Bệnh da liễu thường xuất hiện ở bề mặt cơ thể, rất dễ quan sát và cũng dễ khiến con người chú ý đến.
Trong chuyên mục này, người viết chủ yếu giới thiệu về các bệnh da liễu và kiến thức chẩn đoán – điều trị. Tất nhiên, kiến thức về bảo vệ da, làm đẹp da cũng được nhắc đến khá nhiều. Đối với hành vi xăm hình (tattoo) – vốn gây nhiều tranh cãi – chuyên mục này cũng có cuộc thảo luận chuyên đề.
Người ta thường có một nỗi sợ khó hiểu về các bệnh da liễu. Một khi phát hiện ra tổn thương trên da, họ thường có những liên tưởng không cần thiết. Thực ra, những biến đổi trên da không phải lúc nào cũng là bệnh da liễu; rất nhiều trường hợp là phản ứng của da với các bệnh lý khác. Điều quan trọng là phải chẩn đoán phân biệt.
Mục đích xây dựng chuyên mục này cũng giống như chuyên mục “Phòng chống bệnh hoa liễu” do người viết chủ trì, chỉ nhằm giúp mọi người loại bỏ những lo lắng không đáng có, có hiểu biết bước đầu về tình trạng bệnh của mình, phối hợp tích cực với việc điều trị, đồng thời tránh các hình thức lừa đảo trong y tế. Chuyên mục này có tham khảo nhiều tài liệu từ các trang web khác, xin được gửi lời cảm ơn đến họ.
Theo các tài liệu được phát hiện cho đến nay, những ghi chép sớm nhất trên thế giới về bệnh da liễu có niên đại khoảng hơn 3000 năm trước. Tại Trung Quốc, tài liệu cổ sớm nhất về bệnh da liễu có thể là phần ghi chép về “ghẻ” (疥) trong Giáp cốt văn khai quật ở An Dương (thế kỷ 14 TCN). Sau đó, trong “Chu Lễ”, “Tiêu Dao Du” của Trang Tử, “Hoàng Đế Nội Kinh”… cũng đều có những ghi chép về bệnh da liễu. Mặc dù y học về bệnh da liễu ở Trung Quốc phát triển khá sớm, nhưng do trong thời gian dài đóng cửa với thế giới, da liễu học trong nước hầu hết chỉ kế thừa truyền thống cũ, ít có sáng tạo mới. Mãi cho đến trước khi thành lập nước Cộng hòa Nhân dân Trung Hoa, số bác sĩ da liễu ở Trung Quốc còn rất ít, nền tảng da liễu học cũng rất kém. Sau khi lập quốc, nhờ sự quan tâm của Nhà nước, số lượng các trường đại học y khoa ngày một tăng, và lần lượt thành lập các khoa Da liễu, từ đó da liễu học mới phát triển nhanh chóng.
Xu hướng phát triển của bệnh da liễu
Phân loại các bệnh da liễu
①Nhóm viêm da – chàm (eczema) các loại: Viêm da do phóng xạ (radiation dermatitis), viêm da dị ứng (allergic dermatitis), viêm da do ánh nắng (sun dermatitis), viêm da tiếp xúc (contact dermatitis), viêm da tiết bã (seborrheic dermatitis), viêm da do côn trùng đốt, viêm da thần kinh, viêm da do cát bụi, chàm, viêm da dạng herpes (dermatitis herpetiformis), viêm da quanh miệng, viêm da ứ đọng, viêm da ở ruộng lúa (rice field dermatitis), viêm da do thuốc, viêm da do mỹ phẩm…
②Nhóm bệnh do virus: Các loại mụn cóc, zona (herpes zoster), herpes simplex (mụn rộp đơn giản), tổ đỉa (dyshidrosis, còn gọi là “sweat blisters”), sởi, ban đỏ truyền nhiễm, viêm da sẩn dạng phát ban ở tứ chi trẻ nhỏ, tổn thương dạng thủy đậu Kaposi, rubella, ban xuất hiện đột ngột ở trẻ nhỏ…
