Khái quát
Tăng áp lực tĩnh mạch cửa là một biến chứng quan trọng của xơ gan. Khi mô xơ, các nốt tái sinh và sự biến dạng cấu trúc trong gan cản trở dòng máu tĩnh mạch cửa, áp lực trong hệ mạch này tăng lên, từ đó dẫn đến lách to, cường lách, tuần hoàn bàng hệ, giãn tĩnh mạch thực quản – đáy vị, cổ trướng và xuất huyết tiêu hóa.
Trong Trung y không có bệnh danh tương ứng hoàn toàn với “tăng áp lực tĩnh mạch cửa”. Căn cứ các biểu hiện lâm sàng, bệnh có thể được xem xét trong phạm vi các chứng “Hiếp thống” 脅痛, “Tích tụ” 積聚, “Cổ trướng” 鼓脹, “Huyết chứng” 血證, “Trưng hà” 癥瘕 và “Hư lao” 虛勞.
Bệnh vị chủ yếu ở Can, Tỳ và Thận. Bệnh cơ thường lấy Can khí uất trệ, huyết ứ trở lạc làm trọng tâm; Tỳ hư, thủy thấp đình tụ và chính khí suy hư là những yếu tố thúc đẩy bệnh tiến triển.
Bệnh cơ căn bản
Can khí uất trệ
Can chủ sơ tiết, điều đạt khí cơ. Khi bệnh gan kéo dài, Can khí không thông, vùng hạ sườn thường đầy tức hoặc đau, ngực bụng bức bối, ăn uống giảm.
Can khí uất còn ảnh hưởng đến Tỳ, làm vận hóa suy yếu, thấp trọc và thủy dịch tích lại.
Huyết ứ trở lạc
Bệnh lâu nhập lạc. Khí trệ làm huyết hành không thông; mô xơ và những biến đổi mạch máu trong gan có thể được Trung y quy vào tình trạng huyết ứ, lạc mạch bế trở.
Người bệnh thường có gan lách to, đau hạ sườn cố định, sắc mặt tối, môi tím, tĩnh mạch thành bụng nổi, lưỡi tím hoặc có điểm ứ huyết.
Tỳ hư thấp tụ
Tỳ chủ vận hóa thủy cốc và thủy thấp. Khi Tỳ khí suy, thủy thấp không được chuyển vận, người bệnh ăn ít, mệt mỏi, bụng đầy, phân lỏng, phù chân và cổ trướng.
Thủy thấp tích lại còn làm khí cơ Trung tiêu và Tam tiêu thêm bế tắc.
Tỳ Thận dương hư
Bệnh kéo dài làm Tỳ dương suy, về sau liên lụy đến Thận dương. Khi Thận mất khí hóa, thủy dịch không được bài tiết, cổ trướng và phù ngày càng rõ.
Biểu hiện thường là sợ lạnh, chân tay lạnh, tiểu ít, phân lỏng, lưỡi nhạt to, mạch trầm nhược.
Thấp nhiệt uẩn kết
Thấp trọc lâu ngày có thể hóa nhiệt, hoặc bệnh kèm nhiễm khuẩn, tắc mật và viêm hoạt động, làm thấp nhiệt uẩn ở Can Đởm.
Người bệnh có thể vàng da, miệng đắng, tiểu vàng, bụng đầy, sốt, rêu lưỡi vàng nhớt.
Khí huyết và âm dịch hao tổn
Xuất huyết nhiều lần, ăn uống kém, bệnh lâu và điều trị kéo dài làm khí huyết, âm dịch dần suy.
Khi ấy, người bệnh mệt lả, gầy sút, chóng mặt, hồi hộp, miệng khô, da nhợt hoặc sạm, lưỡi nhạt đỏ, mạch tế nhược.
Biện chứng luận trị
Can uất Tỳ hư
Biểu hiện
Hạ sườn đầy tức, bụng trướng, hay thở dài, ăn ít, mệt mỏi, phân lỏng, sắc mặt vàng nhạt, lưỡi nhạt hoặc hơi đỏ, có dấu răng, mạch huyền nhược.
Bệnh cơ
Can mất sơ tiết, Tỳ mất kiện vận, khí cơ và thủy thấp cùng trở ngại.
Phép trị
Sơ Can kiện Tỳ, ích khí, điều hòa khí cơ.
Phương thang
Tiêu Dao Tán hoặc Sài Hồ Sơ Can Tán hợp Tứ Quân Tử Thang gia giảm.
