高血压
Khái quát
Tăng huyết áp là tình trạng áp lực của máu trong hệ động mạch tăng kéo dài. Đây là một trong những yếu tố nguy cơ quan trọng nhất của đột quỵ, bệnh mạch vành, suy tim, bệnh Thận mạn, bệnh động mạch ngoại biên và tổn thương mắt.
Bệnh thường tiến triển âm thầm. Nhiều người có huyết áp cao trong nhiều năm nhưng không cảm thấy khó chịu, chỉ được phát hiện khi đo huyết áp hoặc khi đã xuất hiện tổn thương Tâm, não, Thận và mạch máu.
Tăng huyết áp không nên được chẩn đoán chỉ từ một lần đo, trừ trường hợp huyết áp rất cao kèm dấu hiệu tổn thương cơ quan cấp tính. Thông thường cần đo đúng kỹ thuật vào nhiều thời điểm, kết hợp đo huyết áp tại nhà hoặc theo dõi huyết áp lưu động khi cần thiết.
Phân loại
Tăng huyết áp nguyên phát
Đây là dạng thường gặp nhất, không xác định được một nguyên nhân duy nhất. Bệnh hình thành do sự kết hợp của di truyền, tuổi tác, ăn nhiều muối, thừa cân, ít vận động, uống nhiều rượu, hút thuốc, căng thẳng, rối loạn chuyển hóa và nhiều yếu tố khác.
Tăng huyết áp thứ phát
Huyết áp tăng do một bệnh hoặc yếu tố xác định như bệnh Thận, hẹp động mạch Thận, cường aldosterone, u tủy thượng thận, bệnh tuyến giáp, ngưng thở khi ngủ, thai kỳ hoặc tác dụng của thuốc.
Khi điều trị tăng huyết áp thứ phát, cần đồng thời xử lý bệnh căn nguyên.
Nguyên nhân và yếu tố nguy cơ
Yếu tố liên quan: Tuổi cao, tiền sử gia đình, ăn nhiều muối, thừa cân hoặc béo phì, ít vận động, hút thuốc, uống nhiều rượu, thiếu ngủ, ngưng thở khi ngủ, căng thẳng kéo dài, đái tháo đường, rối loạn lipid máu, bệnh Thận và một số thuốc.
Di truyền
Người có cha mẹ hoặc anh chị em mắc tăng huyết áp có nguy cơ cao hơn, nhưng di truyền không có nghĩa chắc chắn sẽ phát bệnh. Lối sống phù hợp vẫn có thể làm giảm nguy cơ và làm chậm thời điểm khởi phát.
Ăn nhiều muối
Natri làm cơ thể giữ nước, tăng thể tích tuần hoàn và ảnh hưởng đến trương lực mạch máu. Một số người đặc biệt nhạy cảm với muối, nhất là người cao tuổi, người mắc bệnh Thận, đái tháo đường hoặc tăng huyết áp lâu năm.
Thừa cân và béo phì
Thừa cân làm tăng hoạt động giao cảm, kháng insulin, giữ natri và gánh nặng cho Tâm. Giảm cân ở người thừa cân thường giúp huyết áp giảm và cải thiện các yếu tố nguy cơ khác.
Rượu và thuốc lá
Uống nhiều rượu có thể làm huyết áp tăng và làm thuốc hạ áp kém hiệu quả. Hút thuốc gây co mạch, tổn thương nội mô và làm nguy cơ nhồi máu cơ tim, đột quỵ tăng rõ.
Căng thẳng và thiếu ngủ
Căng thẳng kéo dài, thức khuya và giấc ngủ kém có thể làm hoạt động giao cảm tăng, khiến huyết áp dao động và khó kiểm soát hơn.
Thuốc có thể làm huyết áp tăng
Các thuốc cần lưu ý gồm thuốc chống viêm không steroid, corticosteroid, thuốc thông mũi có tác dụng co mạch, thuốc tránh thai nội tiết, một số thuốc chống trầm cảm, thuốc kích thích và cam thảo dùng kéo dài với lượng lớn.
