Thiếu máu tán huyết
Thiếu máu tán huyết là tình trạng thiếu máu do hồng cầu bị phá hủy nhanh vượt quá khả năng bù đắp của hồng cầu tủy xương, là thuật ngữ chung cho một nhóm bệnh lớn. Tuổi thọ của các tế bào hồng cầu bình thường trong tuần hoàn máu là khoảng 120 ngày, các tế bào hồng cầu già cỗi liên tục bị phá hủy và đào thải, các tế bào hồng cầu mới liên tục được tạo ra và giải phóng bởi tủy xương để duy trì động thái cân bằng. Trong bệnh thiếu máu tán huyết, thời gian tồn tại của hồng cầu bị rút ngắn với mức độ khác nhau, ngắn nhất chỉ vài ngày. Khi các nguyên nhân khác nhau dẫn đến tuổi thọ của hồng cầu bị rút ngắn, sự phá hủy quá mức và tăng khả năng tán huyết, nếu chức năng tạo máu ban đầu của tủy xương là bình thường, thì chức năng tạo máu bù của tủy xương có thể tăng lên gấp 6~8 lần so với bình thường, và thiếu máu có thể không xảy ra. Tình trạng này được gọi là “Đại thường tính dung huyết bệnh” (代偿性溶血病) bệnh tan máu bù. Nếu tốc độ tạo máu bù của tủy xương không thể phù hợp với tốc độ tan máu thì sẽ xuất hiện tình trạng thiếu máu.
Tuổi thọ của hồng cầu bị rút ngắn, sự hủy hoại quá mức và nhanh chóng được gọi là tan máu.
Tán huyết có thể được chia thành hai loại lớn.
Tủy xương có khả năng tạo máu bù trừ mạnh, thiếu máu chỉ xảy ra khi mức độ tan máu vượt quá chức năng bù trừ của quá trình tạo máu của tủy xương. Sau khi tán huyết, lượng bilirubin do huyết sắc tố phân hủy sinh ra tăng lên, không thải ra kịp thời có thể xuất hiện vàng da, gọi là vàng da tán huyết. Bệnh nhân thường bị lách to, và huyết sắc tố niệu giống như nước tương có thể xảy ra. Chẩn đoán thiếu máu tan máu ngoài các xét nghiệm máu thông thường, thường cần phải lấy máu để làm các xét nghiệm tan máu đặc biệt khác nhau để xác nhận xem có tan máu hay không và nguyên nhân gây tan máu.
Để xử lý căn bệnh này, việc phòng ngừa và điều trị nguyên nhân là quan trọng nhất, chẳng hạn như tan máu do hóa chất và thuốc bào chế đậu tàm, và phải tránh tiếp xúc lại với các chất này.
Bệnh thiếu máu tan máu tự miễn dịch và bệnh tan máu ở trẻ sơ sinh có thể được điều trị bằng Cường đích tùng ( prednisone). Khi xuất hiện chứng huyết sắc tố kịch phát về đêm, truyền tĩnh mạch anhydrit dexarginic có thể ức chế tán huyết, và y học cổ truyền, androgen và prednisone cũng có tác dụng chữa bệnh nhất định. Mặc dù phẫu thuật cắt lách đối với bệnh hồng cầu hình cầu di truyền không thể thay đổi các khiếm khuyết của hồng cầu, nhưng nó có thể làm giảm bớt các triệu chứng tan máu và ngăn ngừa các bệnh đi kèm. Cắt lách chữa cường lách có tác dụng chữa bệnh tốt.
Tư liệu tham khảo:
Trên lâm sàng còn có một số bệnh và tình trạng thiếu máu khác làm rút ngắn đời sống hồng cầu như viêm mãn tính, nhiễm trùng, ung thư di căn rộng, bệnh bạch cầu, u lympho ác tính, suy thận, bệnh gan, viêm khớp dạng thấp, thiếu máu nguyên hồng cầu khổng lồ, các chứng trạng thiếu máu này cần được phân biệt. Nguyên nhân gây thiếu máu ở các bệnh này không phải do tan máu, không phải do hồng cầu bị phá hủy quá nhanh mà do quá trình sản xuất hồng cầu bị chậm lại, tuổi thọ của hồng cầu bị rút ngắn nhưng không nhiều như trong bệnh huyết hư do tan máu.
