Khái quát
Hoàng đản 黃疸 là chứng bệnh lấy da, củng mạc mắt và nước tiểu có màu vàng làm biểu hiện chủ yếu.
Trong Tố Vấn – Bình nhân khí tượng luận có câu: “Mục hoàng giả viết hoàng đản”, nghĩa là mắt vàng thì gọi là hoàng đản.
Kim Quỹ Yếu Lược phân hoàng đản thành năm loại gồm hoàng đản, cốc đản, tửu đản, nữ lao đản và hắc đản. Các y gia đời sau tiếp tục phát triển và hệ thống hóa thành hai nhóm lớn là dương hoàng và âm hoàng.
Theo Trung y, sự hình thành hoàng đản có quan hệ mật thiết với Tỳ, Vị, Can và Đởm. Trong đó, thấp tà là yếu tố trung tâm. Thấp có thể theo nhiệt hóa thành thấp nhiệt, phát sinh dương hoàng; cũng có thể theo hàn hóa thành hàn thấp, phát sinh âm hoàng.
Tuy nhiên, dương hoàng và âm hoàng là khái niệm biện chứng dựa trên toàn bộ biểu hiện hàn nhiệt, hư thực, màu sắc vàng da, diễn biến bệnh, lưỡi và mạch. Không thể chỉ căn cứ bilirubin trực tiếp hay gián tiếp tăng để xác định dương hoàng hoặc âm hoàng.
Bệnh cơ căn bản
Tỳ mất vận hóa
Tỳ chủ vận hóa thủy cốc và thủy thấp. Khi Tỳ khí hoặc Tỳ dương suy yếu, thủy thấp không được vận chuyển, tích lại ở Trung tiêu.
Thấp tà làm trở ngại khí cơ, ảnh hưởng sự thăng giáng của Tỳ Vị và sự sơ tiết của Can Đởm. Đởm dịch không theo đường bình thường mà tràn ra da và mắt, từ đó phát sinh hoàng đản.
Thấp nhiệt uẩn kết
Ngoại cảm thấp nhiệt, dịch độc hoặc ăn uống nhiều dầu mỡ, ngọt béo và rượu làm thấp nhiệt tích lại ở Trung tiêu.
Thấp nhiệt hun đốt Can Đởm, làm Can mất sơ tiết, Đởm phủ không thông, dịch mật tràn ra ngoài. Người bệnh thường vàng da tươi, miệng đắng, tiểu vàng đỏ, bụng đầy và rêu lưỡi vàng nhớt.
Hàn thấp ngưng trệ
Bẩm sinh dương khí suy, bệnh kéo dài, ăn nhiều đồ sống lạnh hoặc dùng thuốc đắng lạnh quá mức có thể làm Tỳ dương tổn thương.
Hàn thấp ngưng trệ Trung tiêu khiến khí hóa không hành, Đởm dịch không thông. Da và mắt thường vàng tối, người mệt, sợ lạnh, ăn ít và phân lỏng.
Can Đởm sơ tiết thất thường
Can chủ sơ tiết, Đởm chủ chứa và bài tiết Đởm dịch. Khi Can khí uất trệ, khí cơ không điều đạt, sự bài tiết của Đởm cũng bị trở ngại.
Hoàng đản có thể xuất hiện hoặc kéo dài, kèm đau tức hạ sườn, ngực bụng đầy, hay thở dài và ăn uống giảm.
Khí trệ huyết ứ
Bệnh lâu làm khí trệ, huyết hành không thông. Huyết ứ trở ngại Can lạc và đường vận hành của Đởm dịch, khiến vàng da khó lui.
Người bệnh thường đau hạ sườn cố định, sắc mặt tối, lưỡi tím hoặc có điểm ứ huyết.
Chính khí suy hư
Hoàng đản kéo dài làm Tỳ khí, Can huyết, Can Thận âm hoặc Tỳ Thận dương dần suy yếu.
Khi ấy, bệnh từ thực chuyển hư hoặc hư thực xen kẽ, điều trị cần chuyển từ thanh lợi đơn thuần sang kiện Tỳ, dưỡng huyết, dưỡng âm hoặc ôn dương.
