Khái niệm
Đại tiện không tự chủ, còn gọi là mất tự chủ hậu môn, là tình trạng phân, dịch nhầy hoặc hơi thoát ra ngoài hậu môn mà người bệnh không kiểm soát được.
Mức độ bệnh có thể rất khác nhau. Có người chỉ không giữ được hơi hoặc phân lỏng, trong khi vẫn kiểm soát được phân thành khuôn. Một số trường hợp khác rò rỉ phân mà không cảm nhận được. Khi cơ vòng hậu môn mất khả năng khép kín rõ rệt, phân và dịch nhầy có thể rỉ ra khi đi lại, ho, ngồi xổm hoặc trong lúc ngủ.
Đây không chỉ là bệnh của cơ thắt hậu môn. Hoạt động đại tiện bình thường còn đòi hỏi sự phối hợp giữa trực tràng, ống hậu môn, cơ sàn chậu, hệ thần kinh, cảm giác mót đại tiện và tính chất của phân. Bất kỳ bộ phận nào trong hệ thống này bị tổn thương đều có thể dẫn đến mất tự chủ.
Phân loại
Mất tự chủ không hoàn toàn
Người bệnh còn giữ được phân rắn nhưng khó kiểm soát hơi, dịch nhầy hoặc phân lỏng. Trường hợp này còn gọi là mất tự chủ bán phần.
Mất tự chủ hoàn toàn
Người bệnh không kiểm soát được cả hơi, phân lỏng và phân thành khuôn. Hậu môn có thể lỏng, khép không kín, phân hoặc dịch nhầy thường xuyên làm bẩn quần lót.
Mất tự chủ do mót gấp
Người bệnh cảm nhận rõ nhu cầu đại tiện nhưng không thể giữ đủ lâu để đến nhà vệ sinh. Tình trạng này thường liên quan đến cơ thắt yếu, trực tràng quá nhạy cảm hoặc tiêu chảy.
Mất tự chủ thụ động
Phân rò ra mà người bệnh không cảm nhận được. Nguyên nhân thường liên quan đến giảm cảm giác trực tràng, tổn thương thần kinh hoặc cơ thắt trong suy yếu.
Rỉ phân sau đại tiện
Một lượng phân nhỏ tiếp tục rỉ ra sau khi người bệnh tưởng rằng đã đại tiện xong. Hiện tượng này có thể liên quan đến đại tiện không hết, sa niêm mạc, túi sa trực tràng hoặc rối loạn phối hợp cơ sàn chậu.
Cơ chế duy trì đại tiện tự chủ
Để giữ phân bình thường, cơ thể cần có những điều kiện sau:
Trực tràng có khả năng chứa phân và giãn nở thích hợp.
Niêm mạc trực tràng nhận biết được hơi, phân lỏng và phân rắn.
Cơ thắt trong hậu môn duy trì trương lực lúc nghỉ.
Cơ thắt ngoài và cơ nâng hậu môn co lại khi cần nhịn đại tiện.
Hệ thần kinh trung ương nhận biết cảm giác mót và điều khiển đáp ứng thích hợp.
Phân có độ đặc vừa phải, không quá lỏng hoặc quá cứng.
Người bệnh đủ khả năng vận động và nhận thức để đi vệ sinh đúng lúc.
Khi một hoặc nhiều mắt xích này bị suy giảm, tình trạng không tự chủ có thể xuất hiện.
Nguyên nhân gây đại tiện không tự chủ
Tổn thương cơ thắt hậu môn
Cơ thắt ngoài có thể bị rách hoặc suy yếu sau sinh đường âm đạo, đặc biệt khi có rách tầng sinh môn nặng, sinh khó hoặc phải dùng dụng cụ hỗ trợ.
Phẫu thuật điều trị rò hậu môn, áp xe, trĩ hoặc các bệnh hậu môn – trực tràng cũng có thể làm tổn thương cơ thắt. Chấn thương tầng sinh môn do tai nạn, lao động hoặc vết thương cũng là nguyên nhân quan trọng.
Tổn thương thần kinh
Dây thần kinh chi phối cơ thắt và sàn chậu có thể bị tổn thương do sinh nở kéo dài, chấn thương cột sống, bệnh tủy sống, tổn thương đuôi ngựa hoặc phẫu thuật vùng chậu.
Đột quỵ, bệnh Parkinson, xơ cứng rải rác, sa sút trí tuệ, u não, u tủy sống và một số bệnh thần kinh ngoại biên cũng có thể ảnh hưởng đến cảm giác và khả năng kiểm soát đại tiện.