Ma hoàng và các chế phẩm chứa ephedrine có thể làm nhịp Tâm và huyết áp tăng, không nên tự dùng ở người tăng huyết áp.
Biểu hiện lâm sàng
Chứng trạng: Phần lớn không có triệu chứng rõ; một số người có thể đau đầu, chóng mặt, ù tai, hồi hộp, mất ngủ, mệt, bứt rứt hoặc nhìn mờ, nhưng những biểu hiện này không đặc hiệu và không phản ánh chính xác mức huyết áp.
Không nên căn cứ cảm giác để đoán huyết áp cao hay thấp. Có người huyết áp rất cao nhưng vẫn không có triệu chứng, trong khi đau đầu hoặc chóng mặt cũng có thể xuất hiện khi huyết áp bình thường.
Tổn thương cơ quan đích
Tổn thương Tâm
Huyết áp tăng kéo dài làm thất trái phải co bóp mạnh hơn để thắng sức cản của động mạch. Theo thời gian, cơ thất trái phì đại, sau đó có thể giãn và suy chức năng.
Biểu hiện có thể gồm hồi hộp, khó thở khi vận động, đau ngực, khó thở khi nằm và phù chân.
Tăng huyết áp còn thúc đẩy xơ vữa động mạch vành, làm nguy cơ đau thắt ngực và nhồi máu cơ tim tăng.
Tổn thương não
Tăng huyết áp có thể gây tổn thương động mạch não, làm tăng nguy cơ nhồi máu não, xuất huyết não, cơn thiếu máu não thoáng qua và suy giảm nhận thức.
Dấu hiệu đột quỵ gồm méo miệng, yếu hoặc tê một bên người, nói khó, mất thị lực, mất thăng bằng hoặc đau đầu đột ngột dữ dội. Khi xuất hiện, cần gọi cấp cứu ngay.
Tổn thương Thận
Tăng huyết áp kéo dài làm các tiểu động mạch trong Thận bị tổn thương và xơ hóa. Chức năng lọc giảm dần, có thể xuất hiện albumin hoặc protein trong nước tiểu, creatinine tăng và tiến triển thành bệnh Thận mạn.
Ngược lại, bệnh Thận cũng có thể làm huyết áp tăng và khó kiểm soát, tạo thành vòng tác động qua lại.
Tổn thương mắt
Huyết áp cao có thể làm các động mạch võng mạc co hẹp, xơ cứng, xuất huyết, xuất tiết hoặc phù gai thị.
Người bệnh có thể nhìn mờ, nhìn đôi hoặc giảm thị lực. Mất thị lực đột ngột cần được khám khẩn cấp.
Tổn thương mạch máu
Tăng huyết áp thúc đẩy xơ vữa, phình động mạch chủ, bóc tách động mạch chủ và bệnh động mạch ngoại biên.
Người bệnh có thể đau chân khi đi bộ, chân lạnh, mạch yếu hoặc vết thương bàn chân khó lành.
Đo huyết áp đúng cách
Chuẩn bị
Không hút thuốc, uống cà phê, trà đặc, rượu hoặc vận động mạnh trong khoảng ba mươi phút trước khi đo.
Đi tiểu nếu đang buồn tiểu.
Ngồi nghỉ yên ít nhất năm phút.
Không nói chuyện trong lúc đo.
Tư thế
Ngồi tựa lưng, hai chân đặt trên sàn, không bắt chéo chân.
Cánh tay để thoải mái trên mặt bàn, băng quấn ngang mức Tâm.
Quấn băng trực tiếp trên da, không quấn ngoài áo.
Dùng băng quấn có kích thước phù hợp với vòng cánh tay.
Cách đo
Nên dùng máy đo huyết áp điện tử tự động ở cánh tay đã được kiểm định.
Lần đầu nên đo cả hai tay. Về sau thường theo dõi ở tay có huyết áp cao hơn nếu bác sĩ không có hướng dẫn khác.
Mỗi lần đo hai lần, cách nhau khoảng một phút, rồi ghi lại kết quả.
Khi theo dõi tại nhà, thường đo buổi sáng trước khi uống thuốc và buổi tối trong vài ngày liên tiếp theo hướng dẫn.