Dương hoàng
Khái niệm
Dương hoàng chủ yếu do thấp nhiệt, nhiệt độc hoặc thấp nhiệt kết hợp với dịch tà làm Can Đởm sơ tiết bất lợi.
Bệnh thường khởi phát tương đối nhanh, sắc vàng tươi sáng, triệu chứng thiên về nhiệt và thực.
Thấp nhiệt uẩn kết
Biểu hiện
Da và mắt vàng tươi như màu quýt chín, miệng đắng, khát, bứt rứt, buồn nôn, chán ăn, bụng đầy, đau tức hạ sườn, tiểu vàng đỏ, đại tiện táo hoặc không thông sảng, lưỡi đỏ, rêu vàng nhớt, mạch huyền sác hoặc hoạt sác.
Bệnh cơ
Thấp nhiệt uẩn kết Can Đởm, làm khí cơ bế tắc, Đởm dịch tràn ra ngoài.
Phép trị
Thanh nhiệt lợi thấp, sơ Can lợi Đởm, thoái hoàng.
Phương thang
Nhân Trần Hao Thang gia giảm.
Nhân trần, Chi tử, Đại hoàng.
Có thể phối hợp Hoàng cầm, Trạch tả, Xa tiền tử, Bạch mao căn, Uất kim, Hổ trượng tùy chứng.
Gia giảm
Buồn nôn có thể gia Trúc nhự, Bán hạ chế.
Đau tức hạ sườn có thể gia Uất kim, Phật thủ, Xuyên luyện tử.
Ngứa nhiều có thể gia Bạch tiên bì, Địa phu tử.
Đại tiện không bí không nên tùy tiện tăng Đại hoàng.
Thấp nặng hơn nhiệt
Biểu hiện
Vàng da không quá tươi, cơ thể nặng nề, mệt mỏi, ăn ít, bụng đầy, buồn nôn, miệng nhạt dính, phân lỏng hoặc sền sệt, tiểu ít, lưỡi hơi đỏ hoặc nhạt, rêu trắng dày nhớt, mạch nhu hoãn.
Bệnh cơ
Thấp trọc vây khốn Trung tiêu, Tỳ mất vận hóa, Can Đởm sơ tiết không thuận.
Phép trị
Kiện Tỳ hóa thấp, lợi thủy thoái hoàng.
Phương thang
Nhân Trần Ngũ Linh Tán hoặc Nhân Trần Tứ Linh Tán gia giảm.
Nhân trần, Phục linh, Trư linh, Trạch tả, Bạch truật.
Bụng đầy có thể gia Hậu phác, Trần bì.
Ăn kém có thể gia Sơn tra, Mạch nha, Kê nội kim.
Thấp nhiệt ngang nhau
Biểu hiện
Vàng da rõ, miệng đắng, cơ thể nặng nề, ngực bụng bức bối, ăn uống giảm, buồn nôn, tiểu vàng, phân không điều hòa, lưỡi đỏ, rêu vàng nhớt, mạch hoạt sác.
Bệnh cơ
Thấp và nhiệt cùng thịnh, uẩn kết ở Trung tiêu và Can Đởm.
Phép trị
Thanh nhiệt giải độc, phương hương hóa thấp, lợi Đởm thoái hoàng.
Phương thang
Cam Lộ Tiêu Độc Đan gia giảm.
Hoạt thạch, Hoàng cầm, Nhân trần, Hoắc hương, Liên kiều, Bạch đậu khấu, Bạc hà, Phục linh.
Nhiệt độc nội hãm
Biểu hiện
Vàng da tăng nhanh, màu vàng đậm, sốt cao, khát, bồn chồn, bụng trướng, đại tiện bí, tiểu đỏ, có thể xuất huyết, mê sảng hoặc rối loạn ý thức, lưỡi đỏ sẫm, rêu vàng khô, mạch hồng sác.
