BÉO PHÌ VÀ BỆNH MẠCH VÀNH 肥胖与冠心病
Khái luận
Béo phì không chỉ là sự tăng lên của cân nặng, mà chủ yếu là tình trạng mỡ tích tụ quá nhiều trong cơ thể, đặc biệt ở vùng bụng và quanh các tạng. Khi đi kèm với tăng huyết áp, rối loạn mỡ máu, đường huyết cao, gan nhiễm mỡ, ít vận động hoặc rối loạn giấc ngủ, béo phì có thể làm nguy cơ bệnh mạch vành tăng rõ.
Trong Trung y, béo phì thường được xem xét trong phạm vi Phì bàn (肥胖), Đàm thấp (痰湿), Thấp trọc (湿浊), Đàm ẩm (痰饮), Khí hư (气虚) và Thủy thũng (水肿). Khi ảnh hưởng đến Tâm mạch, bệnh có thể biểu hiện trong phạm vi Hung tý (胸痹), Tâm thống (心痛), Tâm quý (心悸), Chinh xung (怔忡), Đoản khí (短气) và Hư lao (虚劳).
Người xưa có câu “phì nhân đa đàm” (肥人多痰), nghĩa là người béo thường có khuynh hướng đàm thấp. Đàm ở đây không chỉ là đờm trong đường hô hấp, mà còn chỉ những chất thấp trọc và sản vật chuyển hóa không bình thường tích lại trong cơ thể.
Khi Tỳ mất kiện vận, thủy thấp không hóa, đàm trọc dần hình thành. Đàm trọc lưu lại ở cơ nhục thì thân thể nặng nề; tích ở Trung tiêu thì bụng đầy, ăn kém; bế trở vùng ngực thì hung dương không thông; kết với huyết ứ trong Tâm mạch thì sinh ngực tức, đau ngực, hồi hộp và khó thở.
Bệnh cơ
Bệnh cơ của béo phì kèm bệnh mạch vành chủ yếu thuộc bản hư tiêu thực (本虚标实).
Bản hư thường gồm Tỳ khí hư, Tỳ dương hư, Thận khí hư, Thận dương hư, Tâm khí hư hoặc khí âm lưỡng hư.
Tiêu thực thường gồm đàm thấp, thấp trọc, đàm nhiệt, khí trệ và huyết ứ làm Tâm mạch không thông.
Trong đó, Tỳ hư là nguồn sinh đàm; ít vận động làm khí trệ; khí hư làm huyết hành thiếu lực; huyết ứ là yếu tố trực tiếp làm mạch đạo mất thông lợi; Thận hư khiến thủy dịch khó khí hóa và bệnh kéo dài khó phục hồi.
Nói tóm lại, béo phì thường lấy Tỳ hư làm gốc, đàm thấp làm biểu hiện chủ yếu, lâu ngày kết với khí trệ và huyết ứ, khiến Tâm mạch ngày càng bị trở ngại.
Béo phì ảnh hưởng đến Tâm mạch như thế nào
Làm Tâm khí thêm hao tổn
Thân thể quá nặng làm việc đi lại trở nên khó khăn, người bệnh dễ mệt và hụt hơi. Tâm phải vận hành khí huyết trong một cơ thể có khối lượng lớn hơn, lâu ngày Tâm khí dễ suy, biểu hiện bằng hồi hộp, thở ngắn và giảm sức chịu đựng.
Làm Tỳ sinh đàm
Thức ăn béo ngọt, ăn quá no, ăn khuya và ít vận động làm Tỳ Vị trì trệ. Tỳ mất kiện vận thì thấp tụ thành đàm. Đàm thấp vừa làm cân nặng tiếp tục tăng, vừa bế trở Tâm mạch.
Làm khí huyết trì trệ
Ít vận động khiến khí cơ không thông, huyết hành chậm. Đàm trọc vốn có tính dính và nặng, khi kết với huyết ứ thì mạch đạo càng khó thông.
Làm Thận khí hóa bất lợi
Tuổi cao, bệnh lâu ngày hoặc thể chất dương hư khiến Thận khí suy. Thủy dịch không được khí hóa, người bệnh có thể béo phù, chân nặng, tiểu ít hoặc tiểu đêm nhiều.
