Khái quát
Tưa miệng là tình trạng nấm Candida phát triển quá mức ở niêm mạc khoang miệng. Bệnh thường biểu hiện bằng những mảng trắng giống sữa đông bám trên lưỡi, mặt trong má, môi, lợi, vòm miệng hoặc họng. Khi lau hoặc cạo mạnh, phía dưới có thể đỏ, đau hoặc chảy máu nhẹ.
Bệnh thường gặp ở trẻ sơ sinh, trẻ nhỏ, người cao tuổi, người đeo răng giả, người sử dụng kháng sinh kéo dài, người dùng corticosteroid dạng hít, người đái tháo đường, người suy dinh dưỡng hoặc suy giảm miễn dịch.
Candida có thể tồn tại với số lượng nhỏ trong khoang miệng mà không gây bệnh. Khi môi trường miệng thay đổi, vi khuẩn có lợi giảm, niêm mạc khô, đường huyết tăng hoặc chính khí suy yếu, nấm có điều kiện phát triển mạnh và gây tổn thương.
Trong Trung y, tưa miệng thường được quy vào phạm vi các chứng Nga khẩu sang, Tuyết khẩu, Khẩu sang hoặc Khẩu hồ. Bệnh thường liên quan đến Tâm Tỳ tích nhiệt, Vị hỏa thượng viêm, thấp nhiệt uẩn kết, Âm hư hỏa vượng hoặc Tỳ Vị hư nhược khiến thấp trọc lưu lại ở miệng.
Nguyên nhân và yếu tố thuận lợi
Tỳ Vị non yếu ở trẻ nhỏ
Trẻ sơ sinh và trẻ nhỏ có Tỳ Vị chưa kiện toàn, khả năng vận hóa còn yếu. Nếu bú sữa không điều độ, thức ăn hoặc sữa đọng lại trong miệng, vệ sinh dụng cụ bú không sạch, thấp trọc và uế khí dễ lưu lại, tạo điều kiện cho bệnh phát sinh.
Tâm Tỳ tích nhiệt
Ăn uống không điều độ, sữa tích, thức ăn đình trệ hoặc nhiệt uẩn lâu ngày có thể làm Tâm Tỳ tích nhiệt. Nhiệt theo kinh bốc lên miệng lưỡi, hun đốt niêm mạc, làm xuất hiện mảng trắng, đỏ rát, hôi miệng và quấy khóc.
Vị hỏa thượng viêm
Vị hỏa thịnh có thể theo kinh bốc lên vùng miệng, lợi và lưỡi. Người bệnh thường có miệng đỏ rát, hơi thở hôi, khát nước, táo bón và lợi sưng đau.
Thấp nhiệt uẩn kết
Tỳ mất kiện vận làm thấp tụ lại. Thấp lâu hóa nhiệt, thấp nhiệt uẩn ở trung tiêu và bốc lên miệng, khiến mảng trắng dày, bám dai, miệng nhớt, ăn kém, bụng đầy và đại tiện không điều hòa.
Âm hư hỏa vượng
Bệnh kéo dài, sốt lâu ngày, dùng thuốc hao tân dịch, tuổi cao hoặc mắc bệnh mạn tính có thể làm Âm dịch suy giảm. Hư hỏa bốc lên miệng lưỡi, khiến niêm mạc đỏ, khô, đau rát và bệnh dễ tái phát.
Tỳ Vị hư nhược
Tỳ Vị hư yếu làm khí huyết và tân dịch sinh hóa không đầy đủ, đồng thời thấp trọc khó được vận hóa. Chính khí suy khiến nấm dễ phát triển và bệnh dễ kéo dài hoặc tái phát.
Các yếu tố thuận lợi theo y học hiện đại
Sử dụng kháng sinh kéo dài có thể làm giảm hệ vi khuẩn có lợi trong miệng.
Dùng corticosteroid dạng hít nhưng không súc miệng sau khi sử dụng dễ làm thuốc đọng lại trên niêm mạc.
