Khái luận
Trong Trung y cổ đại không có bệnh danh “bệnh mạch vành tim” hoàn toàn tương ứng với cách gọi hiện nay. Căn cứ những biểu hiện như ngực bức bối, đau vùng trước tim, đau sau xương ức, đau xuyên ra lưng hoặc lan xuống cánh tay, hồi hộp, thở ngắn, vã mồ hôi, tay chân lạnh và choáng ngất, bệnh có thể được xem xét trong phạm vi Hung tý (胸痹), Tâm thống (心痛), Thốt tâm thống (卒心痛), Cửu tâm thống (久心痛), Quyết tâm thống (厥心痛), Chân tâm thống (真心痛), Tâm quý (心悸), Chinh xung (怔忡) và Suyễn chứng (喘证).
Hung tý là chứng dương khí vùng ngực không thông, khí huyết và đàm trọc bế trở, khiến ngực tức, đau hoặc khó thở. Tâm thống là chứng đau ở vùng Tâm hoặc vùng trước tim. Thốt tâm thống là đau phát sinh đột ngột; Cửu tâm thống là đau kéo dài, tái đi tái lại; Quyết tâm thống thường kèm tay chân lạnh, khí nghịch hoặc choáng ngất; Chân tâm thống là chứng đau nguy kịch, sắc mặt biến đổi, mồ hôi ra nhiều và chân tay lạnh.
Kim Quỹ Yếu Lược có câu: “Tâm thống triệt bối, bối thống triệt tâm” (心痛彻背,背痛彻心), nghĩa là đau từ vùng Tâm xuyên ra lưng, đau từ lưng xuyên đến vùng Tâm. Đây là một trong những mô tả điển hình của chứng Hung tý tâm thống.
Bệnh cơ
Tâm chủ huyết mạch. Khi Tâm khí sung túc, Tâm dương ôn thông, khí huyết điều hòa thì vùng ngực khoan khoái, hơi thở thông lợi. Nếu chính khí suy yếu hoặc tà thực bế trở, Tâm mạch không thông thì phát sinh đau ngực, tức ngực, hồi hộp và thở ngắn.
Bệnh cơ có thể khái quát bằng bốn chữ “bản hư tiêu thực” (本虚标实).
Bản hư thường gồm Tâm khí hư, Tâm dương hư, khí âm lưỡng hư, Tâm huyết bất túc, Tỳ khí hư, Thận dương hư hoặc Tâm Thận âm hư.
Tiêu thực thường gồm khí trệ, huyết ứ, đàm trọc, hàn ngưng và thủy ẩm làm Tâm mạch bế trở.
Trong đó, hư là nền tảng, huyết ứ là then chốt, đàm trọc và hàn ngưng là những yếu tố thường gặp, còn khí trệ thường làm bệnh phát tác hoặc tăng nặng.
Quan hệ giữa Tâm và các tạng
Tâm chủ huyết mạch. Tâm khí hư thì không đủ sức thúc đẩy huyết dịch; Tâm dương hư thì huyết mạch mất sự ôn thông, huyết hành chậm mà sinh ứ.
Tỳ chủ vận hóa. Ăn uống quá nhiều béo ngọt, rượu, thức ăn chiên rán hoặc ăn uống thất thường làm Tỳ mất kiện vận, thấp tụ thành đàm. Đàm trọc kết ở vùng ngực làm dương khí không thông, sinh nặng ngực, tức ngực và khó thở.
Can chủ sơ tiết. Lo nghĩ, uất ức, giận dữ và căng thẳng kéo dài làm Can khí uất kết. Khí là soái của huyết; khí trệ thì huyết ứ, Tâm mạch không thông mà phát đau.
Phế chủ khí, có quan hệ với Tông khí trong ngực. Phế khí suy hoặc tuyên giáng không lợi làm khí cơ vùng ngực bế tắc, ảnh hưởng đến sự vận hành của Tâm mạch.
Thận là gốc của tiên thiên. Tuổi cao hoặc bệnh lâu ngày làm Thận khí và Thận dương suy, không đủ sức ôn dưỡng Tâm dương. Dương hư thì hàn, đàm, ứ và thủy dễ tụ lại.
Nguyên nhân thường gặp
Ăn uống không điều độ làm Tỳ sinh đàm; tình chí uất kết làm khí trệ huyết ứ; lao lực lâu ngày làm hao Tâm khí; tuổi cao làm Thận khí suy; hàn lạnh làm mạch co rút và khí huyết ngưng trệ.
Những yếu tố này thường không tồn tại riêng lẻ. Người Tâm khí hư có thể kiêm huyết ứ; người Tỳ hư có thể kiêm đàm trọc; người Tâm dương hư có thể đồng thời hàn ngưng và thủy ẩm. Vì vậy, biện chứng phải căn cứ toàn bộ biểu hiện, không chỉ dựa vào một triệu chứng đau ngực.
Nguyên tắc điều trị
Điều trị cần phân biệt tiêu bản và hoãn cấp.
