CHÂM CỨU TRỊ TÁO BÓN. 针灸治便秘*.
*(Trích từ tài liệu tham khảo: “Trung y luận táo bón”)
- Có thể dùng châm cứu để chữa táo bón không? Cơ chế điều trị là gì?
Châm cứu có thể điều trị táo bón. Ngay từ các sách cổ như Nội Kinh, Linh Khu – Tạp Bệnh đã ghi lại cách chữa:
- “Bụng đầy, đại tiện không thông… châm Túc Thiếu Âm”,
- “Bụng đầy, ăn không tiêu, bụng réo, không đi ngoài được, châm Túc Thái Âm”,
- “Tâm thống, bụng trướng, co rút (sắc sắc), đại tiện không thông, châm Túc Thái Âm”…
Về sau, các tài liệu Châm Cứu Giáp Ất Kinh, Châm Cứu Đại Thành… cũng ghi chép khá nhiều, đúc kết kinh nghiệm phong phú.
Về bệnh sinh, táo bón thường do bốn nhóm nguyên nhân – cơ chế chính:
- Nhiệt tích ở trường vị (tích nhiệt đường ruột)
- Khí cơ uất trệ
- Khí huyết, tân dịch suy hư
- Âm hàn ngưng trệ
Dựa vào đó mà lựa chọn huyệt vị, thủ pháp châm cứu thích hợp để đạt các tác dụng: thông phủ tả nhiệt, hành khí đạo trệ, ích khí dưỡng huyết, tư âm nhuận tràng, ôn dương khai kết…
Ví dụ:
- Dùng phép tả châm Thiên Khu để sơ tiết khí Dương Minh, thông tích đạo trệ.
- Châm Đại Trường Du bằng tả hoặc bổ – tả quân bình để điều lý khí cơ đại tràng, nhuận táo thông tiện.
- Châm Hợp Cốc, Khúc Trì để thanh tiết thực nhiệt ở đại tràng.
- Dùng phép bổ châm Chiếu Hải để tư âm sinh tân…
- Châm cứu thế nào với táo bón thể “nhiệt bí” (nhiệt kết ở ruột)?
Nhiệt bí do nhiệt kết ở phủ, nên điều trị chủ yếu theo hướng thông phủ tả nhiệt. Thường chọn huyệt Thiên Khu, Đại Trường Du, Đại Hoành, Nội Đình. Nếu bệnh nhân có sốt, thêm Khúc Trì, Hợp Cốc; Nếu nhiệt mạnh làm hao tân dịch, thêm Chiếu Hải.
- Thiên Khu là mộ huyệt của đại tràng, châm vào giúp sơ tiết khí dương minh, thông tích đạo trệ;
- Đại Trường Du (du huyệt lưng của đại tràng) giúp điều lý khí cơ đại tràng, nhuận táo thông tiện;
- Đại Hoành nằm ở khu vực đường đi của đại tràng, nơi hội của kinh Tỳ và mạch Âm Duy, phối hợp Thiên Khu để trị đau quanh rốn, phối Đại Trường Du để trục ứ thông kết;
- Nội Đình (huỳnh huyệt của kinh Vị) để thanh thực nhiệt dương minh.
Nếu kèm phát sốt, vì gốc nhiệt xuất phát từ dương minh, nên thêm châm tả Hợp Cốc, Khúc Trì (huyệt hợp của tay Dương Minh) để thanh tiết thực nhiệt đại tràng, đồng thời bổ Chiếu Hải (huyệt thuộc kinh Thận) để tư âm sinh tân.
- Thủ pháp:
- Các huyệt Thiên Khu, Đại Trường Du, Đại Hoành, Nội Đình, Khúc Trì, Hợp Cốc đều dùng phép tả, châm giữ kim gián đoạn khoảng 10 phút.
- Nếu nhiệt quá mạnh làm hao tổn tân dịch, thêm Chiếu Hải, dùng phép bổ.
- Châm cứu thế nào với táo bón thể “khí bí” (khí trệ)?
Khí bí do khí cơ uất trệ, phủ khí không thông, nên trị chủ yếu theo hướng thuận khí đạo trệ. Thường chọn các huyệt Khí Hải, Thiên Khu, Thái Xung, Chi Câu (Chi Câu = Chi Câu huyệt, còn gọi là Chi Khê – có dị bản gọi là Chi Giao, cần xác minh, ở đây nguyên văn là 支沟, tức “Chi Câu”, huyệt kinh Tam Tiêu).
- Nếu bệnh nhân ợ hơi nhiều, thêm Trung Quản, Túc Tam Lý.
- Nếu ho, khí nghịch lên, thêm Đản Trung, Liệt Khuyết.