Máy đo ở cổ tay hoặc thiết bị không dùng băng quấn dễ bị ảnh hưởng bởi tư thế và chưa phải lựa chọn ưu tiên cho chẩn đoán thường quy.
Điều trị
Mục đích điều trị không chỉ là làm con số huyết áp giảm, mà còn bảo vệ Tâm, não, Thận, mắt và mạch máu, từ đó giảm nguy cơ tử vong và tàn phế.
Điều chỉnh lối sống
Giảm muối
Nên hạn chế muối ăn và các thực phẩm nhiều natri như đồ muối, thịt chế biến, mì ăn liền, nước chấm mặn, thức ăn đóng hộp và đồ ăn nhanh.
Không chỉ lượng muối cho thêm khi nấu mà lượng natri ẩn trong thực phẩm chế biến cũng cần được chú ý.
Ăn uống cân đối
Ưu tiên rau, trái cây, ngũ cốc nguyên hạt, các loại đậu, cá, hạt không ướp muối và sản phẩm sữa phù hợp.
Hạn chế thịt chế biến, mỡ động vật, thức ăn nhiều đường, chất béo chuyển hóa và thực phẩm siêu chế biến.
Không cần kiêng hoàn toàn trứng, nội tạng hoặc mọi chất béo theo cách máy móc; chế độ ăn cần được điều chỉnh căn cứ tổng nguy cơ tim mạch và tình trạng dinh dưỡng.
Kiểm soát cân nặng
Người thừa cân nên giảm cân từ từ bằng chế độ ăn hợp lý và vận động đều. Không nên nhịn ăn cực đoan hoặc dùng thuốc giảm cân không rõ thành phần.
Vận động
Có thể đi bộ nhanh, đạp xe, bơi hoặc tập các bài sức bền vừa phải theo khả năng.
Người có đau ngực, khó thở, choáng, suy tim, huyết áp rất cao hoặc bệnh mạch máu cần được đánh giá trước khi tập nặng.
Ngừng hút thuốc
Bỏ thuốc lá giúp giảm mạnh nguy cơ nhồi máu cơ tim, đột quỵ và bệnh động mạch ngoại biên, dù tác dụng hạ huyết áp lâu dài có thể không biểu hiện ngay.
Hạn chế hoặc không uống rượu
Không nên bắt đầu uống rượu với mục đích bảo vệ Tâm mạch hoặc hạ huyết áp. Người đang uống nên giảm lượng, còn người khó kiểm soát nên ngừng hẳn.
Giấc ngủ
Duy trì giờ ngủ ổn định, tránh thức khuya kéo dài. Người ngủ ngáy lớn, ngừng thở khi ngủ hoặc buồn ngủ nhiều ban ngày nên được kiểm tra ngưng thở khi ngủ.
Điều chỉnh tinh thần
Thở chậm, thư giãn, đi bộ, thiền nhẹ, Thái cực quyền và những hoạt động phù hợp có thể giúp giảm căng thẳng.
Những biện pháp này hỗ trợ kiểm soát huyết áp nhưng không thay thế thuốc khi đã có chỉ định.
Điều trị bằng thuốc
Các nhóm thuốc thường dùng gồm thuốc ức chế men chuyển, thuốc chẹn thụ thể angiotensin, thuốc chẹn kênh calcium và thuốc lợi tiểu thiazide hoặc tương tự thiazide. Một số người cần thuốc chẹn beta, thuốc kháng aldosterone hoặc thuốc khác tùy bệnh kèm theo.
Nhiều bệnh nhân cần phối hợp từ hai thuốc trở lên mới kiểm soát được huyết áp.
Thuốc phải được lựa chọn căn cứ tuổi, chức năng Thận, điện giải, thai kỳ, bệnh Tâm, đái tháo đường và các thuốc đang dùng.
Không tự ngừng thuốc khi huyết áp đã ổn định. Huyết áp ổn định thường là kết quả của thuốc và lối sống, không có nghĩa bệnh đã khỏi.