Biểu hiện lâm sàng của bệnh thiếu máu tán huyết là gì?
Biểu hiện lâm sàng của thiếu máu huyết tán có liên quan đến mức độ khẩn cấp, mức độ và vị trí của tan máu, vì vậy các triệu chứng và dấu hiệu của tan máu cấp tính và tan máu mãn tính là khác nhau.
Tán huyết cấp tính: Khởi phát nhanh, ớn lạnh đột ngột, sốt cao, đau thắt lưng, khó thở, mệt mỏi, khó chịu, buồn nôn, nôn, đau bụng và các triệu chứng tiêu hóa khác. Trong trường hợp lượng lớn tán huyết nội mạch có thể nhìn thấy huyết sắc tố trong nước tiểu, màu nước tiểu giống như trà đen đậm đặc hoặc nước tương, ngoài ra còn có thể xuất hiện vàng da nhẹ. Nếu phản ứng tán huyết do truyền máu không đúng cách có thể thấy ít nước tiểu, không có nước tiểu và suy thận cấp. Vì thiếu máu cấp tính dẫn đến thiếu dưỡng khí nghiêm trọng nên có thể thấy tinh thần bệnh nhân thờ ơ, hời hợt hoặc hôn mê, sốc và suy tim.
Tan máu mạn tính: khởi phát chậm, các triệu chứng lâm sàng và dấu hiệu thiếu máu mạn tính như mệt mỏi, xanh xao, khó thở, chóng mặt…, cũng có thể gặp ở các mức độ vàng da khác nhau. Phổ biến hơn với gan lách to. Biến chứng phổ biến hơn là sỏi mật chứa sắc tố mật, có thể là thứ phát sau tắc nghẽn ống mật chủ và vàng da tắc mật. Trong bệnh thiếu máu hồng cầu hình liềm, loét da ở mắt cá chân của các chi dưới là phổ biến và khó chữa lành. Các triệu chứng thiếu máu di truyền có thể đến và đi theo thời gian do những thay đổi trong tình trạng bệnh.
Tan máu mạn tính: Khởi phát chậm, có thể thấy rõ trên lâm sàng các triệu chứng và dấu hiệu thiếu máu mạn tính như mệt mỏi, xanh xao, khó thở, chóng mặt, vàng da ở các mức độ khác nhau. Phổ biến hơn với gan lách to. Biến chứng phổ biến hơn là sỏi mật chứa sắc tố mật, có thể là thứ phát sau tắc nghẽn ống mật chủ và vàng da tắc mật. Trong bệnh thiếu máu hồng cầu hình liềm, loét da ở mắt cá chân của các chi dưới là phổ biến và khó chữa lành. Các triệu chứng thiếu máu di truyền có thể đến và đi theo thời gian do những thay đổi trong tình trạng bệnh.
Y học cổ truyền hiểu như thế nào về chứng tan máu do bất thường bẩm sinh của màng tế bào hồng cầu?
Vì bệnh tan máu do bất thường bẩm sinh của màng hồng cầu có biểu hiện lâm sàng là thiếu máu, suy nhược, vàng da, gan lách to và chủ yếu xảy ra ở trẻ em, vì thế bệnh này thuộc phạm trù “Hư lao”, “Cam chứng” “ Đồng tử lao”, “Hoàng đản” và “Tích tụ”.
