Trong y văn Trung y, “đa hình hồng ban” được gọi là “Miêu nhãn sang” (猫眼疮 – bệnh mắt mèo), vì tổn thương điển hình trên da có hình dáng giống như mắt mèo. Sách Y Tông Kim Giám · Ngoại khoa tâm pháp yếu quyết đời Thanh có mô tả rằng:
“Miêu nhãn sang danh do tượng hình, đau ngứa không thường, không có mủ máu, ánh sáng lóe như mắt mèo, tỳ kinh thấp nhiệt, ngoại hàn ngưng… Ban đầu giống như mắt mèo, ánh sáng lấp lánh, không mủ không máu, chỉ có đau ngứa không đều, lâu dần gần đến cẳng chân.”
Một số y văn khác cũng gọi bệnh này là “nhạn sang” (雁疮) hoặc “hàn sang” (寒疮 – bệnh do lạnh), tùy theo đặc điểm tổn thương trên lâm sàng.
Tổn thương da điển hình là những mảng ban đỏ phù nề hình tròn hoặc bầu dục, ở giữa chồng lên những mụn nước tạo nên dạng hình vồng như cầu vồng, rất giống mắt mèo, ánh sáng chớp lóe. Tổn thương nhỏ thì bằng hạt gạo hoặc đậu xanh, to có thể bằng quả trứng gà. Đa số tổn thương xuất hiện ở tay, chân, đầu chi, một số trường hợp lan ra toàn thân, thường phân bố đối xứng.
Bệnh thường phát vào mùa thu – đông, mỗi đợt kéo dài 2 – 3 tuần, có khi vài tháng. Bệnh phát đột ngột, thường kèm theo sốt, đau khớp và các triệu chứng toàn thân khác. Trường hợp nặng có thể sốt cao, đau đầu, mệt mỏi, thậm chí nguy hiểm tính mạng.
Chẩn đoán phân biệt: Cần phân biệt với bệnh cước (đỗng sang), vì cả hai đều gặp vào mùa lạnh, tổn thương ở tay chân, đầu chi. Tuy nhiên cước không ảnh hưởng niêm mạc, thường ngứa, không đối xứng hai bên và da có màu đỏ sậm hoặc tím bầm.
Tên gọi “Miêu nhãn sang” là do hình dạng tổn thương giống mắt mèo – sống động và điển hình. Nếu trên lâm sàng thấy tổn thương ở đầu chi giống mắt mèo, cần nghĩ đến bệnh này.
Tài liệu tham khảo:
Làm gì khi mắc bệnh đa hình hồng ban?
Đa hình hồng ban là bệnh lý da dạng hồng ban chưa rõ nguyên nhân. Trong điều trị, trước tiên cần loại bỏ các yếu tố nghi ngờ như kiểm soát nhiễm trùng, ngưng dùng thuốc nghi gây dị ứng, và điều trị triệu chứng để giảm khó chịu và rút ngắn bệnh trình. Với trường hợp nặng có thể dùng thêm corticosteroid.
Theo y học cổ truyền, bệnh này được chia làm ba thể: phong hàn ngoại phạm, phong nhiệt kiêm thấp, hoả độc uất kết trong. Cách biểu hiện và biện chứng luận trị như sau:
(1) Phong hàn xâm nhập từ ngoài
– Đặc điểm: Thường phát hoặc nặng hơn khi thời tiết lạnh ẩm, khi ấm lên thì giảm hoặc mất. Ban đỏ sậm, đầu ngón tay chân sưng, da lạnh. Có thể kèm sợ lạnh, tay chân lạnh, đau bụng tiêu chảy, lưỡi nhạt rêu trắng, mạch nhu tế.
– Pháp trị: Hòa vinh, khứ hàn.
– Phương: Đương quy tứ nghịch thang gia giảm.
(2) Phong nhiệt kiêm thấp
– Đặc điểm: Thường phát vào mùa hè, hoặc không liên quan đến mùa. Ban đỏ như màu anh đào, có nhiều mụn nước, kèm sốt, đau họng, miệng khô, đau khớp, táo bón, tiểu đỏ, lưỡi đỏ rêu nhớt, mạch hoạt sác.
– Pháp trị: Tán phong thanh nhiệt, trừ thấp thông lạc.
– Phương: Thanh nhiệt trừ thấp thang gia giảm.
(3) Hoả độc uất kết nội thịnh
– Đặc điểm: Phát bệnh đột ngột, sốt cao sợ lạnh, đau đầu mệt mỏi, họng khô đau, đau ngực, ho, có thể nôn mửa, tiêu chảy, ban đỏ lan toàn thân, bọng nước lớn, trợt loét đóng vảy, ảnh hưởng đến miệng – cơ quan sinh dục; lưỡi đỏ, rêu vàng, mạch hoạt sác.
– Pháp trị: Thanh nhiệt giải độc, lương huyết lợi thấp.
– Phương: Phổ tế tiêu độc ẩm gia giảm.
Lưu ý khi điều trị:
– Giữ ấm, tránh tiếp xúc nước lạnh, gió lạnh.
– Kiêng các thực phẩm dễ gây kích phát như: cá, tôm, cua, tỏi, hẹ, hành sống…
Ly Trường Xuân dịch