Khi đau ngực dữ dội, khó thở, sắc mặt tái xám, vã mồ hôi, buồn nôn, choáng ngất hoặc tay chân lạnh, thuộc tình trạng cấp, phải ưu tiên xử lý phần nguy cấp. Đây là ý nghĩa của “cấp tắc trị tiêu” (急则治标).
Khi bệnh tương đối ổn định, cần căn cứ thể trạng để điều chỉnh phần gốc: khí hư thì ích khí; dương hư thì ôn dương; âm hư thì dưỡng âm; Tỳ hư thì kiện Tỳ; khí trệ thì lý khí; đàm trọc thì hóa đàm; huyết ứ thì hoạt huyết thông mạch. Đây là ý nghĩa của “hoãn tắc trị bản” (缓则治本).
Một. Khí trệ và huyết ứ trở Tâm
Nhóm này thường biểu hiện bằng đau có vị trí tương đối cố định, đau như châm chích hoặc bó chặt, lưỡi tím và mạch sáp. Nếu bệnh liên quan rõ đến căng thẳng, giận dữ, ngực sườn trướng và hay thở dài thì khí trệ nổi bật hơn.
Tâm mạch huyết ứ
Chứng trạng
Đau ngực rõ, đau như kim châm hoặc đau thắt, vị trí tương đối cố định, có thể lan ra vai, lưng hoặc cánh tay; ngực tức, hồi hộp, sắc mặt tối, môi hơi tím, lưỡi tím tối hoặc có điểm ứ, tĩnh mạch dưới lưỡi tím giãn, mạch sáp hoặc kết đại.
Bệnh cơ
Huyết ứ bế trở Tâm mạch, khí huyết không thông nên đau. Đau cố định, đau như châm, môi tím và lưỡi tím đều thuộc dấu hiệu huyết ứ. Tâm mạch không được nuôi dưỡng đầy đủ nên hồi hộp và thở ngắn.
Pháp trị
Hoạt huyết hóa ứ, thông mạch chỉ thống.
Phương thang
Huyết phủ trục ứ thang gia giảm (血府逐瘀汤加减): Đương quy (当归), Sinh địa hoàng (生地黄), Đào nhân (桃仁), Hồng hoa (红花), Xích thược (赤芍), Xuyên khung (川芎), Ngưu tất (牛膝), Sài hồ (柴胡), Chỉ xác (枳壳), Cát cánh (桔梗), Cam thảo (甘草), Đan sâm (丹参), Uất kim (郁金).
Gia giảm
Đau nhiều gia Huyền hồ sách (玄胡索); hồi hộp, mất ngủ gia Toan táo nhân (酸枣仁), Bá tử nhân (柏子仁); ngực tức rõ gia Qua lâu (瓜蒌), Giới bạch (薤白). Nhũ hương (乳香), Một dược (没药) chỉ nên cân nhắc khi có thầy thuốc theo dõi.
Ý nghĩa
Đào nhân, Hồng hoa, Xích thược, Xuyên khung và Đan sâm hoạt huyết hóa ứ; Đương quy và Sinh địa dưỡng huyết; Sài hồ, Chỉ xác và Uất kim điều đạt khí cơ; Cát cánh khai tuyên vùng ngực; Ngưu tất dẫn huyết đi xuống.
Khí trệ huyết ứ
Chứng trạng
Ngực đau tức, bệnh thường tăng khi căng thẳng, giận dữ hoặc lo nghĩ; ngực sườn trướng đầy, hay thở dài, dễ cáu giận, hồi hộp, bồn chồn, lưỡi hơi tối hoặc có điểm ứ, mạch huyền sáp.
Bệnh cơ
Can khí không điều đạt làm khí cơ vùng ngực bế tắc. Khí trệ lâu ngày khiến huyết hành không thuận, khí và huyết cùng trở trong Tâm mạch nên đau tức ngực.
Pháp trị
Sơ Can lý khí, hoạt huyết thông mạch.
Phương thang
Sài hồ sơ Can tán hợp Đan sâm ẩm gia giảm (柴胡疏肝散合丹参饮加减): Sài hồ (柴胡), Hương phụ (香附), Chỉ xác (枳壳), Bạch thược (白芍), Xuyên khung (川芎), Trần bì (陈皮), Cam thảo (甘草), Đan sâm (丹参), Đàn hương (檀香), Sa nhân (砂仁), Uất kim (郁金), Xích thược (赤芍).
Gia giảm
Đau nhiều gia Huyền hồ sách (玄胡索), Qua lâu (瓜蒌), Giới bạch (薤白); mất ngủ, bồn chồn gia Toan táo nhân (酸枣仁), Dạ giao đằng (夜交藤); huyết ứ rõ gia Đào nhân (桃仁), Hồng hoa (红花).
Ý nghĩa
Sài hồ, Hương phụ, Chỉ xác và Trần bì sơ Can lý khí; Bạch thược hòa Can; Đan sâm, Xuyên khung và Xích thược hoạt huyết; Đàn hương, Sa nhân và Uất kim hành khí khoan hung.
Hai. Đàm trọc và hung dương bất chấn
Nhóm này thường biểu hiện bằng ngực nặng, tức ngực, thân thể nặng nề, đàm nhiều và rêu lưỡi nhầy. Khi dương khí vùng ngực không thông, đau có thể xuyên từ ngực ra lưng hoặc từ lưng vào ngực.