Thời điểm uống thuốc
Không có quy tắc chung rằng mọi thuốc hạ áp đều phải tránh uống trước khi ngủ. Thời điểm dùng thuốc cần căn cứ loại thuốc, tác dụng phụ, kết quả theo dõi huyết áp và hướng dẫn của bác sĩ.
Không tự chuyển toàn bộ thuốc sang buổi tối hoặc buổi sáng.
Khi huyết áp tăng cao
Nếu đo thấy huyết áp rất cao, trước hết cần ngồi nghỉ yên, kiểm tra lại tư thế và đo lại sau vài phút.
Không tự ngậm nifedipine tác dụng nhanh dưới lưỡi vì huyết áp có thể giảm quá nhanh, gây thiếu máu Tâm hoặc não.
Không tự uống thêm nhiều liều thuốc hạ áp trong thời gian ngắn nếu chưa có hướng dẫn.
Nếu huyết áp rất cao nhưng không có triệu chứng nguy hiểm, cần liên hệ bác sĩ hoặc cơ sở y tế để được hướng dẫn trong ngày.
Tăng huyết áp cấp cứu
Đây là tình trạng huyết áp tăng rất cao kèm tổn thương cơ quan cấp tính.
Dấu hiệu nguy hiểm: Đau ngực, khó thở, yếu hoặc tê một bên người, nói khó, lú lẫn, co giật, ngất, đau đầu dữ dội đột ngột, nhìn mờ hoặc mất thị lực, đau lưng hay ngực dữ dội, tiểu ít rõ.
Khi có những dấu hiệu này, cần gọi cấp cứu ngay, không tự điều trị tại nhà.
Nhận thức của Trung y
Trong Trung y, tăng huyết áp không hoàn toàn tương ứng với một tên bệnh riêng. Bệnh thường được xem xét trong các phạm vi Huyễn vựng (眩晕), Đầu thống (头痛), Tâm quý (心悸), Bất mị (不寐), Can dương (肝阳) và Trung phong (中风).
Vị trí bệnh liên quan mật thiết đến Can, Thận, Tâm và Tỳ. Bệnh cơ thường thuộc bản hư tiêu thực: Can Thận âm hư, khí huyết suy hoặc Thận dương hư là bản; Can dương thượng kháng, Can hỏa, đàm thấp, huyết ứ và phong dương là tiêu.
Không phải người huyết áp cao nào cũng có cùng một thể bệnh. Việc dùng thuốc cần căn cứ chứng trạng, lưỡi, mạch, tuổi, bệnh nền và thuốc hiện đại đang sử dụng.
Một. Can dương thượng kháng
Nguyên nhân: Can Thận âm hư, tình chí uất kết, lao lực, mất ngủ hoặc tuổi cao làm âm không chế được dương.
Chứng trạng: Chóng mặt, đau đầu, mặt đỏ, mắt đỏ, ù tai, dễ cáu, mất ngủ, miệng đắng; lưỡi đỏ, mạch huyền hữu lực hoặc huyền sác.
Pháp trị
Bình Can tiềm dương, thanh hỏa tức phong.
Phương thang
Thiên ma câu đằng ẩm gia giảm (天麻钩藤饮加减): Thiên ma (天麻), Câu đằng (钩藤), Thạch quyết minh (石决明), Chi tử (栀子), Hoàng cầm (黄芩), Ngưu tất (牛膝), Đỗ trọng (杜仲), Tang ký sinh (桑寄生), Ích mẫu thảo (益母草), Dạ giao đằng (夜交藤), Phục thần (茯神).
Hai. Can Thận âm hư
Nguyên nhân: Tuổi cao, bệnh lâu ngày, lao lực, thức khuya hoặc âm tinh hao tổn.
Chứng trạng: Chóng mặt, ù tai, mắt khô, lưng gối mỏi, miệng khô, ngũ tâm phiền nhiệt, mất ngủ; lưỡi đỏ ít rêu, mạch huyền tế sác.
Pháp trị
Tư dưỡng Can Thận, bình Can tiềm dương.