Làm giấc ngủ bị ảnh hưởng
Người béo, đặc biệt béo vùng cổ và bụng, thường dễ ngáy, ngủ không sâu và mệt vào ban ngày. Theo Trung y, ngủ không yên làm Tâm thần mất dưỡng, khí huyết không được phục hồi đầy đủ, Tỳ vận hóa càng suy.
Không phải mọi người béo đều thuộc thực chứng
Béo phì thường được liên hệ với đàm thấp, nhưng không phải người béo nào cũng thuộc tà thực mạnh.
Có người thân thể béo nhưng cơ nhục mềm, dễ mệt, thở ngắn, ra mồ hôi, lưỡi nhạt và mạch hư. Đây là khí hư, Tỳ hư làm gốc.
Có người béo kèm sợ lạnh, phù, lưng gối mỏi, tiểu đêm nhiều, lưỡi nhạt bệu và mạch trầm trì. Đây là Tỳ Thận dương hư.
Có người béo chắc, mặt đỏ, miệng đắng, đại tiện dính hôi, rêu vàng nhầy và mạch hoạt sác. Đây là thấp nhiệt hoặc đàm nhiệt.
Vì vậy, không nên thấy béo là mặc nhiên dùng thuốc công hạ, lợi thủy hoặc tiêu đạo mạnh.
Nguyên tắc điều trị
Điều trị cần đồng thời chú ý cân nặng, Tỳ Vị, đàm thấp, khí huyết và Tâm mạch.
Tỳ hư thì kiện Tỳ ích khí.
Đàm thấp thì hóa đàm khứ thấp.
Đàm trọc bế ngực thì thông dương khoan hung.
Đàm ứ hỗ kết thì hóa đàm hoạt huyết.
Thấp nhiệt thì thanh nhiệt hóa thấp.
Khí hư huyết ứ thì ích khí hoạt huyết.
Tỳ Thận dương hư thì ôn dương hóa khí, lợi thủy.
Can uất Tỳ hư thì sơ Can kiện Tỳ, hóa đàm lý khí.
Giảm cân cần tiến hành từ từ, không làm tổn thương chính khí. Mục tiêu không chỉ là giảm số cân, mà còn làm cơ thể nhẹ hơn, sức bền tốt hơn, vòng bụng giảm, ăn ngủ điều hòa và Tâm mạch bớt bị trở ngại.
Một. Tỳ hư đàm thấp
Chứng trạng
Thân thể béo mềm, cơ nhục lỏng, nặng nề, dễ mệt, ăn không nhiều nhưng vẫn tăng cân, bụng đầy, ăn kém, buồn ngủ, đàm nhiều, đại tiện lỏng hoặc dính, lưỡi nhạt bệu, rêu trắng nhầy, mạch nhu hoạt.
Bệnh cơ
Tỳ khí hư, thủy cốc không được vận hóa đầy đủ, thấp tụ thành đàm. Đàm thấp tích ở cơ nhục làm thân thể béo mềm; trở ở Trung tiêu làm bụng đầy và ăn kém; phạm lên vùng ngực làm ngực nặng và thở không khoan khoái.
Pháp trị
Kiện Tỳ ích khí, hóa đàm trừ thấp.
Phương thang
Lục quân tử thang hợp Trạch tả thang gia giảm (六君子汤合泽泻汤加减): Đảng sâm (党参), Bạch truật (白术), Phục linh (茯苓), Chích cam thảo (炙甘草), Trần bì (陈皮), Bán hạ (半夏), Trạch tả (泽泻), Ý dĩ nhân (薏苡仁), Sơn tra (山楂), Hà diệp (荷叶), Đan sâm (丹参).
Gia giảm
Bụng đầy gia Mộc hương (木香), Sa nhân (砂仁); đàm nhiều gia Qua lâu (瓜蒌), Trúc nhự (竹茹); khí hư rõ gia Hoàng kỳ (黄芪), Thái tử sâm (太子参); đại tiện lỏng gia Sơn dược (山药), Bạch biển đậu (白扁豆).