③Nhóm rối loạn sắc tố và các loại bớt, đốm: Các bệnh da giảm sắc tố: Lang ben (pityriasis versicolor), vảy phấn trắng (pityriasis alba), bạch biến (vitiligo), bạch tạng (albinism), piebaldism (bạch tạng từng vùng)…
Tàn nhang, ban xuất huyết, nốt ruồi (nevus), nốt ruồi hình nhện (spider angioma), nám (melasma), ban đa dạng (erythema multiforme, còn gọi là “mèo mắt”), ban đỏ do nhiệt, nốt ruồi sắc tố (pigmented nevus), bớt Ota, đồi mồi (lentigines, “lão niên hắc斑”), nốt ruồi kiểu vòng (halo nevus), bạch sản niêm mạc…
④Nhóm bệnh do nấm: Nấm da (ringworm, tinea), nấm móng (onychomycosis), nấm da tay (tinea manuum, “鹅掌风”), nấm da mèo, nấm da chân (tinea pedis), “桃花癣”, aspergillosis (bệnh do nấm mốc Aspergillus), chromoblastomycosis (bệnh do nấm thể bào tử màu), cryptococcosis (nhiễm nấm Cryptococcus), nấm da gây phản ứng (dermatophytid), nấm da đầu, nấm da thân (tinea corporis, bao gồm cả nấm bẹn), nấm chân, nấm “叠瓦” (một dạng tinea), candidiasis (nhiễm nấm Candida)…
⑤Nhóm khối u da:U mạ ch da (angioma), ung thư biểu mô vảy (squamous cell carcinoma), các khối u da lành tính thường gặp, mụn cóc tuổi già (seborrheic keratosis), u sợi thần kinh (neurofibroma), bớt biểu bì (epidermal nevus), ung thư da tế bào vảy (squamous cell carcinoma), sừng da (cutaneous horn), u biểu mô nang lông (trichoepithelioma), u tuyến bã (sebaceous adenoma), nốt ruồi đầu đen (comedo nevus), u tuyến mồ hôi (syringoma), u xơ da (dermatofibroma), u mạch, u cơ trơn, di căn ung thư đến da, bớt rượu vang (port-wine stain), u bạch mạch (lymphangioma), u xương da (osteoma cutis), u hắc tố ác tính (melanoma), nốt ruồi tiền ung thư kiểu tàn nhang ác tính, mycosis fungoides (bệnh nấm dạng nấm, một dạng u lympho ở da), ung thư da, melanoma, u bã (sebaceous cyst, hay còn gọi là “粉瘤”), “恶组” (nhóm ác tính?), “蕈样肉芽肿” (một dạng mycosis fungoides), eczema-like carcinoma (ung thư da dạng chàm)…
⑥Nhóm ký sinh trùng, côn trùng, bệnh da do động vật: Bệnh da do Leishmania (kalazar), bệnh da do amip, bệnh da do nang sán (hydatid), bệnh sán máu, bệnh da do sán lá phổi, viêm da do giun móc, vết đốt rết, vết chích nhện, bệnh chấy (pediculosis), vết đâm gai cá độc, vết cắn rắn độc, vết đốt bọ chét, vết chích ve, “匐行疹” (một dạng ấu trùng di chuyển dưới da?), bệnh giun chỉ da, vết đốt ong, vết chích bọ cạp, viêm da do lông tằm, viêm da do kiến ba khoang, viêm da do sứa, muỗi đốt…
⑦Nhóm liên quan đến tóc, móng: Đa mao (hypertrichosis), rụng tóc (alopecia), rụng tóc do tiết bã, nấm lông nách, tiết bã nhờn quá mức, hói từng vùng (alopecia areata), bạc tóc ở người già, tóc bạc do căng thẳng, tóc bạc sớm, viêm nang lông phễu, viêm quanh nang lông thể áp-xe hóa (perifolliculitis abscedens et suffodiens), loạn dưỡng móng (nail dystrophy), móng lõm (koilonychia), móng chẻ dọc, móng phân lớp, móng giòn, rãnh ngang móng, móng dày (onychauxis), móng cuộn (ingrowing nail), bong móng (onycholysis), móng dùi trống, móng chấm, chấn thương móng, sưng đau quanh móng, thói quen cắn móng tay…
⑧Nhóm bệnh da di truyền: Bệnh mất sắc tố do bất năng (incontinentia pigmenti), da rắn (ichthyosis, còn gọi là “cá sấu” hay “cá”), v.v.