Đường huyết cao làm nấm Candida dễ sinh trưởng.
Răng giả không được vệ sinh sạch, đeo cả khi ngủ hoặc gây cọ xát niêm mạc làm tăng nguy cơ mắc bệnh.
Khô miệng do thuốc, tuổi cao, bệnh tuyến nước bọt hoặc xạ trị vùng đầu cổ làm giảm khả năng tự làm sạch khoang miệng.
Người mắc bệnh mạn tính, suy dinh dưỡng, HIV, ung thư, đang hóa trị hoặc sử dụng thuốc ức chế miễn dịch có nguy cơ mắc bệnh nặng và tái phát cao hơn.
Biểu hiện lâm sàng
Trong miệng xuất hiện những mảng trắng hoặc trắng ngà giống sữa đông.
Mảng trắng thường bám tương đối chắc, không dễ lau sạch như cặn sữa thông thường.
Khi lau mạnh, phía dưới có thể đỏ, đau hoặc chảy máu nhẹ.
Niêm mạc miệng có thể đỏ, nóng rát hoặc nhạy cảm khi ăn.
Người bệnh có thể giảm vị giác, miệng nhạt, đắng hoặc ăn không ngon.
Hai khóe miệng có thể đỏ, nứt và đau.
Trẻ nhỏ có thể bú kém, nhả vú, quấy khóc hoặc ngủ không yên.
Nếu nấm lan xuống họng hoặc thực quản, người bệnh có thể đau khi nuốt, nuốt vướng hoặc nuốt khó.
Chẩn đoán và phân biệt
Tưa miệng thường được nhận biết qua hình ảnh mảng trắng đặc trưng và những yếu tố thuận lợi đi kèm.
Cần phân biệt với cặn sữa ở trẻ nhỏ. Cặn sữa thường dễ lau sạch và niêm mạc bên dưới không đỏ đau rõ. Mảng tưa thường bám chắc hơn, sau khi lau có thể để lại nền đỏ hoặc chảy máu nhẹ.
Cần phân biệt với bạch sản, lichen phẳng, loét miệng, viêm miệng do thuốc, tổn thương do bỏng hoặc các bệnh lý khác của niêm mạc miệng.
Nếu bệnh kéo dài, tái phát nhiều lần hoặc hình thái không điển hình, có thể cần lấy mẫu tổn thương để kiểm tra nấm và đánh giá bệnh nền.
Biện chứng luận trị
Tâm Tỳ tích nhiệt
Biểu hiện
Miệng và lưỡi có nhiều mảng trắng phân bố rải rác hoặc lan rộng; niêm mạc bên dưới đỏ, đau rát; môi đỏ, hơi thở hôi, trẻ quấy khóc, bú kém, ngủ không yên; có thể kèm khát nước, tiểu tiện vàng, đại tiện táo. Lưỡi đỏ, đầu lưỡi đỏ hơn, rêu vàng mỏng hoặc trắng bẩn; mạch Sác.
Bệnh cơ
Tâm Tỳ tích nhiệt, hỏa nhiệt bốc lên miệng lưỡi, nung đốt niêm mạc và làm thấp trọc ngưng đọng.
Phép trị
Thanh Tâm tả Tỳ, giải độc tiêu sang.
Phương thang
Đạo xích tán hợp Tả hoàng tán gia giảm.
Có thể căn cứ biểu hiện mà phối hợp Sinh địa, Trúc diệp, Mộc thông, Thạch cao, Chi tử, Hoắc hương, Phòng phong, Hoàng liên và Cam thảo.
Miệng đau rát rõ có thể gia Kim ngân hoa và Liên kiều.
Khô miệng, khát nước có thể gia Mạch môn, Huyền sâm hoặc Thiên hoa phấn.
Trẻ nhỏ dùng thuốc cần giảm liều thích hợp và phải có người có chuyên môn hướng dẫn.