Tiêu chảy
Phân lỏng khó giữ hơn phân thành khuôn. Tiêu chảy cấp hoặc mạn tính có thể gây mất tự chủ ngay cả khi cơ thắt chưa bị tổn thương nghiêm trọng.
Nguyên nhân tiêu chảy cần được xác định, chẳng hạn nhiễm khuẩn, thuốc, không dung nạp thức ăn, hội chứng ruột kích thích hoặc bệnh viêm ruột.
Táo bón và ứ phân
Táo bón kéo dài có thể làm một khối phân cứng mắc trong trực tràng. Phân lỏng từ phía trên chảy quanh khối phân rồi rò ra ngoài, tạo cảm giác giống tiêu chảy. Hiện tượng này thường gặp ở người cao tuổi, người ít vận động và người có bệnh thần kinh.
Rặn nhiều và ứ phân lâu ngày còn làm trực tràng giãn, giảm cảm giác mót đại tiện và suy yếu cơ sàn chậu.
Sa trực tràng và sa niêm mạc
Trực tràng hoặc niêm mạc trực tràng sa ra ngoài có thể làm hậu môn không khép kín, gây tiết dịch nhầy, rỉ phân và giảm khả năng kiểm soát.
Bệnh hậu môn – trực tràng
Rò hậu môn phức tạp, viêm trực tràng, khối u xâm lấn cơ thắt, tổn thương do xạ trị và sẹo hậu môn diện rộng đều có thể ảnh hưởng đến chức năng đại tiện.
Giảm khả năng chứa của trực tràng
Sau phẫu thuật trực tràng, viêm trực tràng hoặc xạ trị vùng chậu, trực tràng có thể mất tính đàn hồi, chứa được ít phân hơn và gây mót gấp.
Tuổi cao và cơ thể suy yếu
Ở người cao tuổi, cơ thắt, cơ sàn chậu và cảm giác trực tràng có thể suy giảm. Nếu đồng thời có hạn chế vận động, sa sút trí tuệ, tiêu chảy hoặc táo bón, nguy cơ mất tự chủ càng tăng.
Dị tật bẩm sinh
Trẻ có dị tật hậu môn – trực tràng, bất thường tủy sống hoặc cơ thắt phát triển không hoàn chỉnh có thể gặp khó khăn trong việc kiểm soát đại tiện.
Thuốc và sinh hoạt
Thuốc nhuận tràng dùng quá mức, một số thuốc gây tiêu chảy, thuốc an thần hoặc thuốc làm giảm nhận thức đều có thể góp phần gây rò phân.
Người vận động khó khăn hoặc không kịp đến nhà vệ sinh cũng có thể xảy ra mất tự chủ chức năng dù cơ hậu môn còn tương đối bình thường.
Biểu hiện thường gặp
Không giữ được hơi.
Rò rỉ phân lỏng hoặc dịch nhầy.
Phân rỉ ra mà không nhận biết.
Mót đại tiện gấp, không kịp đến nhà vệ sinh.
Phải dùng băng lót để tránh làm bẩn quần áo.
Hậu môn thường xuyên ẩm, ngứa hoặc chàm hóa.
Có cảm giác đại tiện không hết.
Táo bón xen kẽ rỉ phân lỏng.
Sa trực tràng hoặc khối lồi ra ngoài hậu môn.
Tâm lý xấu hổ, lo âu, hạn chế giao tiếp và mất tự tin.
Biến chứng
Da quanh hậu môn thường xuyên tiếp xúc với phân và dịch tiêu hóa có thể đỏ, trợt, đau, chàm hóa hoặc nhiễm khuẩn.
Mùi và tình trạng rò rỉ làm người bệnh ngại ra ngoài, giảm sinh hoạt xã hội và ảnh hưởng đến công việc, giấc ngủ cũng như tinh thần.
Người bệnh không nên âm thầm chịu đựng vì nhiều nguyên nhân có thể điều trị hoặc cải thiện đáng kể khi được đánh giá đúng.
Chẩn đoán
Hỏi bệnh
Cần ghi nhận loại chất bị rò, thời điểm xảy ra, mức độ mót, số lần đại tiện, tính chất phân, tiền sử táo bón hoặc tiêu chảy, sinh nở, phẫu thuật và bệnh thần kinh.
