phù nề
Sỏi kích thích niêm mạc túi mật và đường mật, gây viêm, phù nề và co thắt.
Phù nề làm lòng ống càng hẹp, khiến tắc nghẽn và đau tăng lên.
Co thắt cơ trơn và cơ thắt Oddi
Sỏi di chuyển có thể kích thích cơ trơn đường mật và cơ thắt Oddi co thắt.
Khi sỏi thay đổi vị trí hoặc chỗ tắc tạm thời được giải trừ, áp lực giảm và cơn đau có thể đột ngột thuyên giảm.
Đau giảm không có nghĩa sỏi đã ra ngoài an toàn. Viên sỏi có thể đã đi vào ống mật chủ và tiếp tục gây tắc ở vị trí khác.
Vì sao đau thường xuất hiện ban đêm?
Cơn đau quặn mật có thể xuất hiện ban đêm do nhiều yếu tố phối hợp:
Bữa tối quá no hoặc có nhiều chất béo làm túi mật tiếp tục co bóp trong vài giờ sau ăn.
Khi nằm, vị trí túi mật và viên sỏi thay đổi, làm sỏi dễ di chuyển về phía cổ túi mật.
Hoạt động của hệ thần kinh tự chủ thay đổi trong lúc ngủ có thể ảnh hưởng trương lực túi mật và đường mật.
Tuy nhiên, không có tư thế nằm nào bảo đảm ngăn được sỏi mắc kẹt.
Không nên bắt buộc người bệnh nằm nghiêng phải với mục đích giữ viên sỏi ở đáy túi mật. Người bệnh nên chọn tư thế ít đau nhất và đi khám khi cơn đau kéo dài.
Đặc điểm của đau quặn mật
Vị trí
Đau vùng thượng vị hoặc hạ sườn phải.
Hướng lan
Đau có thể lan lên vai phải, dưới xương bả vai phải hoặc ra sau lưng.
Tính chất
Đau thường tăng nhanh, dữ dội và kéo dài, có thể dao động về cường độ.
Mặc dù được gọi là đau quặn, nhiều trường hợp đau liên tục hơn là từng cơn ngắn hoàn toàn tách biệt.
Yếu tố khởi phát
Ăn quá no.
Ăn nhiều thức ăn dầu mỡ.
Uống rượu.
Rung xóc hoặc vận động mạnh.
Căng thẳng tinh thần.
Triệu chứng kèm theo
Buồn nôn.
Nôn.
Vã mồ hôi.
Sắc mặt nhợt.
Bứt rứt, không thể nằm yên.
Cần nghĩ đến biến chứng khi
Đau kéo dài nhiều giờ.
Sốt hoặc rét run.
Vàng da.
Nôn liên tục.
Bụng cứng.
Huyết áp giảm.
Tinh thần mơ hồ.
Biện chứng luận trị
Can Đởm khí trệ
Biểu hiện
Đau tức hoặc đau quặn hạ sườn phải, ngực bụng đầy, hay thở dài, ợ hơi, đau tăng khi căng thẳng; lưỡi rêu mỏng, mạch huyền.
Bệnh cơ
Can mất sơ tiết, Đởm khí không thông, Vị khí không hòa.
Phép trị
Sơ Can lý khí, lợi Đởm, hòa Vị chỉ thống.
Phương thang
Sài Hồ Sơ Can Tán hợp Kim Linh Tử Tán gia giảm.
Sài hồ, Hương phụ, Chỉ xác, Bạch thược, Uất kim, Xuyên luyện tử, Diên hồ sách, Trần bì, Cam thảo.
Buồn nôn có thể gia Bán hạ chế, Trúc nhự.
Can Đởm thấp nhiệt
Biểu hiện
Đau hạ sườn phải, miệng đắng, ngán dầu mỡ, buồn nôn, tiểu vàng, táo bón, có thể sốt hoặc vàng da; lưỡi đỏ, rêu vàng nhớt, mạch huyền sác hoặc hoạt sác.
Bệnh cơ
Thấp nhiệt uẩn kết ở Can Đởm, dịch mật không thông.
Phép trị
Thanh nhiệt lợi thấp, sơ Can lợi Đởm, hòa Vị.