Trong {Ấu ấu tập thành} viết thời nhà Thanh có ghi: “Phu cam chi vi bệnh giả, diệc tiểu nhi ác hậu, thập lục tuế dĩ tiền bệnh vi cam, thập lục dĩ thượng, kỳ bệnh vi lao” Chứng cam gây bệnh, là hội chứng xấu ở trẻ, trước 16 tuổi gọi là bệnh cam, 16 tuổi trở lên là lao là khó nhọc vất vả. Những ghi chép tương tự về triệu chứng thiếu máu và suy nhược của bệnh này có thể được tìm thấy trong sách y học cổ đại. Như trong {Y Lâm Thằng Mặc}: “Yêu toan cước nhuyễn, hoặc hung muộn khí đoản, tâm phiền bất an, hoặc nhĩ minh mục huyễn ……hoặc thực thiểu vô vị, bất tác cơ phu, thuỵ trung kinh quý, ngọ hậu phát nhiệt, hoặc đãi quyện vô lực, tứ chi bất thu, hoặc hư hoả thượng công, diện xích suyễn cấp, thử giai hư tổn chi chứng” (腰酸脚软,或胸闷气短,心烦不安,或耳鸣目眩……或食少无味,不作肌肤,睡中惊悸,午后发热,或怠倦无力,四肢不收,或虚火上攻,面 赤喘急,此皆虚损之证。) Lưng đau chân mỏi, hoặc ngực bế tắc thở ngắn, tâm phiền muộn bất an, ù tai hoa mắt…. ăn không biết ngon, không có cơ bắp, , mê sảng sợ hãi khi ngủ, phát sốt sau trưa, hoặc mỏi mệt yếu sức, tứ chi yếu nhược, hoặc hư hoả bốc lên, mặt đỏ suyễn cấp, đều là các chứng hư tổn. Nguyên nhân khởi phát những bệnh chứng này, {Ấu ấu tập thành} cho rằng “Giai chân nguyên khiếp nhược, khí huyết hư suy chi sở chí dã” (皆真元怯弱,气血虚衰之所致也”) Đều do chân nguyên khiếp nhược, khí huyết hư suy gây ra bệnh. {Thọ Thế Bảo Nguyên} viết: “Phu cam giả, cam phì vô tiết, nhũ thực bất điều, hoặc bẩm phú khiếp nhược, khí huyết bất túc”( 夫疳者,甘肥无节,乳食不调,或 禀赋怯弱,气血不足) Bệnh cam tích, ăn uống ngọt béo không tiết độ, sữa và thực phẩm không điều độ, hoặc tố chất bẩm sinh kém, khí huyết không đầy đủ mà thành bệnh. Điều này cho thấy nguyên nhân của bệnh không chỉ do nhân tố bẩm sinh yếu nhược mà còn có các nhân tố khác như tỳ vị hư nhược và khí huyết không đầy đủ, nhưng nhân tố bẩm sinh quan trọng hơn. {Loại chứng trị tài} viêt: “Tiểu nhi chi lao đắc vu mẫu thai” (小儿之劳得于母胎) Bệnh của thai nhi thụ nhận từ thai mẹ, thêm nữa “Hư lao tắc do tiên thiên bẩm thụ bất túc, nhi bẩm vu mẫu khí vưu đa, cố nhất ban xưng vi đồng tử lao.” (虚劳则由先天禀受不足,而禀于母气尤多,故一般称为童子劳。)Hư lao là do bẩm thụ không đầy đủ, mà nhất là bẩm thụ từ tinh khí của mẹ, vì thế nên chứng này còn được gọi là đồng tử lao. Loại bệnh này chính là do nhân tố di truyền mà gây bệnh.
Bệnh chứng vàng da có liên quan với đặc điểm sinh lý của ấu nhi. Đông y cho rằng, trẻ em thuộc thể trĩ âm trĩ dương (âm dương non trẻ chưa hoàn thiện), công năng tạng phủ chưa kiện toàn, thường có biểu hiện là “Thận khí bất túc” (肾气不足)thận khí không đầy đủ, “Tỳ thường hư” (脾常虚) tạng tỳ hư yếu. Công năng hai tạng tỳ thận không kiện toàn thì có thể dẫn đến chứng vàng da. Trong {Ấu ấu tập thành} luận về nguyên nhân vàng da ở trẻ viết: “Thấp nhiệt phát hoàng giả thiểu, tỳ hư phát hoàng giả đa. Cái tỳ thổ cường giả túc dĩ cản ngự thấp nhiệ, tất bất sinh hoàng. Duy kỳ tỳ hư bất vận, sở dĩ thấp nhiệt thừa chi” (湿热发黄者少,脾虚发黄者多。盖脾土强者足以捍御湿热,必不生黄。唯其脾虚不运,所以湿热乘之。). Thấp nhiệt gây bệnh vàng da thì ít, phần lớn bệnh vàng da là do tỳ hư. Tỳ thổ mạnh mẽ đủ để ngăn cản thấp nhiệt gây bệnh vàng da. Chỉ khi tạng tỳ hư yếu không vận chuyển mạnh mẽ, vì thế thấp nhiệt thừa thế gây bệnh (vàng da).