Ý nghĩa
Đảng sâm, Bạch truật, Phục linh và Chích cam thảo kiện Tỳ ích khí; Trần bì và Bán hạ hóa đàm; Trạch tả và Ý dĩ nhân khứ thấp; Sơn tra tiêu thực; Hà diệp hóa trọc; Đan sâm thông Tâm mạch nhẹ.
Hai. Đàm trọc bế trở Tâm mạch
Chứng trạng
Bụng lớn, ngực tức nặng như bị đè, khó thở khi gắng sức, thân thể nặng nề, đầu nặng, buồn ngủ, đàm nhiều, ăn nhiều thức ăn dầu mỡ, lưỡi nhạt hoặc hơi tối, rêu trắng dày nhầy, mạch hoạt hoặc huyền hoạt.
Bệnh cơ
Đàm trọc bế trở vùng ngực, làm hung dương không thông và Tâm mạch bị trở ngại. Tỳ hư là gốc, đàm trọc là ngọn. Người bệnh thường thấy nặng ngực và hụt hơi nhiều hơn đau nhói.
Pháp trị
Hóa đàm thông dương, khoan hung lý khí, thông Tâm mạch.
Phương thang
Qua lâu giới bạch bán hạ thang hợp Nhị trần thang gia giảm (瓜蒌薤白半夏汤合二陈汤加减): Qua lâu (瓜蒌), Giới bạch (薤白), Bán hạ (半夏), Trần bì (陈皮), Phục linh (茯苓), Cam thảo (甘草), Chỉ xác (枳壳), Trạch tả (泽泻), Đan sâm (丹参), Uất kim (郁金), Sơn tra (山楂).
Gia giảm
Ngực tức rõ gia Đàn hương (檀香), Sa nhân (砂仁); thân thể nặng gia Hà diệp (荷叶), Ý dĩ nhân (薏苡仁); đàm nhiệt, rêu vàng nhầy gia Hoàng cầm (黄芩), Trúc nhự (竹茹), Hoàng liên (黄连) lượng nhỏ.
Ý nghĩa
Qua lâu và Giới bạch khoan hung thông dương; Bán hạ, Trần bì, Phục linh và Cam thảo kiện Tỳ hóa đàm; Chỉ xác lý khí; Trạch tả khứ thấp; Đan sâm hoạt huyết; Uất kim hành khí hóa ứ; Sơn tra tiêu thực.
Ba. Đàm ứ hỗ kết
Chứng trạng
Béo phì kéo dài, ngực tức hoặc đau âm ỉ, đau có thể lan ra vai lưng, môi hơi tím, sắc mặt tối, đầu nặng, chóng mặt, lưỡi tím hoặc có điểm ứ, rêu dày nhầy, tĩnh mạch dưới lưỡi tím giãn, mạch huyền hoạt hoặc sáp.
Bệnh cơ
Đàm trọc lâu ngày làm huyết hành không lợi; huyết ứ lại khiến đàm trọc càng khó hóa. Đàm và ứ kết trong Tâm mạch, làm mạch đạo mất thông lợi.
Pháp trị
Hóa đàm khứ trọc, hoạt huyết hóa ứ, thông Tâm mạch.
Phương thang
Ôn đảm thang hợp Huyết phủ trục ứ thang gia giảm (温胆汤合血府逐瘀汤加减): Bán hạ (半夏), Trần bì (陈皮), Trúc nhự (竹茹), Phục linh (茯苓), Chỉ thực (枳实), Cam thảo (甘草), Sinh khương (生姜), Đại táo (大枣), Đương quy (当归), Sinh địa hoàng (生地黄), Đào nhân (桃仁), Hồng hoa (红花), Xích thược (赤芍), Xuyên khung (川芎), Đan sâm (丹参), Ngưu tất (牛膝), Uất kim (郁金).
Gia giảm
Ngực đau rõ gia Qua lâu (瓜蒌), Giới bạch (薤白), Huyền hồ sách (玄胡索); thấp trọc rõ gia Hà diệp (荷叶), Trạch tả (泽泻), Sơn tra (山楂); ngủ kém gia Toan táo nhân (酸枣仁), Dạ giao đằng (夜交藤).
