Khái luận
Trong Trung y cổ đại không có bệnh danh “viêm nội tâm mạc cảm nhiễm” hoàn toàn tương ứng với cách gọi hiện nay. Căn cứ những biểu hiện như sốt kéo dài, rét run, vã mồ hôi, mệt mỏi, hồi hộp, khó thở, đau tức ngực, xuất huyết dưới da, đau khớp, phù thũng, tiểu máu và sắc mặt tối, bệnh có thể được xem xét trong phạm vi Ôn bệnh (温病), Nhiệt nhập doanh huyết (热入营血), Độc nhiệt nhập Tâm (毒热入心), Tâm quý (心悸), Chinh xung (怔忡), Hung tý (胸痹), Suyễn chứng (喘证), Thủy thũng (水肿), Huyết chứng (血证), Huyết ứ chứng (血瘀证) và Hư lao (虚劳).
Bệnh phần nhiều bắt đầu từ tà độc xâm nhập, theo huyết mạch đi sâu vào Tâm. Khi nhiệt độc uất kết trong huyết phận, Tâm mạch bị quấy nhiễu, khí huyết vận hành không thuận, người bệnh có thể sốt, hồi hộp, đau tức ngực, ban xuất huyết hoặc chấm xuất huyết. Nếu nhiệt độc kéo dài, huyết bị nung đốt mà thành ứ, độc và ứ kết lại trong mạch lạc, có thể gây đau đột ngột ở một vùng cơ thể, tiểu máu, đau bụng, đau lưng hoặc các biểu hiện tắc trở kinh lạc.
Khi bệnh lâu ngày, chính khí bị hao tổn, khí âm cùng suy, Tâm khí mất nuôi dưỡng, Tỳ Vị suy yếu, người bệnh thường mệt lả, ăn kém, hồi hộp, thở ngắn và sốt âm ỉ. Nếu Tâm dương bị tổn thương, thủy dịch không được khí hóa, có thể xuất hiện phù, tiểu ít, khó thở khi nằm và tay chân lạnh.
Bệnh cơ
Bệnh cơ có thể khái quát bằng bốn chữ “bản hư tiêu thực” (本虚标实).
Bản hư thường gồm chính khí bất túc, Tâm khí hư, khí âm lưỡng hư, Tỳ khí hư, Tâm dương hư hoặc Tỳ Thận dương hư.
Tiêu thực thường gồm nhiệt độc, thấp nhiệt, huyết nhiệt, huyết ứ, đàm trọc và thủy ẩm làm Tâm mạch bị trở ngại.
Trong giai đoạn đầu, nhiệt độc và thấp nhiệt thường nổi bật. Khi tà độc đi sâu vào doanh huyết, có thể làm huyết nhiệt vọng hành, sinh ban chẩn, chấm xuất huyết và tiểu máu. Khi bệnh kéo dài, nhiệt độc hao khí thương âm, đồng thời huyết ứ và đàm trọc dần hình thành. Nếu Tâm dương suy, thủy khí đình lại, bệnh chuyển sang trạng thái hư thực xen lẫn.
Nói tóm lại, độc nhiệt là nguyên nhân trực tiếp, huyết ứ là yếu tố quan trọng làm bệnh kéo dài, còn chính khí suy là nền tảng khiến tà độc khó giải và cơ thể chậm phục hồi.
Nguyên tắc điều trị
Giai đoạn nhiệt độc còn thịnh, phép trị chủ yếu là thanh nhiệt giải độc, lương huyết và bảo vệ Tâm mạch. Khi thấp nhiệt rõ, cần thanh nhiệt hóa thấp, tuyên thông khí cơ. Khi nhiệt vào doanh huyết, cần thanh doanh lương huyết, tán ứ và chỉ huyết theo chứng.