Bệnh chứng can tỳ sưng lớn cũng liên quan với công năng tỳ thận không kiện toàn ở trẻ. {Cảnh Nhạc toàn thư}viết: “Phàm tỳ thận bất túc cập hư nhược bất điều chi nhân, đa hữu tích tụ chi bệnh.” (凡脾肾不足及虚弱失调之人,多有积聚之病。) Phàm người công năng tỳ thận không đầy đủ và là người hư yếu không điều độ thì thường có bệnh về tích tụ {Ấu ấu tập thành} thì viết, trẻ em “Tỳ vị bất thắng, nhũ bô thất điều, tam tiêu bất vận, thuỷ ẩm đình trệ, lãnh khí bác chi, kết tụ nhi tích dã” Tỳ vị không mạnh mẽ, bú sữa không điều độ, tam tiêu không kiện vận, thuỷ ẩm đình trệ, khí lạnh xâm phạm, kết tụ mà thành bệnh. Tích tụ là chỉ về thũng khối hữu hình hoặc vô hình trong cơ thể.
Đông y nhận thức thế nào đối với nguyên nhân và cơ chế bệnh của tan máu do bất thường bẩm sinh trong màng tế bào hồng cầu?
Theo y học cổ truyền, nguyên nhân gây ra bệnh tan máu do bất thường bẩm sinh của màng tế bào hồng cầu chủ yếu bao gồm các yếu tố như bẩm sinh không đầy đủ, tỳ vị hư yếu, can và thận âm không đủ. Một số cơ chế đằng sau các nguyên nhân này như sau:
1/ Bẩm sinh không đầy đủ
Bệnh có tính di truyền, gặp ở trẻ sơ sinh và trẻ nhỏ, chứng tỏ bẩm sinh không đủ, có thể do cha mẹ già yếu, thai khí không đủ, hoặc suy dinh dưỡng từ trong bụng mẹ, khi chuyển dạ bị thương, dẫn đến tạng phủ không khỏe mạnh, Khí huyết không đủ, sức sống kém, cơ thể gầy yếu, sau khi sinh thường phát bệnh. {Nguyên khí Tồn vong luận} của Từ Linh Đài thời nhà Thanh từng nói: “Đương kỳ thụ sinh chi thời, dĩ hữu định phận yên” (当其受生之时,已有定分焉。)Khi sinh ra, trẻ đã được định phận rồi. Trong {Ấu khoa phát huy} của Vạn Toàn thời Minh nói: “Tiểu nhi tật bệnh hữu phụ mẫu bẩm thụ sở sinh giả, thai nhược thị dã. ……Thử thai bẩm chi bệnh, đương tuỳ kỳ tạng khí cầu chi, tử chi luy nhược, giai phụ mẫu tinh huyết chi nhược dã.” (“小儿疾病有父母禀受所生者,胎弱是 也。胎弱者,禀受于气之不足也。……此胎禀之病,当随其脏气求之,子之羸弱,皆父母精血之弱也。) Bệnh của trẻ em là do bẩm thụ từ tạng khí mà ra, thai yếu nhược cũng vậy. Thai yếu là bẩm thụ khí không đầy đủ….. Bệnh tật bẩm sinh trong bụng mẹ nên dựa theo tạng khí mà chữa, mà đứa trẻ yếu ớt tất cả đều do khí huyết của cha mẹ suy yếu. Các tài liệu này cho thấy tư chất của con người trong quá trình bệnh biến có tác dụng quyết định, nếu như tinh khí của cha mẹ không khoẻ mạnh, có thể dẫn đến thai nhi hư yếu. Thời nhà Minh Chu Đan Khê chỉ ra : “Nhi chi thai tại. Dữ mẫu đồng thể. Đắc nhiệt tắc câu nhiệt, đắc hàn tắc câu hàn, đắc bệnh câu bệnh, an tắc câu an” (儿之在胎,与母同体,得热则俱热,得寒则俱寒,病则俱病,安则俱安。) Khi đứa trẻ ở trong bụng mẹ, thai và cơ thể người mẹ là một, gặp nóng thì cả hai đều nóng, gặp lạnh thì đều lạnh, bệnh thì đều bệnh. Bình an thì đều được bình an. Bệnh hồng cầu hình cầu di truyền được di truyền trực tiếp từ mẹ sang thai nhi trong bệnh tan máu là do bất thường bẩm sinh của màng tế bào hồng cầu.