Ý nghĩa
Ôn đảm thang hóa đàm, điều hòa Đởm Vị; Huyết phủ trục ứ thang hoạt huyết hóa ứ và điều khí vùng ngực; Đan sâm, Xích thược, Đào nhân, Hồng hoa và Xuyên khung thông mạch; Uất kim hành khí hóa ứ; Ngưu tất dẫn huyết đi xuống.
Chú ý
Người đang dùng thuốc chống đông hoặc thuốc kháng kết tập tiểu cầu không nên tự phối hợp Hồng hoa, Đào nhân, Đan sâm, Tam thất, Nhũ hương hoặc Một dược.
Bốn. Thấp nhiệt nội uẩn
Chứng trạng
Thân thể béo chắc, mặt đỏ, dễ nóng, miệng đắng, khát, thích thức ăn béo ngọt cay nóng, bụng đầy, đại tiện táo hoặc dính hôi, tiểu vàng, lưỡi đỏ, rêu vàng nhầy, mạch hoạt sác.
Bệnh cơ
Ăn nhiều béo ngọt, rượu và thức ăn cay nóng làm thấp nhiệt uất lại ở Trung tiêu. Thấp nhiệt nung nấu thành đàm trọc, bế trở mạch đạo và vùng ngực.
Pháp trị
Thanh nhiệt hóa thấp, khứ trọc thông mạch.
Phương thang
Cam lộ tiêu độc đan hợp Ôn đảm thang gia giảm (甘露消毒丹合温胆汤加减): Hoạt thạch (滑石), Hoàng cầm (黄芩), Nhân trần (茵陈), Thạch xương bồ (石菖蒲), Mộc thông (木通), Liên kiều (连翘), Hoắc hương (藿香), Khấu nhân (蔻仁), Bán hạ (半夏), Trần bì (陈皮), Trúc nhự (竹茹), Phục linh (茯苓), Chỉ thực (枳实), Đan sâm (丹参), Sơn tra (山楂).
Gia giảm
Miệng đắng, dễ giận gia Chi tử (栀子), Long đởm thảo (龙胆草); đại tiện táo gia Quyết minh tử (决明子), Qua lâu nhân (瓜蒌仁); đàm nhiệt rõ gia Hoàng liên (黄连), Qua lâu (瓜蒌).
Ý nghĩa
Hoạt thạch, Mộc thông và Nhân trần thanh lợi thấp nhiệt; Hoàng cầm và Liên kiều thanh nhiệt; Hoắc hương và Khấu nhân hóa thấp tỉnh Tỳ; Bán hạ, Trần bì, Trúc nhự và Phục linh hóa đàm; Chỉ thực hành khí; Đan sâm thông mạch; Sơn tra tiêu thực.
Năm. Khí hư huyết ứ
Chứng trạng
Thân thể béo nhưng thể lực yếu, dễ mệt, thở ngắn, tự ra mồ hôi, vận động nhẹ đã mệt, hồi hộp, ngực tức âm ỉ, sắc mặt nhợt hoặc tối, lưỡi nhạt tím hoặc có điểm ứ, mạch hư sáp hoặc tế nhược.
Bệnh cơ
Khí hư không đủ sức thúc đẩy huyết dịch, huyết hành chậm mà sinh ứ. Người béo khí hư thường không chịu được vận động mạnh. Nếu chỉ công đàm hoặc phá ứ, chính khí dễ suy thêm.
Pháp trị
Ích khí hoạt huyết, kiện Tỳ hóa thấp, thông Tâm mạch.
Phương thang
Bổ dương hoàn ngũ thang hợp Đan sâm ẩm gia giảm (补阳还五汤合丹参饮加减): Hoàng kỳ (黄芪), Đương quy vĩ (当归尾), Xích thược (赤芍), Xuyên khung (川芎), Đào nhân (桃仁), Hồng hoa (红花), Địa long (地龙), Đan sâm (丹参), Đàn hương (檀香), Sa nhân (砂仁), Phục linh (茯苓), Bạch truật (白术).
Gia giảm
Mệt nhiều gia Đảng sâm (党参), Thái tử sâm (太子参); đàm thấp rõ gia Bán hạ (半夏), Trần bì (陈皮), Trạch tả (泽泻); ngực tức gia Qua lâu (瓜蒌), Giới bạch (薤白).