Sau giai đoạn sốt và nhiễm trùng kéo dài, nếu khí âm cùng hao, cần ích khí dưỡng âm, thanh dư nhiệt và dưỡng Tâm. Nếu Tâm khí suy, cần ích khí dưỡng Tâm, kiện Tỳ phục chính. Khi Tâm dương suy, thủy khí nội đình, cần ôn dương ích khí và lợi thủy, nhưng phải hết sức thận trọng.
Viêm nội tâm mạc cảm nhiễm là bệnh nguy hiểm. Các phương pháp Trung y chỉ có thể được xem xét ở vai trò hỗ trợ, không thay thế việc điều trị nhiễm trùng và xử trí biến chứng.
Một. Nhiệt độc và thấp nhiệt phạm Tâm
Nhóm này thường gặp khi bệnh đang tiến triển, biểu hiện sốt, rét run, khát, mạch sác, lưỡi đỏ hoặc rêu vàng nhầy. Tùy nhiệt độc hay thấp nhiệt nổi bật mà lập pháp khác nhau.
Nhiệt độc nhập huyết, phạm Tâm mạch
Chứng trạng
Sốt cao hoặc sốt dao động, rét run, vã mồ hôi, khát nước, mệt nhiều, hồi hộp, ngực tức, đau cơ khớp, có thể xuất hiện chấm xuất huyết dưới da. Lưỡi đỏ, rêu vàng, mạch sác hoặc hoạt sác.
Bệnh cơ
Nhiệt độc theo huyết mạch xâm nhập Tâm, làm Tâm thần và Tâm mạch bị quấy nhiễu nên hồi hộp, ngực tức. Nhiệt thịnh làm sốt, khát và vã mồ hôi. Nhiệt vào huyết phận, làm huyết lạc bị tổn thương nên xuất hiện chấm xuất huyết.
Pháp trị
Thanh nhiệt giải độc, lương huyết, bảo vệ Tâm mạch.
Phương thang
Thanh doanh thang hợp Ngũ vị tiêu độc ẩm gia giảm (清营汤合五味消毒饮加减): Thủy ngưu giác (水牛角), Sinh địa hoàng (生地黄), Huyền sâm (玄参), Mạch môn đông (麦门冬), Kim ngân hoa (金银花), Liên kiều (连翘), Bồ công anh (蒲公英), Tử hoa địa đinh (紫花地丁), Dã cúc hoa (野菊花), Xích thược (赤芍), Mẫu đơn bì (牡丹皮), Đan sâm (丹参), Cam thảo (甘草).
Gia giảm
Sốt cao, khát nhiều gia Thạch cao (石膏), Tri mẫu (知母); chấm xuất huyết rõ gia Tử thảo (紫草), Bạch mao căn (白茅根), Trắc bá diệp (侧柏叶); hồi hộp, ngủ không yên gia Liên tử tâm (莲子心), Toan táo nhân (酸枣仁); đau khớp gia Tần giao (秦艽), Tang chi (桑枝), Hải phong đằng (海风藤).
Ý nghĩa
Thủy ngưu giác, Sinh địa, Huyền sâm và Mạch môn đông thanh doanh, lương huyết, dưỡng âm; Kim ngân hoa, Liên kiều, Bồ công anh, Tử hoa địa đinh và Dã cúc hoa thanh nhiệt giải độc; Xích thược, Mẫu đơn bì và Đan sâm lương huyết, tán ứ, giúp Tâm mạch lưu thông.
Chú ý
Thể này biểu hiện tà độc còn thịnh, không được chỉ dựa vào thuốc thanh nhiệt giải độc. Khi sốt kéo dài, rét run, hồi hộp hoặc khó thở, cần được điều trị tại bệnh viện.
Thấp nhiệt uất độc
Chứng trạng
Sốt kéo dài, thân thể nặng nề, ngực tức, hồi hộp, ăn kém, buồn nôn, miệng đắng hoặc nhớt, tiểu vàng, đau hoặc sưng khớp, lưỡi đỏ, rêu vàng nhầy, mạch nhu sác hoặc hoạt sác.