Nhật ký đại tiện
Ghi lại giờ đại tiện, tính chất phân, thức ăn, thuốc sử dụng và các lần rò rỉ giúp nhận biết quy luật của bệnh.
Khám hậu môn – trực tràng
Bác sĩ đánh giá vùng da quanh hậu môn, sẹo, sa trực tràng, trương lực cơ thắt và khả năng co cơ chủ động.
Các xét nghiệm chuyên khoa
Tùy trường hợp, có thể cần nội soi đại trực tràng, đo áp lực hậu môn – trực tràng, siêu âm cơ thắt, cộng hưởng từ sàn chậu, đánh giá dẫn truyền thần kinh hoặc chụp động tác đại tiện.
Những xét nghiệm này giúp xác định tình trạng cơ thắt, cảm giác trực tràng, sa trong và rối loạn phối hợp cơ sàn chậu.
Nhận định của Trung y
Trong Trung y, đại tiện không tự chủ có thể được xếp vào phạm vi các chứng Hoạt tiết 滑泄, Đại tiện thất cấm 大便失禁, Hậu môn thất ước 肛门失约 hoặc Thoát giang 脱肛, tùy theo biểu hiện cụ thể.
Tỳ chủ vận hóa và thống nhiếp; Thận chủ nhị tiện và có chức năng cố nhiếp. Khi Tỳ khí hư, trung khí hạ hãm, cơ nhục không được nuôi dưỡng, hậu môn có thể lỏng và không giữ được phân.
Nếu bệnh kéo dài làm Tỳ Thận cùng hư, mệnh môn hỏa suy, Đại trường hư hàn thì phân lỏng dễ rỉ ra, hậu môn mất khả năng đóng giữ.
Ngoài ra, thấp nhiệt ở Đại trường có thể làm tiêu chảy, mót rặn, phân lỏng và hậu môn nóng rát. Huyết ứ hoặc tổn thương kinh lạc sau sinh nở, chấn thương và phẫu thuật cũng có thể ảnh hưởng đến chức năng cơ vùng hậu môn.
Nói tóm lại, bệnh thường liên quan mật thiết đến Tỳ, Thận, Đại trường, trung khí và khả năng cố nhiếp của cơ thể.
Biện chứng luận trị
Thể trung khí hạ hãm
Triệu chứng
Phân hoặc dịch nhầy rỉ ra, đặc biệt khi mệt hoặc vận động; có thể kèm sa trực tràng; người mệt mỏi, hụt hơi, nói nhỏ, ăn kém, bụng dưới sa nặng; sắc mặt nhợt; lưỡi nhạt, to hoặc có dấu răng; mạch hư nhược.
Chứng cơ
Tỳ khí hư, trung khí hạ hãm, cơ nhục và hậu môn mất sự nâng giữ.
Phép trị
Bổ trung ích khí, thăng đề, cố sáp.
Phương thang
Có thể căn cứ chứng trạng sử dụng Bổ trung ích khí thang hợp Chân nhân dưỡng tạng thang gia giảm.
Nếu sa trực tràng rõ, có thể gia Ngũ bội tử, Ngũ vị tử, Ô mai.
Nếu đại tiện lỏng, có thể gia Phục linh, Sơn dược, Liên nhục, Khiếm thực.
Không nên dùng thuốc cố sáp khi còn ứ phân, nhiễm khuẩn đường ruột hoặc thấp nhiệt chưa được giải quyết.
Thể Tỳ Thận dương hư
Triệu chứng
Thường gặp ở người cao tuổi, sau bệnh lâu ngày hoặc cơ thể suy nhược; phân lỏng rỉ ra không tự chủ; hậu môn lỏng; bụng lạnh, đau âm ỉ, thích chườm ấm; sợ lạnh, tay chân lạnh, lưng gối mỏi, tiểu trong dài; lưỡi nhạt bệu, rêu trắng; mạch trầm trì hoặc trầm nhược.
Chứng cơ
Tỳ dương không vận hóa được thủy cốc, Thận dương suy không ôn dưỡng và cố nhiếp hạ nguyên.
Phép trị
Ôn bổ Tỳ Thận, sáp tràng, cố thoát.
Phương thang
Có thể căn cứ chứng trạng sử dụng Lý trung hoàn, Tứ thần hoàn hoặc Tỳ Thận lưỡng trợ hoàn gia giảm.
Nếu trung khí đồng thời hạ hãm, có thể phối hợp ý của Bổ trung ích khí thang.