Bệnh cơ
Thấp nhiệt hóa độc, nhiệt độc xâm nhập doanh huyết và Tâm bào.
Phép trị
Thanh nhiệt giải độc, lương huyết, khai khiếu.
Phương thang
Nhân Trần Hao Thang hợp Hoàng Liên Giải Độc Thang gia giảm.
Nhân trần, Chi tử, Hoàng liên, Hoàng cầm, Hoàng bá, Liên kiều, Bạch mao căn, Uất kim.
Chú ý
Đây có thể là biểu hiện của suy gan cấp hoặc viêm gan thể nặng. Người bệnh phải được điều trị tại bệnh viện; Trung dược không thay thế hồi sức và xử trí chuyên khoa.
Âm hoàng
Khái niệm
Âm hoàng chủ yếu do Tỳ dương suy, hàn thấp nội đình hoặc bệnh hoàng đản kéo dài làm chính khí suy yếu.
Bệnh thường diễn tiến chậm, sắc vàng tối xỉn, triệu chứng thiên về hàn, thấp và hư.
Hàn thấp ngưng trệ
Biểu hiện
Da và mắt vàng tối, sắc vàng như khói hun, người mệt, sợ lạnh, tay chân lạnh, ăn ít, bụng đầy, phân lỏng, tiểu ít, lưỡi nhạt to, rêu trắng trơn, mạch trầm trì hoặc trầm nhược.
Bệnh cơ
Tỳ dương suy yếu, hàn thấp tích lại, khí hóa không hành, Đởm dịch bị ngăn trở.
Phép trị
Ôn dương kiện Tỳ, hóa thấp thoái hoàng.
Phương thang
Nhân Trần Truật Phụ Thang gia giảm.
Nhân trần, Bạch truật, Phụ tử chế, Can khương, Phục linh, Trạch tả.
Khí hư rõ có thể gia Hoàng kỳ, Đảng sâm.
Đau bụng do hàn có thể cân nhắc Quế chi hoặc Nhục quế.
Chú ý
Phụ tử có độc, chỉ được dùng khi hàn thấp và dương hư đã được xác định rõ.
Tỳ hư thấp trệ
Biểu hiện
Vàng da kéo dài, sắc vàng nhạt tối, mệt mỏi, ăn ít, bụng đầy sau ăn, phân nhão, sắc mặt vàng nhạt, lưỡi nhạt có dấu răng, rêu trắng nhớt, mạch nhu nhược.
Bệnh cơ
Tỳ khí hư, vận hóa không mạnh, thấp trọc lưu lại làm Can Đởm không thông.
Phép trị
Kiện Tỳ ích khí, hóa thấp thoái hoàng.
Phương thang
Hương Sa Lục Quân Tử Thang hợp Nhân Trần Tứ Linh Tán gia giảm.
Đảng sâm, Bạch truật, Phục linh, Cam thảo, Trần bì, Bán hạ chế, Mộc hương, Sa nhân, Nhân trần, Trạch tả.
Khí huyết lưỡng hư
Biểu hiện
Vàng da kéo dài, sắc vàng nhạt, sắc mặt không tươi, mệt mỏi, hồi hộp, chóng mặt, ăn ít, lưỡi nhạt, mạch tế nhược.
Bệnh cơ
Bệnh lâu làm Tỳ khí và huyết cùng suy, Can mất nuôi dưỡng, thấp tà còn lưu lại.
Phép trị
Kiện Tỳ ích khí, dưỡng huyết, hóa thấp.
Phương thang
Quy Tỳ Thang hoặc Thập Toàn Đại Bổ Thang gia giảm, phối hợp Nhân trần với lượng thích hợp khi thấp còn tồn tại.
Không nên dùng thuốc bổ nê trệ khi bụng đầy và rêu lưỡi còn dày nhớt.
Âm hoàng và dương hoàng có thể chuyển hóa
Dương hoàng kéo dài, thấp nhiệt không giải hoặc dùng thuốc khổ hàn quá mức có thể làm Tỳ dương suy, từ đó chuyển thành âm hoàng.