Bệnh cơ
Thấp và nhiệt kết lại, làm khí cơ nặng nề, bế tắc. Thấp nhiệt trở vùng ngực nên hồi hộp và ngực tức; ảnh hưởng Tỳ Vị nên ăn kém, buồn nôn, miệng nhớt; lưu trú ở khớp thì sưng đau.
Pháp trị
Thanh nhiệt hóa thấp, giải độc thông lạc.
Phương thang
Cam lộ tiêu độc đan gia giảm (甘露消毒丹加减): Hoạt thạch (滑石), Hoàng cầm (黄芩), Nhân trần (茵陈), Thạch xương bồ (石菖蒲), Mộc thông (木通), Bối mẫu (贝母), Xạ can (射干), Liên kiều (连翘), Bạc hà (薄荷), Khấu nhân (蔻仁), Hoắc hương (藿香), Đan sâm (丹参), Xích thược (赤芍).
Gia giảm
Nhiệt độc rõ gia Kim ngân hoa (金银花), Bồ công anh (蒲公英); đau khớp nhiều gia Phòng kỷ (防己), Tần giao (秦艽), Ý dĩ nhân (薏苡仁); ngực tức, đàm nhiều gia Qua lâu (瓜蒌), Bán hạ (半夏), Trần bì (陈皮).
Ý nghĩa
Hoạt thạch, Mộc thông và Nhân trần thanh lợi thấp nhiệt; Hoàng cầm và Liên kiều thanh nhiệt giải độc; Hoắc hương và Khấu nhân hóa thấp, tỉnh Tỳ; Thạch xương bồ hóa trọc khai uất; Bối mẫu và Xạ can hóa đàm; Đan sâm và Xích thược thông lạc, tán ứ.
Hai. Nhiệt nhập doanh huyết
Chứng trạng
Sốt cao hoặc sốt tăng về chiều tối, bứt rứt, mất ngủ, thần trí không yên, có thể mê sảng, chấm xuất huyết, ban xuất huyết, tiểu máu, môi khô, lưỡi đỏ sẫm hoặc đỏ tía, ít rêu, mạch tế sác hoặc sác.
Bệnh cơ
Nhiệt độc đi sâu vào doanh huyết, làm huyết nhiệt vọng hành và huyết lạc bị tổn thương, vì vậy xuất hiện ban chẩn, chấm xuất huyết hoặc tiểu máu. Nhiệt quấy nhiễu Tâm thần nên bứt rứt, mất ngủ và thần trí không yên.
Pháp trị
Thanh doanh lương huyết, giải độc, tán ứ.
Phương thang
Thủy ngưu giác địa hoàng thang gia giảm (水牛角地黄汤加减): Thủy ngưu giác (水牛角), Sinh địa hoàng (生地黄), Xích thược (赤芍), Mẫu đơn bì (牡丹皮), Huyền sâm (玄参), Tử thảo (紫草), Trắc bá diệp (侧柏叶), Bạch mao căn (白茅根), Liên kiều (连翘), Đan sâm (丹参).
Gia giảm
Bứt rứt, mất ngủ gia Liên tử tâm (莲子心), Trúc diệp (竹叶); tiểu máu gia Tiểu kế (小蓟), Ngẫu tiết (藕节); nhiệt độc chưa giải gia Kim ngân hoa (金银花), Bồ công anh (蒲公英).
Ý nghĩa
Thủy ngưu giác và Sinh địa thanh nhiệt lương huyết; Xích thược và Mẫu đơn bì lương huyết tán ứ; Huyền sâm dưỡng âm giải độc; Tử thảo, Trắc bá diệp và Bạch mao căn lương huyết chỉ huyết; Liên kiều thanh nhiệt giải độc; Đan sâm thông mạch, hóa ứ.
Chú ý
Người có xuất huyết dưới da, tiểu máu, thiếu máu hoặc đang dùng thuốc chống đông không được tự phối hợp thuốc hoạt huyết hay chỉ huyết. Mọi thay đổi phải căn cứ tình trạng thực tế.