Sài hồ, Hương phụ, Chỉ xác, Bạch thược, Đảng sâm, Bạch truật, Phục linh, Trần bì, Cam thảo.
Huyết ứ rõ có thể gia Đan sâm, Uất kim.
Thấp nhiều có thể gia Hậu phác, Trạch tả, Ý dĩ nhân.
Khí trệ huyết ứ
Biểu hiện
Đau hạ sườn cố định, gan lách to và cứng, tĩnh mạch thành bụng nổi, sắc mặt tối, môi tím, sao mạch, bàn tay son, lưỡi tím hoặc có điểm ứ huyết, mạch huyền sáp.
Bệnh cơ
Can khí uất lâu ngày, huyết ứ trở lạc, mạch đạo trong gan không thông.
Phép trị
Hành khí hoạt huyết, hóa ứ thông lạc, nhuyễn kiên.
Phương thang
Cách Hạ Trục Ứ Thang gia giảm.
Đan sâm, Uất kim, Xích thược, Đương quy, Xuyên khung, Đào nhân, Chỉ xác, Miết giáp, Phục linh.
Chú ý
Người giảm tiểu cầu, rối loạn đông máu, có giãn tĩnh mạch thực quản lớn, nôn ra máu hoặc đại tiện phân đen không được tự dùng thuốc hoạt huyết mạnh.
Tỳ hư thủy thấp
Biểu hiện
Bụng trướng, cổ trướng nhẹ hoặc vừa, phù chân, ăn kém, mệt mỏi, phân lỏng, tiểu ít, lưỡi nhạt to, rêu trắng nhớt, mạch nhu nhược.
Bệnh cơ
Tỳ khí hư, vận hóa thủy dịch suy, thủy thấp đình tụ.
Phép trị
Kiện Tỳ ích khí, lợi thủy tiêu trướng.
Phương thang
Sâm Linh Bạch Truật Tán hợp Ngũ Linh Tán gia giảm.
Đảng sâm, Bạch truật, Phục linh, Sơn dược, Ý dĩ nhân, Trư linh, Trạch tả, Đại phúc bì.
Bụng đầy nhiều có thể gia Hậu phác, Trần bì.
Khí hư rõ có thể gia Hoàng kỳ.
Tỳ Thận dương hư
Biểu hiện
Cổ trướng, phù chi dưới, tiểu ít, sợ lạnh, chân tay lạnh, tinh thần uể oải, ăn ít, phân lỏng; lưỡi nhạt to, rêu trắng trơn, mạch trầm nhược.
Bệnh cơ
Tỳ dương không vận hóa, Thận dương không khí hóa, thủy dịch tràn lan.
Phép trị
Ôn bổ Tỳ Thận, hóa khí hành thủy.
Phương thang
Chân Vũ Thang hợp Thực Tỳ Ẩm gia giảm.
Phụ tử chế, Bạch truật, Phục linh, Bạch thược, Sinh khương, Đảng sâm, Trạch tả, Đại phúc bì.
Chú ý
Phụ tử có độc. Người rối loạn nhịp tim, suy thận, hạ kali hoặc đang dùng nhiều thuốc không được tự sử dụng.
Thấp nhiệt uẩn kết
Biểu hiện
Bụng trướng, miệng đắng, vàng da, nước tiểu vàng ít, có thể sốt hoặc đau bụng, lưỡi đỏ, rêu vàng nhớt, mạch hoạt sác.
Bệnh cơ
Thấp nhiệt uẩn ở Can Đởm và Tam tiêu, làm khí cơ, thủy đạo và huyết mạch bị trở ngại.
Phép trị
Thanh nhiệt lợi thấp, sơ Can lợi Đởm.
Phương thang
Nhân Trần Ngũ Linh Tán hoặc Cam Lộ Tiêu Độc Đan gia giảm.
Nhân trần, Hoàng cầm, Chi tử, Hoắc hương, Phục linh, Trư linh, Trạch tả, Uất kim.
Chú ý
Sốt, đau bụng, ấn đau, cổ trướng tăng nhanh hoặc rối loạn ý thức có thể gợi ý nhiễm khuẩn dịch cổ trướng. Người bệnh phải được điều trị tại bệnh viện.
Can Thận âm hư
Biểu hiện
Người gầy, sắc mặt sạm, miệng khô, lòng bàn tay bàn chân nóng, mất ngủ, đau hạ sườn âm ỉ, lưỡi đỏ ít rêu, mạch huyền tế sác.