2/ Tỳ vị hư nhược
Vị trí của tỳ ở trung tiêu, là căn bản của hậu thiên, là nguồn hoá sinh khí huyết. Âm dương trên cơ thể trẻ em còn non yếu (gọi là trĩ âm trĩ dương) công năng tỳ vị cũng chưa kiện toàn, lại không biết tiết chế ẩm thực, vì thế công năng tỳ vị ở trẻ rất dễ hư yếu, từ đó ăn uống giảm thiểu khiến khí huyết không đầy đủ, kế tiếp sẽ xuất hiện huyết hư. Nếu khí huyết không đầy đủ, huyết dịch tuần hoàn không tốt, sẽ xuất hiện khí trệ huyết ứ, lâu ngày sẽ tích tụ thành khối. Ngoài ra, trẻ em tỳ vị hư nhược, thực phẩm cũng không tiêu hoá, tụ thấp thành đàm, đàm và thực phẩm kết lại, gây trở ngại cho khí, dẫn đến khí trệ huyết ứ, đàm, thực phẩm, huyết ứ kết lại gọi là phích tích.
3/ Can thận âm hư
Thận là căn bản của tiên thiên, là bể chứa tinh huyết, trữ tàng chân âm và là nơi trú ngụ của nguyên dương, là gốc rễ của âm dương tạng phủ. Vì học thuyết ngũ hành cho rằng: “Thận vi can mẫu” (肾为肝母) thận là mẹ gan, nên “Can thận đồng nguyên” (肝肾同源) can thận cùng một nguồn. Can trữ tàng huyết, thận trữ tàng tinh, tinh huyết hỗ sinh, thận can cùng nguồn, tinh huyết đều là âm, âm của can và âm của thận trên phương diện sinh lý là quan hệ hỗ tương xúc tiến, trên phương diện bệnh lý là hỗ tương ảnh hưởng. Thời nhà Thanh {Loại Chứng Trị Tài} viết: “Phàm nam tử chi lao, khởi vu thương tinh; Nữ tử chi lao, do vu kinh bế; Tiểu nhi chi lao, đắc vu mẫu thai, vô bất thuỷ vu âm hư sinh nhiệt. ” (凡男子之劳,起于伤精;女子之劳,由于经闭;小儿之劳,得于 母胎,无不始于阴虚生热。) Người nam mỏi mệt là do tinh khí bị tổn thương; Người nữ mỏi mệt là do bế kinh; Trẻ em mỏi mệt là từ trong bụng mẹ, đều bắt đầu từ âm hư sinh nhiệt. Có thể thấy, thận tinh suy hư thì thiếu nguồn chuyển hoá huyết dịch, âm của can thận hư yếu thì không thể hoá tinh thành huyết, thậm chí khí huyết suy hư, lâu ngày thành mỏi mệt. Hư yếu lâu ngày, khí huyết càng hư, huyết lưu thông không thông sướng, sáp trệ lưu ứ tạo thành thũng khối.