Ba. Độc ứ trở lạc
Chứng trạng
Sốt kéo dài hoặc vừa qua giai đoạn sốt, hồi hộp, đau ngực, môi tím, sắc mặt tối, lưỡi tím hoặc có điểm ứ; có thể xuất hiện đau đầu dữ dội, yếu liệt tay chân, nói khó, đau bụng, đau lưng, tiểu máu hoặc đau một chi đột ngột. Mạch sáp hoặc kết đại.
Bệnh cơ
Nhiệt độc lưu lại trong huyết mạch, huyết bị nung đốt mà thành ứ. Độc và ứ kết lại làm Tâm mạch và các mạch lạc toàn thân bị trở ngại. Nếu ứ trở ở não thì thần trí và vận động bất lợi; trở ở thận thì đau lưng, tiểu máu; trở ở tạng phủ hoặc chi thể thì đau đột ngột tại vị trí tương ứng.
Pháp trị
Giải độc, hóa ứ, thông lạc, nhưng phải đặc biệt thận trọng.
Phương thang
Đào hồng tứ vật thang hợp Đan sâm ẩm gia giảm (桃红四物汤合丹参饮加减): Đào nhân (桃仁), Hồng hoa (红花), Đương quy (当归), Xuyên khung (川芎), Xích thược (赤芍), Sinh địa hoàng (生地黄), Đan sâm (丹参), Đàn hương (檀香), Sa nhân (砂仁), Uất kim (郁金), Kim ngân hoa (金银花), Liên kiều (连翘).
Gia giảm
Ngực đau gia Qua lâu (瓜蒌), Giới bạch (薤白); nhiệt độc chưa hết gia Bồ công anh (蒲公英), Tử hoa địa đinh (紫花地丁); khí hư rõ gia Hoàng kỳ (黄芪), Đảng sâm (党参).
Ý nghĩa
Đào nhân, Hồng hoa, Xuyên khung, Xích thược và Đan sâm hoạt huyết hóa ứ; Đương quy và Sinh địa dưỡng huyết; Đàn hương, Sa nhân và Uất kim hành khí; Kim ngân hoa và Liên kiều thanh nhiệt giải độc.
Chú ý
Khi xuất hiện yếu liệt, nói khó, đau đầu dữ dội, đau bụng hoặc đau chi đột ngột, cần cấp cứu. Không tự dùng thuốc hoạt huyết, vì bệnh có thể đồng thời tồn tại nguy cơ xuất huyết hoặc tổn thương mạch máu.
Bốn. Khí âm lưỡng hư sau nhiệt độc
Chứng trạng
Sau giai đoạn sốt kéo dài, người bệnh mệt lả, sốt âm ỉ hoặc chiều tối hơi nóng, hồi hộp, thở ngắn, miệng khô, ra mồ hôi, ăn kém, gầy sút, mất ngủ, lưỡi đỏ nhạt hoặc ít rêu, mạch tế sác hoặc hư sác.
Bệnh cơ
Nhiệt độc kéo dài làm hao tổn khí âm. Khí hư nên mệt, thở ngắn, tự ra mồ hôi; âm hư nên miệng khô, sốt âm ỉ và ngủ kém. Tâm khí và Tâm âm không đủ nên Tâm thần mất dưỡng, sinh hồi hộp.
Pháp trị
Ích khí dưỡng âm, thanh dư nhiệt, dưỡng Tâm an thần.
Phương thang
Sinh mạch tán hợp Thanh hao miết giáp thang gia giảm (生脉散合青蒿鳖甲汤加减): Đảng sâm (党参), Mạch môn đông (麦门冬), Ngũ vị tử (五味子), Thanh hao (青蒿), Miết giáp (鳖甲), Sinh địa hoàng (生地黄), Tri mẫu (知母), Mẫu đơn bì (牡丹皮), Đan sâm (丹参), Toan táo nhân (酸枣仁), Phục linh (茯苓).