Bệnh cơ
Bệnh lâu làm Can Thận âm hao, Can lạc mất nuôi dưỡng, huyết ứ còn tồn tại.
Phép trị
Tư dưỡng Can Thận, dưỡng âm, kiêm hoạt huyết hòa lạc.
Phương thang
Nhất Quán Tiễn gia giảm.
Sinh địa, Bắc sa sâm, Mạch môn, Câu kỷ tử, Đương quy, Bạch thược, Uất kim, Đan sâm.
Không nên dùng thuốc dưỡng âm quá nê trệ khi bụng đầy, ăn kém và rêu lưỡi dày nhớt.
Cường lách dưới góc nhìn Trung y
Khái quát
Cường lách trong tăng áp lực tĩnh mạch cửa thường biểu hiện bằng lách to, giảm tiểu cầu, giảm bạch cầu hoặc giảm cả ba dòng tế bào máu.
Trong Trung y, tình trạng lách to có thể thuộc phạm vi “Tích tụ”, “Trưng hà” hoặc “Bĩ khối”. Bệnh cơ chủ yếu là khí trệ, huyết ứ và đàm thấp kết lại ở vùng hạ sườn trái.
Khí trệ huyết ứ
Biểu hiện
Vùng hạ sườn trái đầy tức hoặc đau cố định, lách to và cứng, sắc mặt tối, môi tím, lưỡi tím, mạch sáp.
Phép trị
Hành khí hoạt huyết, nhuyễn kiên tán kết.
Phương thang
Cách Hạ Trục Ứ Thang hoặc Miết Giáp Tiễn Hoàn gia giảm.
Đan sâm, Uất kim, Xích thược, Đương quy, Miết giáp, Mẫu lệ, Chỉ xác.
Chú ý
Giảm tiểu cầu là biểu hiện thường gặp của cường lách. Không nên vì lách to mà tự dùng nhiều thuốc phá huyết, trùng loại hoặc rượu thuốc.
Khí hư huyết ứ
Biểu hiện
Lách to, người mệt mỏi, hơi thở ngắn, sắc mặt nhợt tối, dễ bầm tím, lưỡi nhạt tím, mạch tế sáp.
Phép trị
Ích khí hoạt huyết, thông lạc.
Phương thang
Bổ Dương Hoàn Ngũ Thang gia giảm.
Hoàng kỳ, Đương quy, Xích thược, Xuyên khung, Đan sâm, Kê huyết đằng.
Cần điều chỉnh thuốc hoạt huyết căn cứ tiểu cầu và đông máu.
Xuất huyết do giãn tĩnh mạch thực quản – đáy vị
Nhận thức Trung y
Xuất huyết tiêu hóa trên trong xơ gan thuộc phạm vi “Thổ huyết” 吐血, “Tiện huyết” 便血 và “Huyết chứng”.
Bệnh thường do huyết ứ làm mạch lạc bế tắc, áp lực trong mạch tăng; khi lạc mạch tổn thương, huyết tràn ra ngoài.
Ngoài ra, thấp nhiệt, huyết nhiệt, Tỳ khí hư không nhiếp huyết và khí huyết suy thoát cũng có thể tham gia.
Huyết nhiệt vọng hành
Biểu hiện
Nôn ra máu đỏ tươi, miệng khô, bứt rứt, có thể vàng da, tiểu vàng, lưỡi đỏ, rêu vàng, mạch sác.
Phép trị
Thanh nhiệt lương huyết, chỉ huyết.
Phương thang
Tê Giác Địa Hoàng Thang gia giảm.
Thủy ngưu giác, Sinh địa, Xích thược, Đan bì, Bạch mao căn, Trắc bá diệp.
Chú ý
Nôn ra máu trong xơ gan là cấp cứu. Không được chờ thuốc sắc phát huy tác dụng.
Khí không nhiếp huyết
Biểu hiện
Xuất huyết kéo dài hoặc tái diễn, máu màu sẫm, người mệt lả, sắc mặt nhợt, hơi thở ngắn, tự ra mồ hôi, lưỡi nhạt, mạch tế nhược.
Bệnh cơ
Tỳ khí hư, không thống nhiếp huyết trong mạch.
Phép trị
Ích khí nhiếp huyết, kiện Tỳ.
Phương thang
Quy Tỳ Thang gia giảm.
Hoàng kỳ, Đảng sâm, Bạch truật, Phục linh, Đương quy, Bạch thược, Long nhãn nhục, Toan táo nhân.