Lý do lựa chọn:
- Thái Xung (huyệt thuộc Can kinh) để sơ can giải uất;
- Thiên Khu (mộ huyệt đại tràng) phối Khí Hải giúp điều lý khí ở đại tràng, thúc đẩy đào thải cặn bã;
- Chi Câu (huyệt kinh Tam Tiêu) giúp điều Tam Tiêu, đẩy tích trệ, thông tiện.
- Người hay ợ hơi, thêm Trung Quản để hòa Vị giáng trọc, Túc Tam Lý để tiêu tích, thông suốt trung tiêu.
- Người có biểu hiện ho ngược, thêm Đản Trung (hội của khí), Liệt Khuyết (lạc của kinh Phế, liên hệ đại tràng) để tuyên phế thông ruột.
- Thủ pháp:
- Các huyệt trên đều dùng phép tả mạnh, châm giữ kim gián đoạn khoảng 10 phút.
- Châm cứu thế nào với táo bón thể “hư bí” (hư chứng)?
Hư bí gồm ba loại chính: khí hư, huyết hư và âm hư. Cách chọn huyệt và thủ pháp châm khác nhau:
4.1. Khí hư tiện bí
Chủ yếu bổ ích khí, nhuận trường. Chọn huyệt Phế Du, Tỳ Du, Khí Hải, Phúc Kết, Thiên Khu, Túc Tam Lý…
- Phế Du, Tỳ Du, Khí Hải dùng phép bổ kèm cứu ấm, nhằm tăng cường khí Phế – Tỳ, cải thiện vận hóa trung tiêu.
- Phối hợp với Phúc Kết, Thiên Khu, Túc Tam Lý dùng phép tả mạnh để điều vận tỳ, thăng giáng, khai thông phủ, đẩy ứ trệ. Như vậy “bổ bên trong có tả, làm ấm bên trong có tán”, tránh bồi bổ quá mức gây ứ đọng, mà vẫn không tổn hại chính khí.
Trường hợp khí hư hạ hãm gây sa trực tràng, hoặc có cảm giác đè nặng (hậu trọng), thêm Bách Hội, Trường Cường, châm kèm châm cứu tịnh dụng (moxibustion) để nâng khí, cố sáp.
- Thủ pháp:
- Phế Du, Tỳ Du, Khí Hải dùng bổ, lưu kim 15 phút, trong thời gian lưu kim có thể dùng điếu ngải ấm.
- Phúc Kết, Thiên Khu, Túc Tam Lý tả mạnh, lưu kim gián đoạn 10 phút.
- Trường hợp sa trực tràng, châm Bách Hội, Trường Cường đều dùng bổ, kèm cứu.
4.2. Huyết hư tiện bí
Chủ yếu bổ huyết, dưỡng huyết, nhuận táo. Chọn huyệt Tỳ Du, Cách Du, Thiên Khu, Chi Câu (hoặc Chỉ Câu, huyệt kinh Tam Tiêu), Túc Tam Lý, Chiếu Hải. Nếu huyết hư kèm nhiệt, thêm Nội Quan, Tam Âm Giao.
- Tỳ Du phối Túc Tam Lý để kiện Tỳ Vị, sinh khí huyết.
- Cách Du (huyệt Hội của huyết) – khi bổ thì sinh huyết dưỡng huyết, khi tả thì hoạt huyết, khứ ứ. Kết hợp Tỳ Du giúp tăng cường tạo huyết.
- Chiếu Hải thuộc kinh Thận, châm bổ để tư âm nhuận tràng.
- Chi Câu, Thiên Khu dùng phép tả để thông tam tiêu, khai thông khí phủ, nhờ đó “tiêu – bản” cùng trị, vừa dưỡng huyết nhuận táo, vừa thông phủ đạo trệ.
- Nếu huyết hư kèm nhiệt, miệng khô, bồn chồn, thêm Nội Quan, Tam Âm Giao (dùng phép bổ) để dưỡng âm giáng hỏa, thanh nhiệt trừ phiền.
- Thủ pháp:
- Tỳ Du, Cách Du, Chiếu Hải, Túc Tam Lý dùng phép bổ, lưu kim 15 phút, có thể thêm cứu ấm (trừ khi có nhiệt).
- Thiên Khu, Chi Câu tả mạnh, lưu kim gián đoạn 10 phút.
- Nếu huyết hư kèm nhiệt, không dùng cứu, bổ Nội Quan, Tam Âm Giao.
4.3. Âm hư tiện bí
Chủ yếu tư âm, sinh tân, nhuận tràng. Thường chọn Đại Trường Du, Thượng Cự Hư, Liệt Khuyết, Chiếu Hải, Thừa Sơn.
- Liệt Khuyết phối Chiếu Hải để sinh tân, nhuận táo.
- Đại Trường Du, Thượng Cự Hư (huyệt dưới Cự Hư của kinh Vị) châm tả, giúp điều chỉnh tràng vị, thông phủ hành trệ.