Đông y căn cứ vào nguyên nhân và cơ chế bệnh phân bệnh này thành ba loại hình: Tỳ thận dương hư, can thận âm hư, thấp nhiệt nội uẩn, phân biệt để biện chứng luận trị.
Y học cổ truyền biện chứng luận trị hội chứng tan máu do tỳ vị dương hư gây ra do màng tế bào hồng cầu bất thường bẩm sinh như thế nào?
Biện chứng luận trị cụ thể và phương pháp điều trị của hội chứng tán huyết loại hình tỳ vị dương hư do bẩm sinh màng hồng cầu gây ra như sau:
Chứng trạng: Ăn ít thân thể mỏi mệt, sắc mặt trắng bệch, môi móng có màu nhạt, sợ lạnh tay chân lạnh, eo gối đau mỏi, bụng đau lạnh, phân lỏng, tiểu tiện không thuận lợi, hoặc có kết khối trong bụng, chất lưỡi nhạt, lưỡi to, rêu lưỡi trắng, mạch trầm tế.
Bệnh cơ: Tỳ thận dương hư nên cơ thể không được nuôi dưỡng ấm áp (ôn dưỡng) vì thế âm hàn nội sinh (sinh ra ở bên trong), thuỷ cốc không vận hoá, không có nguồn hoá sinh khí huyết nên cơ thể không được nuôi dưỡng đầy đủ, thuỷ dịch đình trệ mà thành bệnh. Dương hư không ấm áp, hư hàn nội sinh nên thân thể và tứ chi lạnh lẽo, sắc mặt trắng bệch, tỳ vị vận hoá yếu kém, cơ thể không được nuôi dưỡng nên ăn ít và mỏi mệt; ; Tỳ thận dương hư, âm hàn nội sinh, kinh mạch ngưng trệ nên eo lưng và bụng lãnh thống (đau do lạnh); Thuỷ cốc không vận hoá nên phân lỏng; Thuỷ thấp không hoá nên tiểu tiện không thuận lợi; Khí huyết không có nguồn hoá sinh nên khí huyết đều hư tổn, tiến thêm biến thành khí trệ huyết ứ, lâu ngày kết thành khối trong bụng mà xuất hiện can tỳ thũng đại (sưng lớn). Chất lưỡi nhạt, lưỡi mập, rêu lưỡi trắng, mạch trầm tế, đều là những biểu hiện của tỳ thận dương hư.
Trị pháp: Ôn bổ tỳ thận.
Phương dược: Dùng Kim quỹ thận khí hoàn gia giảm. Dùng Quế chi 10g, Phụ tử 6g, Thục địa 12g, Sơn thù 12g, Phục linh 12g, Đan bì 10g, Trạch tả 10g, Hoàng kỳ 30g, Đương quy 15g, Bạch truật 15g, Cam thảo 6g.
Gia giảm: Nếu can tỳ sưng lớn, có thể gia Nga truật, Kê nội kim, đau bụng tiết tả nghiêm trọng, có thể gia Huyền hồ, Tiêu tam tiên.
Y học cổ truyền biện chứng luận trị hội chứng tan máu do can thận âm hư gây ra do màng tế bào hồng cầu bẩm sinh bất thường như thế nào?
Biện chứng luận trị cụ thể và phương pháp điều trị của hội chứng tán huyết loại hình can thận âm hư do bẩm sinh màng hồng cầu bất thường gây ra như sau:
Chứng trạng: Vựng đầu hoa mắt, tai ù như ve kêu, miệng họng khô, eo gối đau mỏi, ngũ tâm phiền nóng, hay quên, mất ngủ, sốt nhẹ đạo hãn (xuất mồ hôi khi ngủ), chất lưỡi hồng, ít rêu, mạch tế sác.