Ý nghĩa
Hoàng kỳ ích khí để hành huyết; Đương quy vĩ, Xích thược, Xuyên khung, Đào nhân, Hồng hoa và Đan sâm hoạt huyết hóa ứ; Địa long thông lạc; Đàn hương và Sa nhân hành khí; Phục linh và Bạch truật kiện Tỳ hóa thấp.
Sáu. Tỳ Thận dương hư, thủy thấp nội đình
Chứng trạng
Thân thể béo phù, nặng nề, sợ lạnh, tay chân lạnh, lưng gối mỏi, tiểu đêm nhiều, phù chân, mệt mỏi, ăn kém, đại tiện lỏng, lưỡi nhạt bệu, rêu trắng trơn, mạch trầm trì hoặc trầm tế.
Bệnh cơ
Tỳ dương hư thì thủy thấp không được vận hóa; Thận dương hư thì khí hóa không lợi. Thủy thấp đình lại làm cơ thể béo phù, nặng nề; dương khí không đủ ôn thông Tâm mạch nên hồi hộp, thở ngắn và huyết hành chậm.
Pháp trị
Ôn bổ Tỳ Thận, hóa khí lợi thủy, thông mạch.
Phương thang
Tế sinh thận khí hoàn hợp Chân vũ thang gia giảm (济生肾气丸合真武汤加减): Thục địa hoàng (熟地黄), Sơn thù du (山茱萸), Sơn dược (山药), Phục linh (茯苓), Trạch tả (泽泻), Mẫu đơn bì (牡丹皮), Phụ tử chế (制附子), Quế chi (桂枝), Ngưu tất (牛膝), Xa tiền tử (车前子), Bạch truật (白术), Sinh khương (生姜), Đan sâm (丹参).
Gia giảm
Phù rõ gia Trư linh (猪苓), Đại phúc bì (大腹皮); mệt nhiều gia Hoàng kỳ (黄芪), Đảng sâm (党参); khó thở gia Tô tử (苏子), Tang bạch bì (桑白皮). Đình lịch tử (葶苈子) chỉ nên dùng khi có chỉ định chuyên môn.
Ý nghĩa
Thục địa, Sơn thù du và Sơn dược bổ Thận; Phục linh, Trạch tả và Xa tiền tử lợi thủy; Phụ tử chế và Quế chi ôn dương hóa khí; Bạch truật kiện Tỳ; Ngưu tất dẫn thuốc xuống dưới; Đan sâm thông mạch.
Chú ý
Phụ tử có độc tính, không được tự dùng. Khi phù tăng, khó thở khi nằm, tiểu ít hoặc môi tím, cần được đánh giá kịp thời.
Bảy. Can uất Tỳ hư, đàm khí giao trở
Chứng trạng
Béo phì kèm căng thẳng, dễ cáu, hay thở dài, ngực sườn đầy tức, ăn uống thất thường, thèm ngọt, bụng đầy, ngủ kém, lưỡi nhạt hoặc hơi tối, rêu nhầy, mạch huyền hoạt.
Bệnh cơ
Can khí uất làm khí cơ không thông, đồng thời ảnh hưởng đến công năng vận hóa của Tỳ. Tỳ hư sinh đàm; đàm và khí cùng kết làm vùng ngực, Trung tiêu không khoan khoái. Cảm xúc không điều hòa còn khiến người bệnh ăn theo tâm trạng và khó giảm cân.
Pháp trị
Sơ Can kiện Tỳ, hóa đàm lý khí, thông Tâm mạch.
Phương thang
Sài hồ sơ Can tán hợp Lục quân tử thang gia giảm (柴胡疏肝散合六君子汤加减): Sài hồ (柴胡), Hương phụ (香附), Chỉ xác (枳壳), Bạch thược (白芍), Xuyên khung (川芎), Trần bì (陈皮), Đảng sâm (党参), Bạch truật (白术), Phục linh (茯苓), Bán hạ (半夏), Chích cam thảo (炙甘草), Uất kim (郁金), Đan sâm (丹参).