Vị hỏa thượng viêm
Biểu hiện
Miệng lưỡi đỏ rát, mảng trắng hoặc trắng vàng, hơi thở hôi, khát nước, thích uống mát, lợi sưng đau, đại tiện táo, tiểu tiện vàng. Lưỡi đỏ, rêu vàng; mạch Hồng Sác hoặc Sác.
Bệnh cơ
Vị hỏa thịnh, theo kinh bốc lên miệng và lợi, làm tổn thương niêm mạc và hao tân dịch.
Phép trị
Thanh Vị tả hỏa, giải độc sinh tân.
Phương thang
Thanh vị tán gia giảm.
Có thể phối hợp Sinh địa, Mẫu đơn bì, Hoàng liên, Thạch cao, Tri mẫu, Thăng ma và Cam thảo.
Miệng khô rõ có thể gia Mạch môn và Huyền sâm.
Lợi sưng đau có thể gia Kim ngân hoa và Liên kiều.
Thấp nhiệt uẩn kết
Biểu hiện
Mảng trắng dày, bám dai, miệng nhớt, hơi thở hôi, ăn kém, bụng đầy, đại tiện dính hoặc không đều, tiểu tiện vàng. Lưỡi đỏ, rêu vàng nhầy hoặc trắng nhầy; mạch Hoạt Sác.
Bệnh cơ
Tỳ mất kiện vận, thấp trọc đình tụ, thấp lâu hóa nhiệt và uẩn kết ở miệng.
Phép trị
Thanh nhiệt hóa thấp, giải độc hòa Vị.
Phương thang
Cam lộ tiêu độc đan gia giảm.
Có thể phối hợp Hoạt thạch, Nhân trần, Hoàng cầm, Hoắc hương, Bạch đậu khấu, Thạch xương bồ, Liên kiều, Mộc thông và Cam thảo.
Miệng nhớt, hơi thở hôi có thể gia Bội lan và Trần bì.
Ăn kém, bụng đầy có thể gia Sa nhân và Kê nội kim.
Âm hư hỏa vượng
Biểu hiện
Bệnh kéo dài hoặc tái phát nhiều lần; mảng trắng không quá dày, niêm mạc đỏ, miệng khô và đau rát; môi khô, ngủ kém, lòng bàn tay bàn chân nóng, có thể ra mồ hôi đêm. Lưỡi đỏ, ít rêu; mạch Tế Sác.
Bệnh cơ
Âm dịch hao tổn, hư hỏa bốc lên miệng lưỡi, làm niêm mạc mất sự nhu dưỡng. Chính khí suy khiến bệnh khó khỏi và dễ tái phát.
Phép trị
Tư Âm giáng hỏa, sinh tân nhuận táo.
Phương thang
Tri bá địa hoàng hoàn hợp Tăng dịch thang gia giảm.
Có thể phối hợp Sinh địa, Thục địa, Sơn thù du, Sơn dược, Mẫu đơn bì, Tri mẫu, Hoàng bá, Huyền sâm và Mạch môn.
Miệng rát nhiều có thể gia Thạch hộc và Thiên hoa phấn.
Mất ngủ có thể gia Toan táo nhân và Dạ giao đằng.
Tỳ Vị hư nhược, thấp trọc lưu luyến
Biểu hiện
Tưa miệng tái phát, mảng trắng mềm, miệng nhạt, ăn kém, bụng đầy, đại tiện lỏng hoặc phân nát, sắc mặt nhợt, người mệt. Lưỡi nhạt, rêu trắng nhầy; mạch Nhu Nhược.
Bệnh cơ
Tỳ Vị hư yếu, vận hóa kém, thấp trọc lưu lại ở miệng; khí huyết không đầy đủ nên niêm mạc kém được bảo vệ.
Phép trị
Kiện Tỳ ích khí, hóa thấp hòa Vị.
Phương thang
Tham linh bạch truật tán gia giảm.
Có thể phối hợp Đảng sâm, Bạch truật, Phục linh, Sơn dược, Liên tử, Bạch biển đậu, Ý dĩ nhân, Sa nhân, Trần bì, Hoắc hương và Cam thảo.