Phương này chỉ thích hợp trong giai đoạn ổn định sau khi đã cầm máu, không dùng thay điều trị cấp cứu.
Khí tùy huyết thoát
Biểu hiện
Xuất huyết nhiều, sắc mặt trắng bệch, tay chân lạnh, vã mồ hôi, thở yếu, huyết áp giảm, ý thức mơ hồ, mạch vi muốn tuyệt.
Bệnh cơ
Huyết mất quá nhiều, khí theo huyết mà thoát.
Phép trị
Ích khí cố thoát là nguyên tắc lý luận, nhưng thực tế phải hồi sức, truyền máu và cầm máu khẩn cấp.
Không được chỉ dùng Độc Sâm Thang hoặc thuốc bổ khí để xử trí tại nhà.
Những điều tuyệt đối không làm khi xuất huyết
Không cho người bệnh tự đi lại.
Không cho ăn uống khi đang nôn ra máu.
Không tự dùng Đại hoàng, Đào nhân, Hồng hoa, Tam lăng, Nga truật hoặc thuốc trục thủy.
Không chườm nóng, xoa bóp hoặc ấn vùng gan, lách và bụng.
Không tự đặt ống, rửa dạ dày hoặc dùng các dung dịch cầm máu dân gian.
Không trì hoãn gọi cấp cứu.
Trung y sau nội soi hoặc phẫu thuật
Nguyên tắc chung
Sau nội soi cầm máu, thắt tĩnh mạch, TIPS, gây tắc lách hoặc phẫu thuật, cơ thể thường ở tình trạng chính khí suy, khí huyết tổn thương, huyết ứ và nhiệt độc có thể còn lưu.
Điều trị Trung y chỉ nên thực hiện khi người bệnh đã ổn định và có sự phối hợp với bác sĩ điều trị.
Khí huyết lưỡng hư
Biểu hiện
Mệt mỏi, sắc mặt nhợt, ăn ít, chóng mặt, hồi hộp, lưỡi nhạt, mạch tế nhược.
Phép trị
Ích khí dưỡng huyết, kiện Tỳ.
Phương thang
Bát Trân Thang hoặc Quy Tỳ Thang gia giảm.
Đảng sâm, Bạch truật, Phục linh, Đương quy, Bạch thược, Thục địa, Hoàng kỳ.
Thấp nhiệt hoặc nhiễm khuẩn còn rõ thì không nên dùng thuốc bổ nê trệ quá sớm.
Ứ huyết sau thủ thuật
Biểu hiện
Đau vùng can thiệp, sắc mặt tối, lưỡi tím, đau cố định nhưng không có dấu hiệu xuất huyết đang hoạt động.
Phép trị
Hoạt huyết hòa lạc với mức độ nhẹ.
Có thể cân nhắc Đan sâm, Uất kim, Kê huyết đằng với liều phù hợp sau khi xác nhận đông máu và tiểu cầu ổn định.
Sốt sau cắt lách
Sốt sau cắt lách có thể do phản ứng hấp thu, máu tụ, viêm tắc tĩnh mạch, tổn thương tụy, tràn dịch hoặc nhiễm khuẩn.
Trung y có thể phân thành nhiệt độc, thấp nhiệt, ứ nhiệt hoặc khí âm lưỡng thương, nhưng trước hết phải tìm nguyên nhân.
Thấp nhiệt hoặc nhiệt độc
Biểu hiện
Sốt, miệng khô hoặc đắng, bụng đầy, vết mổ đau đỏ, rêu lưỡi vàng nhớt, mạch sác.
Phép trị
Thanh nhiệt giải độc, hóa thấp.
Có thể tham khảo Hoàng Liên Giải Độc Thang hoặc Cam Lộ Tiêu Độc Đan gia giảm sau khi đã loại trừ và điều trị ổ nhiễm khuẩn.
Khí âm lưỡng thương
Biểu hiện
Sốt kéo dài sau mổ, mệt mỏi, hơi thở ngắn, miệng khô, tự ra mồ hôi, lưỡi đỏ nhạt ít rêu, mạch tế sác.
Phép trị
Ích khí dưỡng âm, sinh tân.
Phương thang
Sinh Mạch Tán gia giảm.
Chú ý
Áp-xe dưới cơ hoành, nhiễm khuẩn huyết, rò tụy hoặc tràn dịch màng phổi không thể điều trị chỉ bằng Trung dược.