Gia giảm
Mồ hôi nhiều gia Phù tiểu mạch (浮小麦), Mẫu lệ (牡蛎); ăn kém gia Sơn dược (山药), Bạch truật (白术), Kê nội kim (鸡内金); hồi hộp nhiều gia Bá tử nhân (柏子仁), Long cốt (龙骨).
Ý nghĩa
Đảng sâm ích khí; Mạch môn đông và Sinh địa dưỡng âm sinh tân; Ngũ vị tử liễm khí; Thanh hao và Miết giáp thanh dư nhiệt từ âm phận; Tri mẫu và Mẫu đơn bì thanh hư nhiệt; Đan sâm dưỡng Tâm, thông mạch; Toan táo nhân và Phục linh an thần.
Năm. Tâm Tỳ khí hư
Chứng trạng
Sau khi bệnh giảm, người bệnh vẫn hồi hộp, tim đập nhanh, thở ngắn, mệt mỏi, vận động thì triệu chứng tăng, tự ra mồ hôi, sắc mặt nhợt, ăn uống kém, bụng đầy nhẹ, lưỡi nhạt, mạch hư nhược hoặc kết đại.
Bệnh cơ
Tà độc kéo dài làm chính khí suy, Tâm khí và Tỳ khí cùng tổn thương. Tâm khí hư thì không đủ sức vận hành huyết mạch nên hồi hộp, thở ngắn; Tỳ khí hư thì nguồn sinh khí huyết suy giảm, ăn kém và sắc mặt nhợt.
Pháp trị
Ích khí dưỡng Tâm, kiện Tỳ phục chính.
Phương thang
Bảo nguyên thang hợp Dưỡng tâm thang gia giảm (保元汤合养心汤加减): Hoàng kỳ (黄芪), Đảng sâm (党参), Chích cam thảo (炙甘草), Phục linh (茯苓), Phục thần (茯神), Đương quy (当归), Bá tử nhân (柏子仁), Toan táo nhân (酸枣仁), Viễn chí (远志), Ngũ vị tử (五味子), Đại táo (大枣). Nhục quế (肉桂) chỉ dùng lượng nhỏ khi dương hư và hàn tượng rõ.
Gia giảm
Mệt nhiều gia Bạch truật (白术), Sơn dược (山药); hồi hộp, mất ngủ gia Long cốt (龙骨), Mẫu lệ (牡蛎); ngực tức, huyết ứ nhẹ gia Đan sâm (丹参), Uất kim (郁金).
Ý nghĩa
Hoàng kỳ và Đảng sâm ích khí phù chính; Phục linh và Phục thần kiện Tỳ an thần; Đương quy dưỡng huyết; Bá tử nhân, Toan táo nhân và Viễn chí dưỡng Tâm; Ngũ vị tử liễm khí, định quý; Đại táo và Chích cam thảo bổ Trung, điều hòa.
Sáu. Tâm dương suy, thủy khí nội đình
Chứng trạng
Khó thở, hồi hộp, ngực tức, phù chân hoặc phù toàn thân, tiểu ít, bụng trướng, khó nằm đầu thấp, tay chân lạnh, sắc mặt trắng xanh hoặc tím, lưỡi nhạt bệu hoặc tím nhạt, rêu trắng trơn, mạch trầm tế hoặc kết đại.
Bệnh cơ
Bệnh kéo dài làm Tâm khí suy, dương khí tổn thương. Tâm dương không đủ sức thúc đẩy huyết mạch và khí hóa thủy dịch, khiến thủy khí đình lại. Thủy khí phạm lên Tâm Phế nên khó thở, hồi hộp và khó nằm; tràn xuống dưới thì phù và tiểu ít.
Pháp trị
Ôn dương ích khí, lợi thủy thông mạch.