Ngược lại, người vốn thuộc âm hoàng nếu cảm nhiễm tà độc hoặc hàn thấp uất lâu hóa nhiệt có thể xuất hiện dấu hiệu thấp nhiệt, hình thành hư thực và hàn nhiệt xen kẽ.
Vì vậy, không nên căn cứ một lần quan sát màu da rồi giữ nguyên phương pháp điều trị. Cần theo dõi sự thay đổi của toàn bộ chứng trạng, lưỡi và mạch.
Khí trệ huyết ứ trong hoàng đản
Biểu hiện
Vàng da kéo dài, hạ sườn đau cố định, đau như châm chích, sắc mặt tối, môi tím, gan hoặc lách to, lưỡi tím hoặc có điểm ứ huyết, mạch huyền sáp.
Bệnh cơ
Can khí uất lâu ngày, huyết hành không thông, ứ trệ Can lạc và đường vận hành Đởm dịch.
Phép trị
Sơ Can lý khí, hoạt huyết hóa ứ, lợi Đởm thông lạc.
Phương thang
Cách Hạ Trục Ứ Thang hoặc Huyết Phủ Trục Ứ Thang gia giảm.
Đan sâm, Uất kim, Xích thược, Đương quy, Xuyên khung, Đào nhân, Hồng hoa, Chỉ xác.
Chú ý
Người giảm tiểu cầu, rối loạn đông máu hoặc đang xuất huyết không được tự dùng thuốc hoạt huyết mạnh.
Thai hoàng ở trẻ sơ sinh
Khái quát
Thai hoàng là chứng vàng da xuất hiện ở trẻ mới sinh. Một số trường hợp thuộc biến đổi sinh lý và tự giảm, nhưng vàng da kéo dài hoặc tăng nhanh có thể liên quan đến tan máu, nhiễm khuẩn, tổn thương gan, rối loạn chuyển hóa hoặc tắc nghẽn đường mật.
Theo Trung y, thai hoàng thường liên quan thấp nhiệt do thai truyền, thấp trọc nội đình hoặc Tỳ dương bất túc.
Thấp nhiệt thai hoàng
Biểu hiện
Da và mắt vàng tươi, nước tiểu vàng, trẻ quấy khóc, bú kém, bụng đầy, phân không điều hòa, lưỡi hoặc niêm mạc miệng hơi đỏ.
Phép trị
Thanh nhiệt lợi thấp, thoái hoàng.
Việc dùng thuốc cho trẻ sơ sinh phải do thầy thuốc chuyên khoa trực tiếp quyết định, không được tự cho trẻ uống Nhân trần, Đại hoàng hoặc nước thuốc dân gian.
Hàn thấp thai hoàng
Biểu hiện
Vàng da tối, sắc vàng nhạt xỉn, trẻ ít vận động, bú yếu, tay chân lạnh, bụng đầy, phân lỏng.
Phép trị
Ôn Trung kiện Tỳ, hóa thấp thoái hoàng.
Chú ý
Vàng da ở trẻ sơ sinh không được chỉ điều trị theo màu sắc. Cần xác định bilirubin, tuổi xuất hiện vàng da, tình trạng bú, màu phân, màu nước tiểu và nguyên nhân cụ thể.
Phân trắng, nước tiểu sẫm và vàng da kéo dài là dấu hiệu cần được đánh giá sớm để loại trừ tắc hoặc teo đường mật.
Những điểm cần hiểu đúng
Vàng da không đồng nghĩa với viêm gan
Vàng da có thể do tan máu, tổn thương tế bào gan, tắc đường mật, nhiễm khuẩn, bệnh chuyển hóa hoặc nhiều nguyên nhân khác.
Không có vàng da vẫn có thể mắc viêm gan
Một số người viêm gan không biểu hiện vàng da, chỉ có mệt mỏi, ăn kém hoặc xét nghiệm chức năng gan bất thường.
Màu vàng không quyết định nguyên nhân
Sắc vàng tươi hay tối có giá trị tham khảo trong biện chứng Trung y nhưng không thể thay thế xét nghiệm và chẩn đoán hình ảnh.