Vai trò của Đan sâm
Đan sâm có công năng hoạt huyết hóa ứ, lương huyết, thông lạc.
Trong bệnh gan mạn, vị thuốc thường được dùng khi có huyết ứ, gan lách to, đau hạ sườn cố định hoặc vi tuần hoàn không thuận.
Không nên khẳng định Đan sâm trực tiếp làm giảm áp lực tĩnh mạch cửa ở mọi người bệnh. Tác dụng lâm sàng phụ thuộc nguyên nhân, mức độ xơ gan và phối hợp điều trị.
Đan sâm có thể làm tăng nguy cơ xuất huyết khi phối hợp với thuốc chống đông, thuốc chống kết tập tiểu cầu hoặc khi người bệnh giảm tiểu cầu nặng.
Nguyên tắc điều dưỡng
Phòng xuất huyết
Tuân thủ lịch nội soi và điều trị dự phòng.
Không tự ngừng thuốc làm giảm áp lực tĩnh mạch cửa.
Tránh táo bón và rặn mạnh.
Không mang vác nặng hoặc vận động làm tăng áp lực ổ bụng quá mức.
Không uống rượu.
Chế độ ăn
Ăn thức ăn mềm, dễ nhai và dễ nuốt khi có giãn tĩnh mạch thực quản.
Không cần kiêng hoàn toàn chất xơ, nhưng nên tránh thực phẩm quá cứng, sắc nhọn hoặc khó nhai.
Chia nhỏ bữa ăn.
Ăn đủ protein và năng lượng căn cứ chức năng gan và tình trạng bệnh não gan.
Hạn chế muối khi có cổ trướng hoặc phù.
Tránh thực phẩm sống, tái khi sức đề kháng suy giảm.
Phòng táo bón
Táo bón làm tăng áp lực ổ bụng và có thể thúc đẩy bệnh não gan.
Nên uống nước theo hướng dẫn, vận động nhẹ, ăn rau quả mềm và dùng thuốc nhuận tràng khi được chỉ định.
Không tự dùng thuốc tẩy xổ mạnh.
Theo dõi cường lách
Định kỳ kiểm tra công thức máu.
Chú ý bầm tím, chảy máu chân răng, chảy máu mũi, sốt hoặc nhiễm khuẩn tái diễn.
Không tham gia hoạt động có nguy cơ va đập vùng hạ sườn trái khi lách to.
Theo dõi bệnh não gan
Quan sát thay đổi giấc ngủ, tính tình, chữ viết, khả năng tập trung, run vẫy bàn tay và mức độ tỉnh táo.
Rối loạn ý thức sau TIPS hoặc xuất huyết tiêu hóa cần được đánh giá ngay.
Dấu hiệu cần cấp cứu
Nôn ra máu đỏ tươi hoặc máu sẫm.
Đại tiện phân đen, đỏ tím hoặc ra máu.
Chóng mặt, ngất, vã mồ hôi lạnh.
Tim đập nhanh, huyết áp giảm.
Bụng trướng tăng nhanh.
Đau bụng dữ dội.
Sốt hoặc rét run.
Tiểu ít.
Ngủ gà, nói sảng hoặc thay đổi hành vi.
Đau hạ sườn trái đột ngột ở người có lách to.
Kết luận
Theo Trung y, tăng áp lực tĩnh mạch cửa do xơ gan liên quan mật thiết đến Can khí uất trệ, huyết ứ trở lạc, Tỳ hư thấp tụ và Tỳ Thận dương hư. Trong đó, huyết ứ là bệnh cơ nổi bật, nhưng không thể chỉ dùng hoạt huyết hóa ứ cho mọi trường hợp.
Điều trị cần căn cứ từng giai đoạn để phối hợp sơ Can, kiện Tỳ, hoạt huyết, nhuyễn kiên, lợi thủy, dưỡng âm hoặc ôn dương. Khi có xuất huyết, nhiễm khuẩn, bệnh não gan hoặc suy thận, điều trị cấp cứu và can thiệp chuyên khoa giữ vai trò quyết định.
Nói tóm lại, Trung y có thể hỗ trợ điều hòa khí huyết, cải thiện ăn uống, thể lực và một số triệu chứng sau khi tình trạng đã ổn định. Trung dược không thể thay thế nội soi cầm máu, thuốc giảm áp lực tĩnh mạch cửa, TIPS, phẫu thuật hoặc ghép gan khi có chỉ định.
Trường Xuân biên soạn