Phương thang
Chân vũ thang hợp Linh quế truật cam thang gia giảm (真武汤合苓桂术甘汤加减): Phụ tử chế (制附子), Phục linh (茯苓), Bạch truật (白术), Bạch thược (白芍), Sinh khương (生姜), Quế chi (桂枝), Chích cam thảo (炙甘草), Hoàng kỳ (黄芪), Đan sâm (丹参), Trạch tả (泽泻).
Gia giảm
Phù nhiều gia Trư linh (猪苓), Xa tiền tử (车前子), Đại phúc bì (大腹皮); khó thở nhiều gia Đình lịch tử (葶苈子), Tô tử (苏子), Tang bạch bì (桑白皮); mạch kết đại, hồi hộp gia Long cốt (龙骨), Mẫu lệ (牡蛎).
Ý nghĩa
Phụ tử chế và Quế chi ôn dương thông mạch; Phục linh, Bạch truật và Trạch tả kiện Tỳ lợi thủy; Hoàng kỳ ích khí; Đan sâm hoạt huyết thông Tâm; Bạch thược hòa doanh liễm âm.
Chú ý
Phụ tử và Đình lịch tử đều là những vị phải dùng rất thận trọng. Khi khó thở, phù, tiểu ít, môi tím hoặc không nằm được, cần được xử trí kịp thời, không chỉ dùng thuốc thang tại nhà.
Tổn thương thận trong nhận thức Trung y
Khi nhiệt độc và huyết ứ ảnh hưởng đến Thận, người bệnh có thể xuất hiện tiểu máu, nước tiểu có bọt, phù, đau lưng hoặc tiểu ít. Theo Trung y, tình trạng này có thể liên quan đến nhiệt độc nhập huyết, huyết nhiệt vọng hành, thấp nhiệt hạ chú, độc ứ trở lạc hoặc Tỳ Thận khí hóa bất lợi.
Nếu tiểu máu, protein niệu, phù hoặc chức năng Thận suy giảm xuất hiện trong bệnh cảnh viêm nội tâm mạc cảm nhiễm, cần phân biệt tà độc chưa giải, huyết nhiệt, huyết ứ và chính khí hư. Không nên thấy tiểu máu là chỉ dùng thuốc cầm máu, cũng không nên thấy phù là tự dùng thuốc lợi thủy mạnh.
Nhiệt độc kèm tiểu máu
Biểu hiện thường thấy là sốt, tiểu đỏ, tiểu buốt hoặc nước tiểu sẫm, lưỡi đỏ, mạch sác. Pháp trị thiên về thanh nhiệt giải độc, lương huyết chỉ huyết. Có thể tham khảo Sinh địa, Bạch mao căn, Tiểu kế, Trắc bá diệp, Mẫu đơn bì, Xích thược và Kim ngân hoa, nhưng phải căn cứ toàn trạng và nguy cơ xuất huyết.
Độc ứ trở lạc ở Thận
Biểu hiện có thể là đau lưng hoặc đau hông đột ngột, tiểu máu, sắc mặt tối, lưỡi tím. Pháp trị thiên về giải độc, hóa ứ, thông lạc, nhưng đây là tình trạng cần đánh giá khẩn cấp. Không tự dùng nhiều Đào nhân, Hồng hoa, Đan sâm hoặc Tam thất khi chưa rõ có xuất huyết hay tắc mạch.
Khí âm hư sau bệnh
Biểu hiện gồm mệt, phù nhẹ, miệng khô, thở ngắn, tiểu ít, lưỡi đỏ nhạt hoặc ít rêu. Pháp trị thiên về ích khí dưỡng âm, kiện Tỳ, hỗ trợ khí hóa, nhưng phải theo dõi lượng nước tiểu và chức năng Thận.
Châm cứu hỗ trợ
Trong giai đoạn cấp, khi người bệnh đang sốt, rét run, nhiễm trùng chưa được kiểm soát, suy tim hoặc có biểu hiện tắc mạch, không nên lấy châm cứu làm phương pháp điều trị chính.