Gia giảm
Mất ngủ gia Toan táo nhân (酸枣仁), Dạ giao đằng (夜交藤); ăn nhiều, bụng đầy gia Sơn tra (山楂), Mạch nha (麦芽), Kê nội kim (鸡内金); ngực tức gia Qua lâu (瓜蒌), Giới bạch (薤白).
Ý nghĩa
Sài hồ, Hương phụ và Chỉ xác sơ Can lý khí; Đảng sâm, Bạch truật, Phục linh và Chích cam thảo kiện Tỳ ích khí; Bán hạ và Trần bì hóa đàm; Uất kim giải uất; Đan sâm thông Tâm mạch.
Vì sao không nên giảm cân quá nhanh
Béo phì hình thành trong thời gian dài, vì vậy việc điều chỉnh cũng cần có quá trình. Nhịn ăn quá mức, chỉ uống nước, dùng thuốc xổ, thuốc lợi tiểu, xông hơi nhiều hoặc tập luyện đến kiệt sức đều có thể làm khí huyết suy tổn.
Theo Trung y, giảm cân quá nhanh dễ làm Tỳ Vị bị thương, khí âm cùng hao, Tâm khí mất dưỡng. Người bệnh có thể xuất hiện hồi hộp, chóng mặt, mất ngủ, tay chân lạnh, mệt lả hoặc rối loạn đại tiện.
Giảm cân phù hợp là giảm từ từ, nhưng thể lực, giấc ngủ, đại tiện và khả năng vận động vẫn được duy trì hoặc cải thiện.
Ăn uống điều dưỡng
Nguyên tắc là giảm phần năng lượng dư thừa nhưng không nhịn đói cực đoan. Bữa ăn nên có rau củ, ngũ cốc, các loại đậu, cá, đậu phụ và đạm nạc lượng vừa phải.
Cần hạn chế thức ăn chiên rán, thịt mỡ, nội tạng, bánh ngọt, nước ngọt, trà sữa, rượu, thức ăn nhanh và ăn khuya.
Không nên bỏ bữa sáng rồi ăn quá nhiều vào buổi tối. Ăn nên chậm, vừa đủ, không vừa ăn vừa xem điện thoại hoặc làm việc căng thẳng.
Thể đàm thấp có thể dùng cháo Ý dĩ nhân Xích tiểu đậu: Ý dĩ nhân (薏苡仁), Xích tiểu đậu (赤小豆), gạo tẻ.
Thể đàm trọc, ăn nhiều béo ngọt có thể dùng cháo Sơn tra Hà diệp: Sơn tra (山楂), Hà diệp (荷叶), gạo tẻ. Người đau dạ dày, trào ngược hoặc đang dùng thuốc ảnh hưởng đến đông máu nên thận trọng với Sơn tra.
Thể khí hư có thể dùng cháo Hoài sơn Liên tử Đại táo: Hoài sơn (山药), Liên tử (莲子), Đại táo (大枣), gạo tẻ.
Thể thấp nhiệt có thể dùng canh bí đao Xích tiểu đậu: bí đao, Xích tiểu đậu (赤小豆), nấu thanh đạm. Người Tỳ Vị hư hàn không nên dùng quá nhiều.
Thể Can uất có thể dùng Mai khôi hoa (玫瑰花) và Trần bì (陈皮) lượng nhẹ làm trà. Người âm hư, họng khô rõ không nên dùng nhiều Trần bì.
Vận động
Người béo kèm bệnh Tâm mạch không nên đột ngột chạy nhanh, leo dốc, nâng vật nặng hoặc tập luyện cường độ cao.
Có thể bắt đầu bằng đi bộ chậm, dưỡng sinh, thái cực quyền nhẹ hoặc đạp xe chậm trên mặt phẳng. Thời gian và cường độ tăng dần theo khả năng.
Nguyên tắc là tập đều đặn, không tập đến kiệt sức. Sau khi tập nên thấy người nhẹ, tinh thần thư thái, không đau ngực, không hụt hơi và không chóng mặt.
Khi xuất hiện đau ngực, khó thở, vã mồ hôi lạnh, tim đập loạn hoặc choáng, phải dừng lại.