Bệnh cơ: Can thận âm hư, hư hoả nội sinh, bốc lên ảnh hưởng thanh khiếu nên vựng đầu hoa mắt, tai ù như ve kêu, miệng họng khô; Thận âm khuy hư, thuỷ hoả không giúp nhau, nhiệt nhiễu loạn tâm thần nên hay quên mất ngủ; Hư hoả nội sinh nên ngũ tâm phiền nóng, sốt nhẹ đạo hãn (mồ hôi trộm), eo lưng là ngoại phủ (nhà bên ngoài) của thận, thận âm suy hư, nuôi dưỡng không đủ nên eo lưng đau mỏi, chất lưỡi hồng, ít rêu, mạch tế sác đều là hiện tượng của âm hư nội nhiệt (nóng bên trong).
Trị pháp: Bổ dưỡng can thận.
Phương dược: Tả quy hoàn gia giảm. Kỷ tử, Sơn dược, Bạch truật đều15g, cao Quy bản, Thục địa, Sơn thù, Ngưu tất, cao Ban long đều 12g, Thố ti tử 18g, Cam thảo 6g, Đan bì 10g.
Gia giảm: Âm hư hoả vượng, khứ Thục địa gia Sinh địa, tăng thêm lượng Đan bì; Nếu can tỳ sưng lớn gia Tam lăng, Nga truật…
Y học cổ truyền biện chứng luận trị hội chứng tan máu do thấp nhiệt tích chứa bên trong cơ thể gây ra do màng tế bào hồng cầu bẩm sinh bất thường như thế nào?
Biện chứng luận trị cụ thể và phương pháp điều trị của hội chứng tán huyết loại hình do thấp nhiệt tích chứa bên trong cơ thể do bẩm sinh màng hồng cầu bất thường gây ra như sau:
Chứng trạng: Sắc mặt vàng úa, thân thể và mắt đều có màu vàng, nước tiểu màu vàng, mỏi mệt yếu sức, bụng đầy trướng, hoặc trong bụng kết khối, chán ăn, ăn ít, phân khô hoặc lỏng, rêu lưỡi vàng nhờn, mạch nhu sác.
Bệnh cơ: Do tư chất bẩm sinh không đầy đủ, tỳ vị hư yếu, công năng vận hoá thất thường; Hoặc do ăn uống không tiết độ dẫn đến tỳ vị bị tổn thương, phát sinh thấp trọc. Thấp tích chứa lâu ngày hoá thành nhiệt, thấp nhiệt giao chưng (chưng hấp nhau) ở gan mật, không tiết ra ngoài dẫn đến gan không khai thông điều tiết, đảm trấp (nước mật) tràn ra, ngấm vào da thịt, đi xuống bàng quang, có thể xuất hiện thân thể và mắt đều có sắc vàng, nước tiểu màu vàng; Tỳ vị vận hoá không đúng, không thể thu nạp và tiêu hoá ẩm thực nên chán ăn, ăn ít; Nếu nhiệt nặng hơn thấp, phủ dương minh thực (Đại tràng), phủ khí không thông thì bụng trướng đầy, đại tiện táo bón. Nếu thấp nặng hơn nhiệt thì phân lỏng; Tỳ vị hư yếu, khí huyết sinh hoá không đủ, trở ngại khí cơ, dẫn đến khí trệ huyết ứ, đàm kết với ứ, lâu ngày tích lại thành khối trong bụng. Rêu lưỡi vàng nhờn, mạch nhu sác, đều là hiện tượng của thấp nhiệt.
Trị pháp: Thanh lợi thấp nhiệt
Phương dược: Nhân trần tứ linh tán gia giảm. Nhân trần 18g, Chi tử, Phục linh đều 12g, Trư linh, Bạch truật, Đương quy đều 15g, Hoàng kỳ 30g, Cam thảo 3g.
Gia giảm: Phân lỏng, bụng trướng là chứng trạng của tỳ hư rõ rệt, khứ Đương quy, gia Sơn dược, Ngô thù du; Nếu nhiệt nặng hơn thấp, bn phát sốt, táo bón thì gia Đại hoàng, Hoàng cầm; Can tỳ sưng lớn, gia Nga truật, Tam lăng, Thổ phục linh…
Lương y Trường Xuân Nguyễn Nghị
16/11/2023