Đại tiện lỏng rõ có thể gia Khiếm thực.
Miệng nhớt, rêu dày có thể gia Bội lan.
Người mệt nhiều có thể gia Hoàng kỳ.
Nhiệt độc thịnh
Biểu hiện
Tưa miệng kèm niêm mạc sưng đỏ, đau nhiều, có thể xuất hiện vết trợt loét, lợi sưng, hơi thở hôi, sốt, trẻ quấy khóc dữ dội, tiểu tiện vàng và đại tiện táo. Lưỡi đỏ, rêu vàng; mạch Sác.
Bệnh cơ
Nhiệt độc uất thịnh ở miệng lưỡi, nung đốt niêm mạc và làm huyết lạc tổn thương.
Phép trị
Thanh nhiệt giải độc, lương huyết tiêu sang.
Phương thang
Ngũ vị tiêu độc ẩm hợp Đạo xích tán gia giảm.
Có thể phối hợp Kim ngân hoa, Bồ công anh, Tử hoa địa đinh, Dã cúc hoa, Sinh địa, Huyền sâm, Trúc diệp và Cam thảo.
Trường hợp này cần phân biệt với viêm miệng do virus, bệnh tay chân miệng, herpes hoặc nhiễm khuẩn khác. Nếu sốt, bỏ bú, mệt lả hoặc tổn thương lan rộng, cần được khám sớm.
Điều trị theo y học hiện đại
Thuốc kháng nấm là nền tảng điều trị tưa miệng. Tùy tuổi, mức độ bệnh và tình trạng miễn dịch, bác sĩ có thể chỉ định thuốc kháng nấm tại chỗ hoặc toàn thân.
Người bệnh cần dùng thuốc đủ thời gian được hướng dẫn, ngay cả khi mảng trắng đã giảm sớm. Ngừng thuốc quá sớm có thể làm bệnh tái phát.
Trường hợp bệnh nặng, tái phát nhiều lần, lan xuống họng hoặc thực quản, hoặc xảy ra ở người suy giảm miễn dịch cần được đánh giá và điều trị tại cơ sở y tế.
Trung y có thể hỗ trợ điều chỉnh thể trạng, Tỳ Vị, tân dịch và những yếu tố làm bệnh tái phát, nhưng không nên thay thế thuốc kháng nấm khi đã xác định nhiễm Candida rõ ràng.
Chăm sóc khoang miệng
Giữ vệ sinh miệng nhẹ nhàng, không cạo mạnh mảng trắng vì có thể làm niêm mạc chảy máu và đau.
Người lớn nên sử dụng bàn chải mềm, vệ sinh răng và lưỡi vừa phải.
Trẻ nhỏ có thể được lau miệng nhẹ bằng gạc sạch theo hướng dẫn của nhân viên y tế. Không tự chà xát mạnh.
Có thể súc miệng bằng nước muối sinh lý đối với người lớn và trẻ đã biết súc rồi nhổ ra.
Không sử dụng nước muối quá mặn, thuốc sát khuẩn mạnh, thuốc tím hoặc tinh dầu đậm đặc trên niêm mạc miệng.
Không tự bôi mật ong cho trẻ dưới mười hai tháng tuổi.
Không tự dùng thuốc kháng nấm của người lớn cho trẻ nhỏ.
Không dùng các loại bột thuốc hoặc hỗn hợp dân gian chưa rõ độ sạch và an toàn trực tiếp lên niêm mạc miệng.
Phòng ngừa tái phát
Vệ sinh bình sữa và núm vú
Bình sữa, núm vú, núm vú giả và các dụng cụ cho trẻ bú cần được rửa sạch và tiệt trùng đúng cách.
Nếu trẻ đang bú mẹ và bệnh tái phát, người mẹ cũng cần kiểm tra nếu núm vú đau, đỏ, nứt hoặc rát để tránh lây qua lại.
Súc miệng sau khi dùng corticosteroid dạng hít
Người sử dụng thuốc hít corticosteroid nên súc miệng hoặc đánh răng sau mỗi lần dùng thuốc. Có thể sử dụng buồng đệm nếu được chỉ định.