Sau giai đoạn cấp, nếu tình trạng đã ổn định, có thể cân nhắc châm cứu hỗ trợ hồi phục thể lực, an thần và cải thiện ăn ngủ.
Các huyệt thường dùng gồm Tâm bào-6 Nội quan (内关), Tâm-7 Thần môn (神门), Nhâm-17 Chiên trung (膻中), Bàng quang-15 Tâm du (心俞), Vị-36 Túc tam lý (足三里), Tỳ-6 Tam âm giao (三阴交), Nhâm-6 Khí hải (气海), Bàng quang-13 Phế du (肺俞), Bàng quang-20 Tỳ du (脾俞).
Hồi hộp, ngủ kém có thể phối Tâm bào-6 Nội quan, Tâm-7 Thần môn, Bàng quang-15 Tâm du, Nhâm-17 Chiên trung; mệt mỏi, khí hư phối Vị-36 Túc tam lý, Nhâm-6 Khí hải, Bàng quang-20 Tỳ du; thở ngắn sau bệnh phối Bàng quang-13 Phế du, Nhâm-17 Chiên trung, Vị-36 Túc tam lý; âm hư, mồ hôi trộm phối Tỳ-6 Tam âm giao, Thận-3 Thái khê, Thận-7 Phục lưu.
Không châm khi sốt cao, rét run, huyết áp không ổn định, nguy cơ chảy máu cao hoặc vùng da định châm đang nhiễm trùng.
Bấm huyệt
Giai đoạn hồi phục có thể day nhẹ Tâm bào-6 Nội quan, Tâm-7 Thần môn, Vị-36 Túc tam lý, Tỳ-6 Tam âm giao và Nhâm-17 Chiên trung. Không xoa bóp mạnh vùng trước tim và không bấm huyệt kéo dài khi đang đau ngực, khó thở, phù hoặc sốt.
Cứu ngải
Giai đoạn nhiệt độc, sốt hoặc thấp nhiệt không thích hợp cứu ngải. Chỉ khi bệnh đã qua giai đoạn cấp, xuất hiện dương hư rõ như sợ lạnh, tay chân lạnh, ăn kém, lưỡi nhạt và mạch trầm tế mới cân nhắc cứu nhẹ Nhâm-6 Khí hải, Nhâm-4 Quan nguyên, Vị-36 Túc tam lý, Đốc-4 Mệnh môn và Bàng quang-23 Thận du.
Ăn uống điều dưỡng
Trong giai đoạn sốt và nhiễm trùng, thức ăn nên mềm, thanh đạm, dễ tiêu, bảo đảm đủ dinh dưỡng. Không tự dùng rượu thuốc, thuốc bổ nóng hoặc dược thiện hoạt huyết.
Khí âm hư sau bệnh có thể dùng cháo Mạch môn đông Ngũ vị tử: Mạch môn đông (麦门冬), Ngũ vị tử (五味子), Đại táo (大枣), gạo tẻ. Món này thiên về dưỡng âm sinh tân và liễm khí, chỉ nên dùng lượng nhẹ.
Tỳ khí hư, ăn kém có thể dùng cháo Hoài sơn Liên tử: Hoài sơn (山药), Liên tử (莲子), Đại táo (大枣), gạo tẻ. Món này kiện Tỳ, ích khí và dưỡng Tâm nhẹ.
Âm hư, ngủ kém có thể dùng cháo Bách hợp Mạch môn đông: Bách hợp (百合), Mạch môn đông (麦门冬), gạo tẻ. Người Tỳ Vị hư hàn hoặc tiêu lỏng nên dùng ít.
Chú ý về dược thiện hoạt huyết
Không tự dùng Tam thất (三七), Đan sâm (丹参), Hồng hoa (红花), Đào nhân (桃仁), Nhũ hương (乳香) hoặc Một dược (没药), đặc biệt khi có tiểu máu, ban xuất huyết, nguy cơ tắc mạch, đã có đột quỵ hoặc đang dùng thuốc chống đông.