Phương thang
Kỷ cúc địa hoàng hoàn gia giảm (杞菊地黄丸加减): Thục địa hoàng (熟地黄), Sơn thù du (山茱萸), Hoài sơn (山药), Trạch tả (泽泻), Phục linh (茯苓), Mẫu đơn bì (牡丹皮), Câu kỷ tử (枸杞子), Cúc hoa (菊花).
Ba. Đàm thấp trung trở
Nguyên nhân: Ăn nhiều béo ngọt, ít vận động, béo phì, Tỳ vận hóa kém, thấp tụ thành đàm.
Chứng trạng: Đầu nặng, chóng mặt, ngực đầy, buồn nôn, người nặng nề, nhiều đàm, buồn ngủ; lưỡi to, rêu trắng nhầy, mạch huyền hoạt.
Pháp trị
Kiện Tỳ hóa đàm, táo thấp hòa Trung.
Phương thang
Bán hạ bạch truật thiên ma thang gia giảm (半夏白术天麻汤加减): Bán hạ (半夏), Bạch truật (白术), Thiên ma (天麻), Phục linh (茯苓), Trần bì (陈皮), Cam thảo (甘草), Sinh khương (生姜), Đại táo (大枣).
Bốn. Huyết ứ trở lạc
Nguyên nhân: Bệnh lâu ngày, khí trệ, khí hư, tuổi cao hoặc xơ vữa mạch máu làm huyết vận hành không thông.
Chứng trạng: Đau đầu cố định, đau như châm chích, tê bì, ngực tức, môi lưỡi tím tối; lưỡi tím hoặc có điểm ứ, mạch sáp.
Pháp trị
Hoạt huyết hóa ứ, thông lạc.
Phương thang
Huyết phủ trục ứ thang gia giảm (血府逐瘀汤加减): Đào nhân (桃仁), Hồng hoa (红花), Đương quy (当归), Sinh địa hoàng (生地黄), Xích thược (赤芍), Xuyên khung (川芎), Sài hồ (柴胡), Chỉ xác (枳壳), Cát cánh (桔梗), Ngưu tất (牛膝), Cam thảo (甘草).
Người đang dùng aspirin, clopidogrel hoặc thuốc chống đông không được tự dùng phương hoạt huyết.
Năm. Tâm Tỳ lưỡng hư
Nguyên nhân: Lo nghĩ, lao tâm, ăn uống kém, bệnh lâu ngày hoặc khí huyết suy.
Chứng trạng: Hồi hộp, mất ngủ, hay quên, chóng mặt, mệt, ăn kém, sắc mặt nhợt; lưỡi nhạt, mạch tế nhược.
Pháp trị
Kiện Tỳ ích khí, dưỡng huyết an thần.
Phương thang
Quy Tỳ thang gia giảm (归脾汤加减): Hoàng kỳ (黄芪), Đảng sâm (党参), Bạch truật (白术), Phục linh (茯苓), Đương quy (当归), Long nhãn nhục (龙眼肉), Toan táo nhân (酸枣仁), Viễn chí (远志), Mộc hương (木香), Chích cam thảo (炙甘草), Sinh khương (生姜), Đại táo (大枣).
Sáu. Âm dương lưỡng hư
Nguyên nhân: Bệnh kéo dài, tuổi cao, Can Thận suy, khí huyết âm dương đều tổn thương.
Chứng trạng: Chóng mặt, ù tai, lưng gối mỏi, sợ lạnh nhưng đôi lúc bốc nóng, hồi hộp, tiểu đêm, mệt; lưỡi nhạt hoặc đỏ nhạt, mạch trầm tế.
Pháp trị
Điều bổ âm dương, bổ Can Thận.
Phương thang
Cần căn cứ tình trạng thiên về âm hư hay dương hư để lựa chọn, không nên tự dùng thuốc ôn dương mạnh.
Châm cứu hỗ trợ
Các huyệt thường dùng gồm Can-3 Thái xung, Đại trường-11 Khúc trì, Tỳ-6 Tam âm giao, Vị-36 Túc tam lý, Thận-3 Thái khê, Đốc-20 Bách hội, Đởm-20 Phong trì, Tâm bào-6 Nội quan và Tâm-7 Thần môn.