Phương thang
Đại Sài Hồ Thang hoặc Nhân Trần Cao Thang gia giảm.
Sài hồ, Hoàng cầm, Bạch thược, Chỉ thực, Bán hạ chế, Nhân trần, Uất kim, Chi tử.
Đại hoàng chỉ được cân nhắc khi thực nhiệt và táo bón rõ.
Chú ý
Đau hạ sườn kèm sốt, rét run và vàng da có thể là viêm đường mật cấp. Không tự điều trị bằng thuốc thanh nhiệt hoặc bài thạch tại nhà.
Đàm thấp trở trệ
Biểu hiện
Đau tức hạ sườn, bụng đầy, ăn kém, buồn nôn, cơ thể nặng nề, rêu lưỡi trắng hoặc vàng dày nhớt, mạch huyền hoạt.
Bệnh cơ
Tỳ hư sinh đàm thấp, đàm khí trở trệ Can Đởm.
Phép trị
Kiện Tỳ hóa đàm, lý khí lợi Đởm.
Phương thang
Ôn Đởm Thang hợp Hương Sa Lục Quân Tử Thang gia giảm.
Bán hạ chế, Trần bì, Phục linh, Trúc nhự, Chỉ thực, Đảng sâm, Bạch truật, Mộc hương, Sa nhân.
Khí trệ huyết ứ
Biểu hiện
Đau cố định, đau như châm, bệnh tái diễn nhiều lần, lưỡi tím hoặc có điểm ứ huyết, mạch huyền sáp.
Bệnh cơ
Khí trệ lâu ngày, huyết ứ trở lạc.
Phép trị
Hành khí hoạt huyết, thông lạc chỉ thống.
Phương thang
Cách Hạ Trục Ứ Thang gia giảm.
Đan sâm, Uất kim, Xích thược, Đương quy, Xuyên khung, Diên hồ sách, Chỉ xác.
Chú ý
Không tự dùng thuốc hoạt huyết mạnh khi đang dùng thuốc chống đông, có rối loạn đông máu, xuất huyết đường mật hoặc chuẩn bị phẫu thuật.
Hàn ngưng khí trệ
Biểu hiện
Đau co thắt, thích ấm, sợ lạnh, tay chân lạnh, nôn nước trong hoặc nước đắng, lưỡi nhạt, rêu trắng, mạch trầm trì.
Bệnh cơ
Hàn tà ngưng trệ, dương khí không thông, khí cơ Can Đởm và Trung tiêu bị bế tắc.
Phép trị
Ôn Trung tán hàn, hành khí chỉ thống.
Phương thang
Lương Phụ Hoàn hợp Lý Trung Thang gia giảm.
Cao lương khương, Hương phụ, Đảng sâm, Bạch truật, Can khương, Trần bì, Mộc hương, Cam thảo.
Chú ý
Không tự dùng Chế Xuyên ô, Chế Phụ tử, Ma hoàng, Tế tân hoặc Ngô thù du liều cao để xử trí cơn đau quặn mật. Những vị này có độc tính hoặc nguy cơ tim mạch và cần được kiểm soát rất chặt chẽ.
Tỳ Vị khí hư
Biểu hiện
Sau nhiều đợt bệnh hoặc điều trị kéo dài, người bệnh mệt mỏi, ăn ít, bụng đầy, phân lỏng, lưỡi nhạt có dấu răng, mạch nhu nhược.
Bệnh cơ
Tỳ Vị suy, vận hóa và hòa giáng không đủ.
Phép trị
Kiện Tỳ ích khí, hòa Vị, lý khí.
Phương thang
Hương Sa Lục Quân Tử Thang gia giảm.
Đảng sâm, Bạch truật, Phục linh, Trần bì, Bán hạ chế, Mộc hương, Sa nhân, Cam thảo.
Nhận xét về một số phương thuốc kinh nghiệm
Thang Tứ Kim
Phương lấy Kim tiền thảo, Hải kim sa, Kê nội kim và Uất kim làm trọng tâm, phối hợp Sài hồ, Chỉ thực và Bạch thược.
Theo lý luận, phương có tác dụng sơ Can, lợi Đởm, thanh thấp nhiệt và hỗ trợ điều hòa khí cơ.