⑨Khác: Mũi đỏ (rosacea), mụn trứng cá (acne), nhọt nhiều chỗ (furunculosis), hiện tượng tróc da tay chân, ngứa ở người già, ngứa da khi mang thai, bệnh Kawasaki (hội chứng sốt cấp tính kèm tổn thương da và niêm mạc hạch bạch huyết), mycetoma (bàn chân Madura), chứng không ra mồ hôi, mẩn ngứa mùa hè, chai chân (callus), cước (chilblains), ban đa dạng do ánh sáng (polymorphous light eruption), loét do tì đè (bedsore), hôi nách, hôi chân, lupus ban đỏ hệ thống, ban do thuốc, viêm môi (cheilitis), mụn thịt kê (milia), u da nhỏ (skin tag), sẹo (scar), chứng teo da, chứng da nhão dạng u hạt…
Bệnh da liễu do rối loạn chức năng thần kinh: ngứa (pruritus), viêm da thần kinh (neurodermatitis), prurigo (chứng sẩn ngứa), ngứa thai kỳ, loét xuyên chân (perforating ulcer)…
Các bệnh đỏ da, sẩn, da có vảy: ban đỏ dạng sốt tinh hồng nhiệt, vảy nến (psoriasis), hồng ban lá mía (pityriasis rosea), vảy phấn trắng (pityriasis alba), viêm da tróc vảy (exfoliative dermatitis)…
Cũng giống như các bệnh khác, nguyên nhân gây bệnh da liễu bao gồm yếu tố bên ngoài và yếu tố bên trong.
Bệnh da do virus chiếm một tỉ lệ lớn trong các bệnh da liễu, như herpes simplex, thủy đậu (varicella), zona (herpes zoster), molluscum contagiosum (u mềm lây), sởi, rubella… đều là những bệnh da phổ biến, thường gặp trên lâm sàng.
Nhiều bệnh da cũng liên quan mật thiết đến giới tính và độ tuổi. Một số bệnh da hay gặp ở phụ nữ. Một số khác thì phổ biến ở trẻ em, thanh niên hay người già.
Chẩn đoán
Vitamin và bệnh da || Điều gì quyết định màu da trắng hay đen
Điều trị bệnh da có thể gây tổn thương gan || Móng đổi màu báo hiệu sức khỏe || Mối quan hệ giữa tóc và sức khỏe
Trong lâm sàng, có nhiều bệnh da cần điều chỉnh chế độ ăn (kiêng khem). Như eczema, mề đay, viêm da cơ địa, viêm da thần kinh, vảy nến, hồng ban lá mía, lichen phẳng, đỏ da toàn thân, viêm da tiết bã… Đây đều là các bệnh thường gặp, có mối liên quan vô cùng chặt chẽ với chế độ ăn. Ăn các thức ăn có tính kích thích hoặc thức ăn “phát” có thể làm bệnh nặng hơn. Do đó, đối với những bệnh nhân có yếu tố dị ứng thức ăn, trong thời gian phát bệnh hoặc sau khi khỏi, cần hạn chế hoặc tránh ăn cá, tôm, cua, cừu… (thực phẩm tanh), thịt gà – vịt – ngỗng (gia cầm), cũng như hành, gừng, tỏi, ớt, rau mùi, rượu và đồ chiên rán khó tiêu…
Lợi và hại khi tự mua thuốc bôi da để chữa bệnh da liễu
Do đó, khi da xuất hiện tổn thương, tốt nhất bệnh nhân nên đến bệnh viện khám; dùng thuốc dưới sự hướng dẫn của bác sĩ thì an toàn hơn.
Theo tin của Quang Minh Nhật Báo (Guangming Daily):
Mới đây, các nhà khoa học Pháp, Đức và Thụy Sĩ đã nghiên cứu thành công một loại da tổng hợp gọi là Episkin (da biểu bì). Được cho là loại da nhân tạo tiên tiến nhất trên thế giới hiện nay, nó có thể được dùng phổ biến trong các ca phẫu thuật ghép da. Trước đây, muốn ghép da, người ta phải lấy một mảng da khỏe mạnh từ chính bệnh nhân ghép lên chỗ tổn thương. Mảng da này sẽ dần dần phát triển và cuối cùng bao phủ toàn bộ vết thương. Phương pháp này chỉ phù hợp với bệnh nhân bỏng nhẹ. Episkin là da tổng hợp có “tính sống”, có thể liên tục phát triển như da thật, có thể sạm đi khi tiếp xúc với ánh nắng, biểu hiện rõ sự lão hóa dần dần, thậm chí có thể cho thấy nét giận dữ của con người. Dựa trên đặc điểm màu da khác nhau của các chủng tộc, các nhà khoa học đã tạo ra nhiều loại Episkin với các màu da khác nhau: từ da sáng của người châu Âu, da vàng nâu của người châu Á đến da đen của người châu Phi.
Ly Nguyễn Nghị dịch