Thể thấp nhiệt Đại trường
Triệu chứng
Phân lỏng, hôi, đi nhiều lần, mót gấp, khó giữ; hậu môn nóng rát, da quanh hậu môn đỏ hoặc trợt; có thể kèm đau bụng, miệng khát, tiểu vàng; lưỡi đỏ, rêu vàng nhờn; mạch hoạt sác.
Chứng cơ
Thấp nhiệt uất ở Đại trường, truyền đạo thất thường, phân lỏng và thúc bách đi xuống.
Phép trị
Thanh nhiệt, hóa thấp, điều lý Đại trường.
Phương thang
Có thể căn cứ chứng trạng sử dụng Cát căn cầm liên thang, Bạch đầu ông thang hoặc các phương thanh lợi thấp nhiệt gia giảm.
Thể này không nên vội dùng thuốc cố sáp khi tiêu chảy do nhiễm khuẩn, viêm ruột hoặc thấp nhiệt còn thịnh.
Thể Thận khí bất cố
Triệu chứng
Rò phân hoặc không giữ được phân kéo dài; hậu môn lỏng; lưng gối mỏi, tai ù, tiểu nhiều, tinh thần mệt; người cao tuổi hoặc bệnh lâu ngày; lưỡi nhạt; mạch trầm tế.
Chứng cơ
Thận khí hư, hạ nguyên không vững, khả năng cố nhiếp nhị tiện suy giảm.
Phép trị
Bổ Thận ích khí, cố nhiếp.
Phương thang
Có thể căn cứ chứng trạng sử dụng Kim quỹ thận khí hoàn hoặc các phương bổ Thận cố sáp gia giảm.
Cần phân biệt Thận khí hư, Thận dương hư và âm dương lưỡng hư để lựa chọn phương phù hợp.
Thể khí huyết hư tổn sau sinh hoặc phẫu thuật
Triệu chứng
Mất tự chủ xuất hiện sau sinh nở khó, chấn thương hoặc phẫu thuật; hậu môn yếu, sức co kém; người mệt, sắc mặt nhợt, chóng mặt, hồi hộp; lưỡi nhạt; mạch tế nhược.
Chứng cơ
Khí huyết hao tổn, kinh lạc và cơ nhục vùng hậu môn bị thương, không được nuôi dưỡng đầy đủ.
Phép trị
Ích khí dưỡng huyết, hoạt huyết thông lạc, hỗ trợ phục hồi cơ nhục.
Phương thang
Có thể căn cứ chứng trạng sử dụng Bát trân thang hoặc Bổ dương hoàn ngũ thang gia giảm.
Trường hợp cơ thắt bị đứt hoặc tổn thương cấu trúc rõ rệt, thuốc chỉ có tác dụng hỗ trợ, không thể thay thế việc sửa chữa tổn thương.
Châm cứu
Châm cứu có thể hỗ trợ điều hòa Tỳ Thận, nâng trung khí và cải thiện hoạt động cơ vùng hậu môn.
Huyệt thường dùng
Bách hội Đốc-20: Thăng dương, cử hãm.
Trường cường Đốc-1: Điều trị bệnh hậu môn và trực tràng.
Quan nguyên Nhâm-4: Bổ nguyên khí, ôn Thận, cố nhiếp.
Khí hải Nhâm-6: Ích khí, cố thoát.
Túc tam lý Vị-36: Kiện Tỳ, ích khí.
Tam âm giao Tỳ-6: Kiện Tỳ, bổ Thận, điều hòa ba kinh âm ở chân.
Thận du Bàng quang-23: Bổ Thận, cố nhiếp.
Mệnh môn Đốc-4: Ôn bổ Thận dương.
Đại trường du Bàng quang-25: Điều lý Đại trường.
Bạch hoàn du Bàng quang-30: Điều trị bệnh vùng hậu môn và tiểu khung.
Đề giang huyệt: Huyệt kinh nghiệm dùng để hỗ trợ nâng giữ hậu môn.
Việc châm những huyệt gần hậu môn phải do người có chuyên môn thực hiện trong điều kiện vô khuẩn. Không nên tự châm, chích lể hoặc tiêm thuốc vào huyệt Trường cường.
Xoa bóp và tập đề hậu môn
Bài tập co cơ hậu môn và sàn chậu là một trong những phương pháp phục hồi quan trọng.
Cách tập cơ bản
Nằm, ngồi hoặc đứng ở tư thế thoải mái.