Tuy nhiên, việc sỏi biến mất phải được xác nhận bằng phương pháp hình ảnh. Không thể căn cứ riêng vào việc hết đau để kết luận sỏi đã được bài sạch.
Đại Sài Hồ Thang
Phương phù hợp hơn khi Thiếu dương uất nhiệt, Vị khí nghịch và phủ khí không thông.
Không nên dùng máy móc cho mọi cơn đau quặn mật.
Mang tiêu và Đại hoàng liều mạnh có thể gây tiêu chảy, mất nước và rối loạn điện giải.
Không phối hợp Phụ tử hoặc các thuốc đại nhiệt khi chưa xác định rõ hàn nhiệt.
Phương thanh nhiệt lợi Đởm trong giai đoạn cấp
Các vị như Nhân trần, Kim tiền thảo, Hoàng cầm, Chi tử, Uất kim và Bạch hoa xà thiệt thảo từng được phối hợp trong điều trị hỗ trợ viêm đường mật và sỏi mật phát tác.
Trong bệnh cấp, những phương này chỉ có thể được cân nhắc phối hợp khi người bệnh đang được theo dõi tại cơ sở y tế.
Không bơm nước thuốc qua ống thông dạ dày tại nhà.
Không dùng Trung dược để trì hoãn kháng sinh, nội soi dẫn lưu hoặc phẫu thuật.
Những phương thuốc cần loại bỏ hoặc đặc biệt thận trọng
Thang Ô đầu gia vị
Chế Xuyên ô có độc tính đối với tim và thần kinh. Ma hoàng, Quế chi cùng các vị ôn nhiệt có thể làm tăng nguy cơ tim nhanh, tăng huyết áp và rối loạn nhịp.
Không nên dùng phương này như một phương phổ thông điều trị đau quặn mật.
Đại Hoàng Phụ Tử Thang gia vị
Phụ tử, Tế tân và Ngô thù du đều cần được dùng rất thận trọng.
Cơn đau dữ dội, nôn, tay chân lạnh và mạch trầm có thể là biểu hiện sốc hoặc biến chứng ngoại khoa, không nên chỉ quy thành hàn chứng rồi dùng thuốc ôn hạ.
Phương công hạ mạnh
Không lấy việc đi ngoài nhiều lần làm tiêu chuẩn giảm đau hoặc bài sỏi.
Đại hoàng, Mang tiêu và các thuốc tả hạ có thể gây mất nước, hạ huyết áp và rối loạn điện giải.
Châm cứu và bấm huyệt hỗ trợ
Vai trò
Châm cứu và bấm huyệt có thể hỗ trợ giảm cảm giác đau, buồn nôn và căng thẳng ở một số người bệnh ổn định.
Các phương pháp này không giải trừ được sỏi đang mắc kẹt và không thay thế điều trị cấp cứu.
Huyệt thường dùng
Bàng quang-18 Can du.
Bàng quang-19 Đởm du.
Đởm-24 Nhật nguyệt.
Can-14 Kỳ môn.
Đởm-34 Dương lăng tuyền.
Can-3 Thái xung.
Tâm bào-6 Nội quan.
Nhâm-12 Trung quản.
Vị-36 Túc tam lý.
Đại trường-4 Hợp cốc.
Phối huyệt
Đau hạ sườn: Bàng quang-19 Đởm du, Đởm-34 Dương lăng tuyền, Can-14 Kỳ môn.
Buồn nôn: Tâm bào-6 Nội quan, Nhâm-12 Trung quản.
Khí trệ: Can-3 Thái xung, Tam tiêu-6 Chi câu.
Tỳ hư: Vị-36 Túc tam lý, Bàng quang-20 Tỳ du.
Bấm vùng dưới xương bả vai
Có thể day ấn nhẹ điểm đau ở vùng dưới xương bả vai phải để hỗ trợ thư giãn cơ và giảm cảm giác đau phản chiếu.
Không dùng vật cứng ấn mạnh.
Không tiếp tục ấn khi người bệnh đau tăng, khó thở, chóng mặt hoặc có bệnh xương khớp.
Việc cơn đau giảm sau khi bấm không chứng minh tắc nghẽn đã được giải trừ.
Chú ý khi châm cứu
Không châm kích thích mạnh khi người bệnh:
Sốt cao hoặc rét run.