Vệ sinh răng giả
Răng giả cần được tháo khi ngủ, làm sạch hằng ngày và kiểm tra định kỳ xem có cọ xát hoặc không vừa hay không.
Kiểm soát đường huyết
Người đái tháo đường cần kiểm soát đường huyết ổn định. Tưa miệng tái phát ở người lớn không rõ nguyên nhân nên được kiểm tra đường huyết và các bệnh nền khác.
Hạn chế sử dụng kháng sinh không cần thiết
Kháng sinh chỉ nên dùng khi có chỉ định. Việc lạm dụng kháng sinh có thể làm hệ vi sinh trong miệng mất cân bằng và khiến Candida phát triển.
Giảm khô miệng
Uống đủ nước nếu không có chống chỉ định. Người bị khô miệng kéo dài cần tìm nguyên nhân do thuốc, bệnh tuyến nước bọt hoặc bệnh toàn thân.
Điều dưỡng ăn uống
Khi miệng đau, nên ăn thức mềm, ấm vừa và dễ nuốt.
Tránh thức ăn quá cay, quá nóng, quá chua hoặc quá mặn.
Hạn chế rượu, thuốc lá và các chất làm khô niêm mạc.
Không cần kiêng khem quá mức, nhưng người bệnh nên hạn chế đồ ngọt đậm nếu ăn vào làm miệng nhớt hoặc bệnh dễ tái phát.
Trẻ nhỏ cần được bảo đảm dinh dưỡng đầy đủ. Không tự ý giảm sữa hoặc thức ăn chỉ vì thấy mảng trắng trong miệng.
Chú ý
Trẻ sơ sinh và trẻ nhỏ cần đi khám khi có một trong những biểu hiện sau:
Bú kém hoặc bỏ bú.
Quấy khóc nhiều do đau miệng.
Sốt, mệt lả hoặc có dấu hiệu mất nước.
Mảng tưa lan rộng hoặc không cải thiện.
Bệnh tái phát nhiều lần.
Có khó thở, nuốt khó hoặc nôn nhiều.
Người lớn cần đi khám khi:
Bệnh kéo dài hoặc tái phát nhiều lần.
Đau khi nuốt, nuốt nghẹn hoặc nuốt khó.
Sốt, sụt cân hoặc suy kiệt.
Đang mắc đái tháo đường, ung thư hoặc suy giảm miễn dịch.
Đang dùng corticosteroid, hóa trị hoặc thuốc ức chế miễn dịch.
Mảng trắng không giống tưa miệng thông thường, không cạo được hoặc tồn tại kéo dài.
Nói tóm lại
Tưa miệng, còn gọi là Nga khẩu sang hoặc Tuyết khẩu, là bệnh do nấm Candida phát triển quá mức trong khoang miệng. Bệnh thường biểu hiện bằng các mảng trắng như sữa đông, bám tương đối chắc trên lưỡi và niêm mạc miệng, có thể gây đau rát, bú kém, ăn kém và giảm vị giác.
Theo Trung y, bệnh thường liên quan đến Tâm Tỳ tích nhiệt, Vị hỏa thượng viêm, thấp nhiệt uẩn kết, Âm hư hỏa vượng hoặc Tỳ Vị hư nhược. Điều trị cần căn cứ vào hư thực, hàn nhiệt và tình trạng của Tỳ Vị, tân dịch, không nên dùng một phương cố định cho mọi trường hợp.
Thuốc kháng nấm, vệ sinh khoang miệng và loại bỏ những yếu tố thuận lợi vẫn là nền tảng điều trị. Trung y có thể hỗ trợ điều chỉnh thể trạng và giảm tái phát khi được vận dụng đúng thể. Trường hợp bệnh lan rộng, kéo dài, tái phát hoặc xuất hiện ở người suy giảm miễn dịch cần được khám và điều trị đầy đủ.
Trường Xuân biên soạn