Co cơ quanh hậu môn như khi cố nhịn trung tiện.
Không siết cơ bụng, mông hoặc đùi quá mức.
Giữ khoảng 3–5 giây, sau đó thả lỏng hoàn toàn.
Lặp lại 8–12 lần mỗi lượt.
Thực hiện vài lượt mỗi ngày tùy khả năng.
Có thể tập thêm các lần co nhanh: co và thả cơ hậu môn liên tiếp để hỗ trợ kiểm soát khi xuất hiện cảm giác mót gấp.
Kỹ thuật phải đúng. Co mông hoặc nín thở mà không thực sự co cơ hậu môn thường ít hiệu quả. Người bệnh nên được bác sĩ hoặc chuyên viên vật lý trị liệu sàn chậu đánh giá và hướng dẫn.
Có thể day nhẹ các huyệt Quan nguyên Nhâm-4, Khí hải Nhâm-6, Túc tam lý Vị-36 và Bách hội Đốc-20 để hỗ trợ. Không xoa bóp mạnh trực tiếp lên hậu môn đang viêm, loét hoặc sau phẫu thuật.
Điều trị bảo tồn theo y học hiện đại
Điều trị nguyên nhân
Tiêu chảy, táo bón, ứ phân, bệnh viêm ruột, sa trực tràng, tổn thương cơ thắt và bệnh thần kinh cần được xử lý riêng.
Điều chỉnh tính chất phân
Mục tiêu là tạo phân mềm nhưng thành khuôn. Phân quá lỏng hoặc quá cứng đều làm việc kiểm soát khó khăn.
Người bị tiêu chảy có thể cần điều chỉnh thức ăn và dùng thuốc làm giảm nhu động theo chỉ định. Người táo bón hoặc ứ phân có thể cần chất xơ, thuốc làm mềm phân hoặc chương trình làm sạch ruột phù hợp.
Không nên tự dùng thuốc cầm tiêu chảy khi đau bụng dữ dội, sốt hoặc phân có máu.
Luyện thói quen đại tiện
Có thể chọn một thời điểm cố định trong ngày, thường sau bữa ăn, để ngồi đại tiện. Việc tạo lịch đại tiện giúp trực tràng được làm rỗng có kiểm soát và giảm rò rỉ bất ngờ.
Phản hồi sinh học
Phản hồi sinh học giúp người bệnh nhận biết và điều khiển cơ sàn chậu tốt hơn, phối hợp co cơ hậu môn với cảm giác đầy trực tràng và luyện khả năng trì hoãn đại tiện.
Chăm sóc da
Sau khi rò phân, nên rửa nhẹ bằng nước sạch, thấm khô và dùng sản phẩm bảo vệ da phù hợp. Tránh chà xát mạnh, xà phòng thơm hoặc dung dịch sát khuẩn đậm đặc.
Dụng cụ hỗ trợ
Băng lót, nút hậu môn chuyên dụng hoặc các hệ thống tưới rửa ruột có thể được sử dụng ở một số người bệnh theo hướng dẫn chuyên khoa.
Điều trị chuyên khoa
Khi các biện pháp bảo tồn không đủ hiệu quả, bác sĩ có thể xem xét kích thích thần kinh cùng, sửa chữa cơ thắt, điều trị sa trực tràng hoặc các can thiệp khác tùy nguyên nhân.
Không có một phẫu thuật duy nhất phù hợp với mọi trường hợp. Lựa chọn phụ thuộc vào tổn thương cơ thắt, chức năng thần kinh, tình trạng sa trực tràng, tuổi và sức khỏe toàn thân của người bệnh.
Phẫu thuật sửa chữa cơ thắt
Phương pháp này có thể được cân nhắc khi cơ thắt ngoài bị đứt rõ rệt, thường sau chấn thương hoặc sinh nở. Hai đầu cơ bị tổn thương được nhận diện và nối lại nhằm khôi phục vòng cơ.
Hiệu quả có thể giảm theo thời gian, đặc biệt khi đồng thời có tổn thương thần kinh hoặc suy yếu sàn chậu. Vì vậy, cần đánh giá đầy đủ trước mổ và tiếp tục phục hồi sàn chậu sau phẫu thuật.
Các phương pháp khác
Tùy trường hợp, có thể cân nhắc kích thích thần kinh cùng, sửa chữa sa trực tràng hoặc tạo hậu môn nhân tạo ở một số bệnh nhân rất nặng. Những lựa chọn này cần được thảo luận kỹ tại chuyên khoa hậu môn – trực tràng.