Giấc ngủ
Ngủ thiếu hoặc ngủ không sâu làm Tâm thần không yên, Can khí uất và Tỳ vận hóa kém. Người bệnh dễ thèm ngọt, ăn khuya và khó kiểm soát lượng thức ăn.
Người béo có ngáy to, ngủ ngắt quãng, thức dậy mệt, đau đầu buổi sáng hoặc buồn ngủ ban ngày cần chú ý kiểm tra tình trạng rối loạn hô hấp khi ngủ.
Giảm cân không chỉ là giảm ăn, mà còn phải điều chỉnh giấc ngủ và nhịp sinh hoạt.
Ăn theo cảm xúc
Căng thẳng, buồn chán, cô đơn và mất ngủ có thể khiến người bệnh tìm đến thức ăn béo ngọt để tạo cảm giác dễ chịu tạm thời.
Theo Trung y, đây thường là Can uất phạm Tỳ. Can khí không điều đạt, Tỳ mất kiện vận, đàm thấp càng dễ sinh.
Khi xuất hiện cơn thèm ăn không do đói, có thể tạm dừng, uống một ít nước ấm, đi bộ nhẹ, thở chậm hoặc ghi lại cảm xúc. Việc nhận ra nguyên nhân của cơn thèm ăn giúp điều chỉnh bền vững hơn.
Châm cứu hỗ trợ
Châm cứu có thể hỗ trợ kiện Tỳ hóa đàm, điều khí, cải thiện giấc ngủ và giảm cảm giác nặng nề khi tình trạng Tâm mạch ổn định.
Các huyệt thường dùng gồm Nhâm-12 Trung quản (中脘), Vị-25 Thiên khu (天枢), Vị-36 Túc tam lý (足三里), Vị-40 Phong long (丰隆), Tỳ-9 Âm lăng tuyền (阴陵泉), Tỳ-6 Tam âm giao (三阴交), Bàng quang-20 Tỳ du (脾俞), Bàng quang-21 Vị du (胃俞), Tâm bào-6 Nội quan (内关), Nhâm-17 Chiên trung (膻中), Can-3 Thái xung (太冲), Tỳ-10 Huyết hải (血海).
Tỳ hư đàm thấp phối Nhâm-12 Trung quản, Vị-36 Túc tam lý, Vị-40 Phong long, Tỳ-9 Âm lăng tuyền và Bàng quang-20 Tỳ du.
Béo bụng, ăn nhiều phối Nhâm-12 Trung quản, Vị-25 Thiên khu, Vị-36 Túc tam lý và Vị-40 Phong long.
Ngực tức phối Tâm bào-6 Nội quan, Nhâm-17 Chiên trung, Bàng quang-15 Tâm du và Bàng quang-17 Cách du.
Can uất, ăn theo cảm xúc phối Can-3 Thái xung, Đại trường-4 Hợp cốc, Tâm bào-6 Nội quan và Tâm-7 Thần môn.
Huyết ứ phối Bàng quang-17 Cách du, Tỳ-10 Huyết hải, Tỳ-6 Tam âm giao và Tâm bào-6 Nội quan.
Không dùng châm cứu để trì hoãn việc xử trí khi đau ngực, khó thở, vã mồ hôi hoặc chóng mặt rõ.
Bấm huyệt
Có thể day nhẹ Nhâm-12 Trung quản, Vị-25 Thiên khu, Vị-36 Túc tam lý, Vị-40 Phong long, Tâm bào-6 Nội quan, Can-3 Thái xung và Tỳ-6 Tam âm giao.
Không xoa bóp mạnh vùng bụng ngay sau ăn no và không ấn mạnh vùng trước tim.
Cứu ngải
Cứu ngải chỉ phù hợp với Tỳ Thận dương hư, biểu hiện béo phù, sợ lạnh, tay chân lạnh, lưỡi nhạt và rêu trắng trơn.
Có thể cân nhắc Nhâm-4 Quan nguyên, Nhâm-6 Khí hải, Vị-36 Túc tam lý, Đốc-4 Mệnh môn, Bàng quang-23 Thận du và Bàng quang-20 Tỳ du.
Không cứu khi miệng đắng, rêu vàng nhầy, bốc hỏa, tim đập nhanh, huyết áp chưa ổn định hoặc đau ngực cấp.