Can dương thượng kháng phối Can-3 Thái xung, Đởm-20 Phong trì, Đại trường-11 Khúc trì và Tỳ-6 Tam âm giao.
Đàm thấp phối Vị-40 Phong long, Vị-36 Túc tam lý, Tỳ-9 Âm lăng tuyền và Nhâm-12 Trung quản.
Can Thận âm hư phối Thận-3 Thái khê, Tỳ-6 Tam âm giao, Can-3 Thái xung và Bàng quang-23 Thận du.
Châm cứu chỉ có vai trò hỗ trợ và không thay thế thuốc hạ áp. Không châm cứu để trì hoãn cấp cứu khi có dấu hiệu đột quỵ, đau ngực hoặc khó thở.
Dưỡng sinh theo Trung y
Ăn uống thanh đạm, giảm mặn, không ăn quá no.
Duy trì vận động nhẹ và đều.
Ngủ đủ, tránh thức khuya kéo dài.
Điều hòa tình chí, tránh giận dữ và căng thẳng quá mức.
Có thể tập Thái cực quyền, đi bộ hoặc thở chậm khi tình trạng ổn định.
Không tự dùng La bố ma, Ma hoàng, Nhân sâm, Cam thảo liều cao hoặc các trà thuốc hạ áp kéo dài.
Thực phẩm và các phương pháp dân gian
Đậu phụ, cần tây, hành tây, rau xanh, các loại đậu và rong biển có thể là thành phần của chế độ ăn lành mạnh, nhưng không phải thuốc hạ huyết áp và không thay thế điều trị.
Không có đủ căn cứ để khẳng định giấm, đậu phộng ngâm giấm, vỏ đậu phộng hoặc gối bã trà có thể điều trị tăng huyết áp.
Không nên dùng đường đỏ, xì dầu hoặc món ngâm mặn với mục đích hạ áp vì có thể làm tăng lượng đường hoặc natri.
Chú ý
Không tự ngừng hoặc đổi thuốc hạ áp.
Không tự uống thêm liều khi một lần đo thấy huyết áp cao.
Không ngậm nifedipine tác dụng nhanh dưới lưỡi.
Không tự dùng thuốc an thần để xử lý huyết áp tăng.
Không uống rượu nhằm giãn mạch hoặc hạ huyết áp.
Không dùng phương hoạt huyết khi đang dùng thuốc chống đông mà chưa được đánh giá.
Không dùng Ma hoàng hoặc Cam thảo kéo dài ở người huyết áp cao.
Không xem đau đầu, chóng mặt hay hồi hộp là căn cứ duy nhất để đánh giá mức huyết áp.
Kết luận
Tăng huyết áp là bệnh mạn tính thường không có triệu chứng, nhưng có thể âm thầm gây tổn thương Tâm, não, Thận, mắt và mạch máu.
Điều trị cần phối hợp đo huyết áp đúng cách, giảm muối, kiểm soát cân nặng, vận động, bỏ thuốc lá, hạn chế rượu, ngủ đủ và dùng thuốc đều theo chỉ định.
Theo Trung y, bệnh thường thuộc các phạm vi Huyễn vựng, Đầu thống, Tâm quý và Bất mị. Bệnh cơ chủ yếu là bản hư tiêu thực: Can Thận âm hư, khí huyết suy là bản; Can dương, đàm thấp, huyết ứ và hỏa nhiệt là tiêu.
Can dương thượng kháng thì bình Can tiềm dương; Can Thận âm hư thì tư dưỡng Can Thận; đàm thấp thì kiện Tỳ hóa đàm; huyết ứ thì hoạt huyết thông lạc; Tâm Tỳ lưỡng hư thì ích khí dưỡng huyết.
Nói tóm lại, Trung y có thể hỗ trợ điều dưỡng và cải thiện một số chứng trạng, nhưng kiểm soát huyết áp và bảo vệ cơ quan đích vẫn phải lấy theo dõi y khoa, thuốc hạ áp cùng thay đổi lối sống làm nền tảng.
Trường Xuân Đường biên soạn và tổng hợp