Các kỹ thuật chuyển vạt cơ để tạo cơ thắt mới hiện chỉ áp dụng trong một số trường hợp chọn lọc và không phải phương pháp điều trị thông thường.
Chế độ ăn uống và sinh hoạt
Ghi nhật ký thức ăn
Theo dõi món ăn nào làm phân lỏng, mót gấp hoặc đầy hơi. Các yếu tố thường gặp gồm rượu, cà phê, thức ăn rất cay, chất tạo ngọt nhân tạo hoặc lượng lớn thực phẩm nhiều chất béo.
Bổ sung chất xơ phù hợp
Chất xơ hòa tan có thể giúp phân thành khuôn hơn. Tuy nhiên, lượng dùng cần tăng từ từ và kết hợp uống đủ nước.
Không tự hạn chế nước
Uống quá ít có thể gây táo bón và ứ phân. Người bệnh nên uống nước phù hợp với thể trạng, trừ khi bác sĩ yêu cầu hạn chế do bệnh tim hoặc bệnh thận.
Dễ tiếp cận nhà vệ sinh
Nên mặc quần áo dễ cởi, biết trước vị trí nhà vệ sinh khi ra ngoài và mang theo vật dụng vệ sinh dự phòng.
Vận động
Đi bộ và tập phục hồi sàn chậu giúp cải thiện chức năng ruột, sức cơ và khả năng di chuyển đến nhà vệ sinh.
Phòng ngừa
Phòng táo bón và tiêu chảy kéo dài.
Tránh rặn quá mạnh khi đại tiện.
Điều trị sớm sa trực tràng, rò hậu môn và các bệnh gây tiết dịch.
Bảo vệ cơ thắt trong các phẫu thuật hậu môn – trực tràng.
Đánh giá tổn thương cơ thắt sau sinh khó hoặc rách tầng sinh môn nặng.
Phục hồi sàn chậu sau sinh và sau phẫu thuật theo hướng dẫn.
Kiểm soát đái tháo đường và các bệnh thần kinh.
Chăm sóc da quanh hậu môn để tránh viêm, loét và chàm hóa.
Khi nào cần đi khám?
Rò phân tái diễn hoặc kéo dài.
Không kiểm soát được cả phân thành khuôn.
Triệu chứng xuất hiện sau sinh nở, phẫu thuật hoặc chấn thương.
Kèm sa trực tràng, chảy máu hoặc đau hậu môn.
Táo bón lâu ngày nhưng lại rỉ phân lỏng.
Tiêu chảy kéo dài, phân có máu hoặc sụt cân.
Yếu chân, tê vùng tầng sinh môn, bí tiểu hoặc mất kiểm soát tiểu tiện.
Mất tự chủ xuất hiện đột ngột cùng triệu chứng thần kinh.
Da quanh hậu môn trợt loét, nhiễm khuẩn hoặc đau nhiều.
Ở người đang táo bón, hiện tượng rò phân lỏng không nhất thiết là tiêu chảy mà có thể do ứ phân. Vì vậy, không nên tự dùng thuốc cầm tiêu chảy trước khi được đánh giá.
Nói tóm lại
Đại tiện không tự chủ là hậu quả của sự rối loạn phối hợp giữa trực tràng, cơ thắt, cơ sàn chậu, thần kinh và tính chất của phân. Nguyên nhân thường gặp gồm tiêu chảy, táo bón và ứ phân, tổn thương cơ thắt sau sinh hoặc phẫu thuật, bệnh thần kinh, sa trực tràng và sự suy yếu do tuổi cao.
Theo Trung y, bệnh thường liên quan đến trung khí hạ hãm, Tỳ khí suy, Tỳ Thận dương hư hoặc Thận khí bất cố. Điều trị cần căn cứ vào từng thể bệnh, phối hợp bổ khí thăng đề, kiện Tỳ, bổ Thận và cố nhiếp.
Thuốc và châm cứu có thể hỗ trợ, nhưng trọng điểm vẫn là xác định nguyên nhân, điều chỉnh tính chất phân, tập đúng cơ sàn chậu, luyện thói quen đại tiện và chăm sóc da. Tổn thương cơ thắt, sa trực tràng hoặc bệnh thần kinh rõ rệt cần được khám chuyên khoa để lựa chọn phương pháp phục hồi thích hợp.
Trường Xuân biên soạn