Vàng da tăng.
Huyết áp thấp.
Nôn liên tục.
Đau lan toàn bụng.
Bụng cứng.
Nghi viêm tụy, thủng túi mật hoặc viêm phúc mạc.
Có rối loạn đông máu.
Ngoại trị
Cao đắp Nhâm-12 Trung quản
Các cao đắp chứa Hoa tiêu, Bạch chỉ, Khổ luyện tử, hành và giấm có thể gây kích ứng, phồng rộp hoặc viêm da.
Không nên đắp quanh Nhâm-12 Trung quản trong cơn đau cấp để thay thế đánh giá y khoa.
Nếu dùng ngoại trị, chỉ nên lựa chọn phương pháp ấm nhẹ, không gây bỏng và không đặt trực tiếp lên vùng đau khi chưa loại trừ viêm cấp.
Không xoa bóp mạnh hạ sườn phải
Ấn hoặc xoa mạnh vùng túi mật không giúp sỏi thoát ra và có thể làm đau tăng.
Xử trí ban đầu khi xuất hiện cơn đau
Ngừng ăn tạm thời
Khi đang đau dữ dội và buồn nôn, không tiếp tục ăn thức ăn, đặc biệt thức ăn nhiều dầu mỡ.
Không tự nhịn ăn kéo dài nếu chưa được đánh giá.
Không cố kích thích bài sỏi
Không uống dầu.
Không ăn bữa nhiều chất béo.
Không dùng thuốc lợi mật liều lớn.
Không dùng thuốc tả mạnh.
Không vận động rung xóc.
Không tự dùng thuốc giảm đau mạnh
Thuốc giảm đau có thể che lấp diễn biến bệnh và có nhiều chống chỉ định.
Không tự dùng atropin, pethidin, opioid hoặc thuốc chống co thắt theo kinh nghiệm cũ.
Đến cơ sở y tế
Người bệnh cần được thăm khám để phân biệt:
Đau quặn mật đơn thuần.
Viêm túi mật cấp.
Sỏi ống mật chủ.
Viêm đường mật.
Viêm tụy.
Thủng dạ dày hoặc tá tràng.
Bệnh tim mạch.
Khi nào cần điều trị can thiệp?
Cắt túi mật thường được cân nhắc khi:
Đau quặn mật tái diễn.
Sỏi gây viêm túi mật.
Túi mật mất chức năng.
Đau ảnh hưởng rõ đến ăn uống và sinh hoạt.
Có biến chứng.
Sỏi ống mật chủ có thể cần được lấy qua nội soi.
Khi có viêm đường mật tắc nghẽn, việc dẫn lưu và giải trừ tắc nghẽn giữ vai trò quyết định.
Dấu hiệu cần cấp cứu
Đau dữ dội kéo dài nhiều giờ.
Sốt cao hoặc rét run.
Vàng mắt hoặc vàng da.
Nước tiểu sẫm.
Nôn liên tục.
Đau lan ra lưng kèm nôn nhiều.
Bụng cứng hoặc đau lan rộng.
Huyết áp giảm.
Chóng mặt hoặc ngất.
Mạch nhanh.
Lú lẫn hoặc ngủ gà.
Khó thở hoặc đau ngực.
Kết luận
Theo Trung y, đau quặn mật chủ yếu do Can Đởm khí trệ, phủ khí không thông; có thể kiêm thấp nhiệt, đàm trọc, huyết ứ hoặc hàn ngưng.
Điều trị cần căn cứ từng thể để vận dụng sơ Can lợi Đởm, thanh nhiệt lợi thấp, kiện Tỳ hóa đàm, hoạt huyết thông lạc hoặc ôn Trung tán hàn.
Trung dược, châm cứu và bấm huyệt có thể hỗ trợ giảm một số triệu chứng trong trường hợp phù hợp, nhưng không thể bảo đảm giải trừ viên sỏi đang gây tắc nghẽn.
Nói tóm lại, cơn đau giảm đột ngột không đồng nghĩa bệnh đã khỏi. Khi đau kéo dài, kèm sốt, vàng da hoặc nôn nhiều, cần nghĩ đến biến chứng và điều trị chuyên khoa kịp thời.
Trường Xuân biên soạn