Điều dưỡng và phòng ngừa
Người có bệnh van tim, van nhân tạo, bệnh tim bẩm sinh hoặc từng mắc viêm nội tâm mạc cần chú ý vệ sinh răng miệng, điều trị sớm viêm lợi, sâu răng, nhiễm trùng da và các ổ mủ.
Không tự dùng kháng sinh trước các thủ thuật nếu chưa có chỉ định. Người có nguy cơ cao nên báo rõ tình trạng tim cho bác sĩ và nha sĩ trước khi làm thủ thuật có khả năng gây chảy máu.
Sau khi bệnh ổn định, cần nghỉ ngơi đầy đủ, ăn đủ chất, tránh lao lực quá sớm. Hoạt động nên tăng dần theo khả năng, không tập khi còn sốt, hồi hộp nhiều, khó thở hoặc phù.
Những điều không nên làm
Không tự điều trị sốt kéo dài bằng thuốc Đông y mà không đi khám.
Không tự dùng kháng sinh trước khi được lấy mẫu xét nghiệm, trừ tình huống được nhân viên y tế hướng dẫn.
Không xem nhẹ sốt ở người có van tim nhân tạo, tiền sử viêm nội tâm mạc hoặc bệnh van tim nặng.
Không tự dùng thuốc hoạt huyết khi có tiểu máu, ban xuất huyết hoặc nguy cơ chảy máu.
Không dùng rượu thuốc và thuốc bổ nóng trong giai đoạn sốt.
Không châm cứu hoặc cứu ngải khi nhiễm trùng chưa được kiểm soát.
Không bỏ dở liệu trình điều trị khi chưa có hướng dẫn.
Chú ý
Bài viết chỉ trình bày nhận thức và phương pháp biện chứng của Trung y. Viêm nội tâm mạc cảm nhiễm là bệnh nguy hiểm. Khi có sốt kéo dài, rét run, khó thở, hồi hộp, đau ngực, phù, tiểu máu, ban xuất huyết, yếu liệt, nói khó hoặc đau một vùng cơ thể đột ngột, cần đi khám hoặc cấp cứu kịp thời. Không dùng thuốc thang, châm cứu, bấm huyệt hoặc dược thiện để trì hoãn việc xử trí.
Kết luận
Viêm nội tâm mạc cảm nhiễm trong Trung y có thể được xem xét trong phạm vi Ôn bệnh, Nhiệt nhập doanh huyết, Độc nhiệt nhập Tâm, Tâm quý, Hung tý, Huyết chứng, Huyết ứ chứng, Thủy thũng và Hư lao.
Bệnh cơ chủ yếu là nhiệt độc theo huyết mạch xâm phạm Tâm, làm huyết nhiệt, huyết ứ và mạch lạc bị tổn thương. Khi bệnh kéo dài, khí âm hao tổn, Tâm Tỳ suy yếu; nặng hơn có thể Tâm dương hư, thủy khí nội đình.
Điều trị cần căn cứ từng giai đoạn. Nhiệt độc thịnh thì thanh nhiệt giải độc; thấp nhiệt thì thanh nhiệt hóa thấp; nhiệt nhập doanh huyết thì thanh doanh lương huyết; độc ứ trở lạc thì giải độc hóa ứ nhưng phải thận trọng; khí âm hư thì ích khí dưỡng âm; Tâm Tỳ khí hư thì kiện Tỳ dưỡng Tâm; Tâm dương suy thì ôn dương lợi thủy.
Toàn bộ quá trình điều trị phải phân biệt tà chính, hư thực và hoãn cấp. Giai đoạn tà độc còn thịnh không nên bổ sớm; giai đoạn chính khí suy không nên công phá quá mức; khi có xuất huyết hoặc tắc mạch không được tự dùng thuốc hoạt huyết.
Trường Xuân biên soạn và tổng hợp