Âm hoàng không đồng nghĩa vàng da tắc nghẽn
Vàng da tắc nghẽn có thể biểu hiện thấp nhiệt, hàn thấp hoặc khí trệ huyết ứ. Cần căn cứ toàn bộ chứng trạng để biện chứng.
Dương hoàng không đồng nghĩa bilirubin gián tiếp tăng
Bilirubin trực tiếp và gián tiếp là khái niệm xét nghiệm của y học hiện đại. Dương hoàng và âm hoàng là các thể chứng Trung y, không có quan hệ tương ứng cố định một đối một.
Nguyên tắc sử dụng Trung dược
Loại trừ tắc nghẽn cơ học
Trước khi dùng thuốc lợi Đởm thoái hoàng, cần loại trừ sỏi kẹt, hẹp đường mật, u đầu tụy, u đường mật hoặc teo đường mật ở trẻ sơ sinh.
Không tự dùng thuốc công hạ
Đại hoàng chỉ phù hợp khi thấp nhiệt thực chứng kèm đại tiện bí. Dùng không đúng có thể gây tiêu chảy, mất nước và tổn thương Tỳ Vị.
Không dùng thuốc đắng lạnh kéo dài
Nhân trần, Chi tử, Hoàng cầm và Hoàng liên phần lớn có tính hàn. Dùng lâu ở người Tỳ hư có thể làm ăn uống giảm, bụng đầy và phân lỏng.
Không chỉ nhằm làm giảm bilirubin
Bilirubin giảm không đồng nghĩa nguyên nhân bệnh đã được giải quyết. Cần theo dõi chức năng gan, đông máu, hình ảnh đường mật và tình trạng toàn thân.
Điều dưỡng
Ăn uống thanh đạm, đủ dinh dưỡng và dễ tiêu.
Kiêng rượu bia hoàn toàn.
Không tự dùng thuốc bổ gan, trà thảo dược hoặc thực phẩm bổ sung không rõ thành phần.
Giữ da sạch, tránh tắm nước quá nóng và cào gãi mạnh khi ngứa.
Theo dõi màu phân, nước tiểu, mức độ vàng da, bụng trướng và tình trạng tinh thần.
Dấu hiệu cần đi khám ngay
Vàng da tăng nhanh.
Phân trắng hoặc bạc màu.
Nước tiểu sẫm rõ.
Sốt cao, rét run.
Đau dữ dội vùng hạ sườn phải.
Nôn nhiều hoặc không ăn uống được.
Xuất huyết bất thường.
Bụng trướng nhanh.
Ngủ gà, nói sảng hoặc rối loạn ý thức.
Trẻ sơ sinh vàng da kéo dài trên hai tuần, bú kém hoặc phân bạc màu.
Kết luận
Theo Trung y, hoàng đản lấy thấp tà làm trọng tâm, liên quan mật thiết đến sự vận hóa của Tỳ Vị và sự sơ tiết của Can Đởm.
Dương hoàng chủ yếu do thấp nhiệt và nhiệt độc, thường điều trị bằng thanh nhiệt lợi thấp, giải độc thoái hoàng. Âm hoàng chủ yếu do hàn thấp và Tỳ dương suy, thường điều trị bằng ôn dương kiện Tỳ, hóa thấp thoái hoàng.
Bệnh kéo dài có thể xuất hiện khí trệ huyết ứ, khí huyết hư hoặc hư thực xen kẽ. Vì vậy, điều trị cần căn cứ từng giai đoạn, không nên giữ nguyên một phương pháp chỉ dựa vào màu sắc vàng da.
Nói tóm lại, âm hoàng và dương hoàng là hệ thống biện chứng của Trung y, không thể đồng nhất với bilirubin trực tiếp hay gián tiếp. Việc điều trị hoàng đản phải được tiến hành trên cơ sở đã xác định nguyên nhân và loại trừ các tình trạng tắc nghẽn hoặc suy gan nguy hiểm.
Trường Xuân biên soạn