Chú ý về thuốc giảm cân
Không nên tự dùng thuốc giảm cân, trà giảm cân, thuốc xổ, thuốc lợi tiểu hoặc sản phẩm “đốt mỡ” không rõ thành phần.
Một số sản phẩm có thể gây tim đập nhanh, mất ngủ, huyết áp tăng, mất nước hoặc rối loạn điện giải, đặc biệt nguy hiểm ở người đã có bệnh Tâm mạch.
Thuốc điều trị béo phì cần được lựa chọn căn cứ tình trạng tim, đường huyết, gan, Thận và các thuốc đang sử dụng.
Chú ý về thuốc hoạt huyết
Tam thất (三七), Đan sâm (丹参), Hồng hoa (红花), Đào nhân (桃仁), Xuyên khung (川芎), Uất kim (郁金), Nhũ hương (乳香) và Một dược (没药) đều có thể ảnh hưởng đến huyết hành.
Người đang dùng thuốc chống đông hoặc thuốc kháng kết tập tiểu cầu không nên tự phối hợp những vị này, dù với mục đích giảm mỡ hoặc thông mạch.
Những điều nên làm
Giảm cân từ từ và đều đặn.
Theo dõi cân nặng, vòng bụng và sức chịu đựng khi vận động.
Ăn đúng giờ, giảm ăn khuya và đồ béo ngọt.
Vận động nhẹ mỗi ngày, tăng dần theo sức.
Ngủ đủ và điều chỉnh stress.
Nhận biết tình trạng ăn theo cảm xúc.
Giữ đại tiện thông thuận.
Theo dõi huyết áp, đường huyết và mỡ máu.
Dùng thuốc đang được chỉ định đều đặn.
Những điều không nên làm
Không nhịn ăn cực đoan.
Không dùng thuốc xổ hoặc lợi tiểu để giảm cân.
Không xông hơi quá mức với mục đích làm mất nước.
Không tập nặng đột ngột.
Không ăn quá no rồi vận động mạnh.
Không dùng rượu thuốc để tiêu mỡ hoặc thông mạch.
Không tự dùng thuốc giảm cân không rõ nguồn gốc.
Không tự phối hợp nhiều vị hoạt huyết.
Không xem béo phì chỉ là vấn đề về hình dáng.
Chú ý
Bài viết trình bày nhận thức và phương pháp điều dưỡng theo Trung y. Khi xuất hiện đau ngực dữ dội hoặc kéo dài, đau lan ra vai, cánh tay, lưng, cổ, hàm hoặc vùng thượng vị, kèm khó thở, vã mồ hôi, buồn nôn, choáng ngất hoặc tay chân lạnh, cần đi khám hoặc cấp cứu kịp thời.
Không dùng nhịn ăn, vận động, xoa bóp, thuốc thang, châm cứu hoặc dược thiện để trì hoãn việc xử trí.
Kết luận
Béo phì trong Trung y phần nhiều liên quan đến Tỳ hư, đàm thấp, thấp trọc, khí trệ, huyết ứ và Thận hư. Khi đàm trọc kết với huyết ứ trong Tâm mạch, bệnh mạch vành dễ phát sinh hoặc tăng nặng.
Điều trị không nên chỉ nhằm làm giảm số cân. Tỳ hư cần kiện Tỳ; đàm thấp cần hóa đàm khứ thấp; đàm trọc bế ngực cần thông dương; đàm ứ hỗ kết cần hóa đàm hoạt huyết; thấp nhiệt cần thanh nhiệt hóa thấp; khí hư huyết ứ cần ích khí thông mạch; Tỳ Thận dương hư cần ôn dương hóa khí.
Giảm cân phù hợp là quá trình giúp cơ thể nhẹ hơn nhưng chính khí không suy, sức lực tăng, giấc ngủ tốt hơn, ăn uống điều hòa, vòng bụng giảm và khả năng vận động được cải thiện.
Nói tóm lại, điều dưỡng béo phì kèm bệnh mạch vành cần phối hợp ăn uống, vận động, giấc ngủ, tình chí và biện chứng tạng phủ, không nóng vội và không công phạt quá mức.
Trường Xuân biên soạn và tổng hợp