- Kết hợp Thừa Sơn (kinh Bàng Quang) dùng tả mạnh để tăng tác dụng trục ứ, thông tiện.
- Thủ pháp:
- Liệt Khuyết, Chiếu Hải bổ, lưu kim 15 phút.
- Đại Trường Du, Thượng Cự Hư, Thừa Sơn tả mạnh.
- Châm cứu thế nào với táo bón thể “hàn bí” (lạnh kết)?
Hàn bí do thận dương bất túc, âm hàn kết tụ. Nên chọn Thận Du, Khí Hải, Quan Nguyên, Đại Hoành, Tam Âm Giao để ôn bổ thận dương, khu trừ hàn ứ.
- Thận Du, Quan Nguyên châm bổ kèm moxibustion, ấm thận dương, tán hàn.
- Tam Âm Giao châm bổ kèm cứu, ôn thông dương khí ba kinh âm, làm tan kết, thông đại tiện.
- Khí Hải, Đại Hoành “tiên bổ hậu tả”, điều khí cơ ruột, hành khí trừ trệ.
- Tổ hợp huyệt có cả “châm hành dương” và “cứu bổ hỏa”, giúp dương thận hồi phục, khí hóa mạnh, táo bón hết, tiểu rắt cũng khỏi.
- Thủ pháp:
- Thận Du, Khí Hải, Quan Nguyên, Tam Âm Giao dùng phép bổ, lưu kim, đồng thời gia cứu ấm.
- Khí Hải, Đại Hoành “tiên bổ hậu tả”, lưu kim có thể thêm cứu.
- Trị táo bón bằng “thủy châm” (tiêm thuốc vào huyệt) ra sao?
Thủy châm (còn gọi “thủy châm liệu pháp”) là cách dùng kim tiêm đặt vào huyệt như châm cứu, sau khi đạt đắc khí sẽ bơm một lượng thuốc vừa đủ vào huyệt, phối hợp 3 yếu tố: huyệt vị, châm thích và dược chất, để tăng hiệu quả điều trị.
Hiện nay, lâm sàng thường dùng các loại thuốc tiêm Đông dược (như đương quy, xuyên khung, hồng hoa, hoàng kỳ…) hoặc vitamin B1, B12, procaine, ATP, coenzym A, kháng sinh…. Liều rất nhỏ nhưng hiệu quả tương đương tiêm bắp liều lớn, vừa tạo kích thích huyệt vị đặc hiệu, vừa giúp thuốc thấm qua đường kinh lạc – huyệt, giảm lượng thuốc và tăng hiệu quả.
Điều trị táo bón bằng thủy châm thường chọn huyệt Xích Trạch, Thượng Cự Hư, Thần Môn, dùng nước muối sinh lý hoặc vitamin B1… Thao tác theo quy trình tiêm thường quy. Tại Xích Trạch, Thượng Cự Hư, mỗi huyệt bơm 4–6 ml nước muối sinh lý; Thần Môn bơm 1–2 ml. Nếu dùng vitamin B1, thì mỗi huyệt khoảng 0,5 ml. Tiêm hằng ngày hoặc cách ngày.
- Dùng “chôn chỉ” (cấy chỉ) điều trị táo bón thế nào?
Chọn huyệt Cự Hư, Đại Trường Du, Thiên Khu, ở một số bệnh nhân thêm Túc Tam Lý, Tam Âm Giao. Dùng kim chọc sống lưng số 9 (loại kim chọc ống lưng) để đưa chỉ catgut (chỉ tự tiêu) cỡ 0 ở độ dài 2 cm cấy vào huyệt theo chiều thẳng đứng. Khoảng 15–30 ngày lặp lại một lần, thông thường điều trị 1–8 lần.
- Dùng “chôn kim dưới da” và Mai Hoa Châm thế nào để chữa táo bón?
- Chôn kim dưới da (da châm)
- Thường chọn huyệt Can Du, Đởm Du, Thông Lý, Quyết Âm Du, Thiên Khu, hoặc các chỗ gian cột sống từ đốt ngực 5–6…
- Dùng loại kim nhỏ cỡ hạt lúa mạch, đâm chếch dưới da 0,5–1 cm, để ngoài một đoạn kim, dùng băng dán cố định 2–3 ngày. Trong thời gian lưu kim, bệnh nhân mỗi ngày ấn vào kim vài lần. Phương pháp này phải do thầy thuốc thực hiện.
- Mai Hoa Châm
- Chọn vùng thắt lưng – xương cùng, bụng dưới, nhất là đập vào vùng xương cùng hoặc hai bên từ D10 đến L2 có điểm đau hay dây chằng căng cứng.
- Dùng Mai Hoa Châm gõ tác động mạnh (trọng độ kích thích).
Các kỹ thuật này đều giúp tăng cường chức năng khí hóa, lưu thông kinh lạc, hỗ trợ trị táo bón.
Ly Trường Xuân dịch