Đàm trọc bế trở
Chứng trạng
Ngực tức nặng như bị đè, đau không sắc bén nhưng kéo dài, thân thể nặng nề, đàm nhiều, ăn kém, bụng đầy, buồn nôn, rêu lưỡi trắng dày nhầy, mạch hoạt hoặc huyền hoạt.
Bệnh cơ
Tỳ mất kiện vận, thấp tụ thành đàm. Đàm trọc bế trở vùng ngực làm thanh dương không thông, Tâm mạch bị trở ngại nên ngực tức nặng, khó thở và đau âm ỉ.
Pháp trị
Kiện Tỳ hóa đàm, thông dương khoan hung, lý khí thông mạch.
Phương thang
Qua lâu giới bạch bán hạ thang hợp Nhị trần thang gia giảm (瓜蒌薤白半夏汤合二陈汤加减): Qua lâu (瓜蒌), Giới bạch (薤白), Bán hạ (半夏), Trần bì (陈皮), Phục linh (茯苓), Cam thảo (甘草), Chỉ xác (枳壳), Đan sâm (丹参), Uất kim (郁金), Thạch xương bồ (石菖蒲).
Gia giảm
Đàm nhiều, buồn nôn gia Trúc nhự (竹茹), Sinh khương (生姜); bụng đầy, ăn kém gia Sa nhân (砂仁), Mộc hương (木香), Bạch truật (白术); thực tích, thân thể nặng gia Sơn tra (山楂), Trạch tả (泽泻), Hà diệp (荷叶).
Ý nghĩa
Qua lâu và Giới bạch khoan hung thông dương; Bán hạ, Trần bì, Phục linh và Cam thảo kiện Tỳ hóa đàm; Chỉ xác lý khí; Đan sâm hoạt huyết; Uất kim hành khí hóa ứ; Thạch xương bồ hóa trọc.
Hung dương bất chấn
Chứng trạng
Ngực bức bối, đau vùng trước tim, đau từ ngực xuyên ra lưng hoặc từ lưng xuyên vào ngực, khó thở, gặp lạnh hoặc mệt thì tăng, lưỡi tím nhạt, rêu trắng nhầy, mạch trầm hoặc huyền.
Bệnh cơ
Vùng ngực là nơi Tông khí tụ hội, Tâm và Phế cùng cư trú. Khi hung dương không thông, đàm trọc và huyết ứ cùng trở ngại Tâm mạch, khí cơ vùng ngực bị bế tắc nên đau xuyên ra lưng.
Pháp trị
Thông dương tuyên tý, hóa đàm hoạt huyết, thông mạch.
Phương thang
Qua lâu giới bạch bán hạ thang hợp Đan sâm ẩm gia giảm (瓜蒌薤白半夏汤合丹参饮加减): Qua lâu (瓜蒌), Giới bạch (薤白), Bán hạ (半夏), Đan sâm (丹参), Đàn hương (檀香), Sa nhân (砂仁), Quế chi (桂枝), Uất kim (郁金), Xuyên khung (川芎), Xích thược (赤芍), Cam thảo (甘草).
Gia giảm
Đau nhiều gia Huyền hồ sách (玄胡索); đàm nhiều gia Trần bì (陈皮), Phục linh (茯苓); sợ lạnh gia Can khương (干姜) lượng vừa phải.
Ý nghĩa
Qua lâu, Giới bạch và Bán hạ thông dương, tuyên tý, hóa đàm; Đan sâm, Xuyên khung và Xích thược hoạt huyết; Đàn hương, Sa nhân và Uất kim hành khí; Quế chi ôn thông dương khí vùng ngực.
Ba. Hàn ngưng Tâm mạch
Chứng trạng
Đau ngực đột ngột, đau co thắt, gặp lạnh đau tăng, được ấm thì giảm, sợ lạnh, tay chân lạnh, sắc mặt trắng xanh, ngực tức khó thở, lưỡi nhạt tím, rêu trắng, mạch trầm khẩn hoặc trầm trì.
Bệnh cơ
Hàn có tính co rút và ngưng trệ. Khi hàn tà xâm nhập hoặc dương khí vốn suy, khí huyết trong Tâm mạch bị ngưng trệ nên phát đau. Gặp lạnh đau tăng và được ấm thì giảm là đặc điểm quan trọng.
Pháp trị
Tán hàn thông dương, ôn thông Tâm mạch.
Phương thang
Qua lâu giới bạch quế chi thang gia giảm (瓜蒌薤白桂枝汤加减): Qua lâu (瓜蒌), Giới bạch (薤白), Quế chi (桂枝), Bán hạ (半夏), Chỉ thực (枳实), Hậu phác (厚朴), Đan sâm (丹参), Xuyên khung (川芎), Cam thảo (甘草).
Gia giảm
Hàn rõ gia Can khương (干姜); đau nhiều gia Huyền hồ sách (玄胡索); khó thở, đàm nhiều gia Tô tử (苏子), Hạnh nhân (杏仁). Phụ tử chế (制附子) và Tế tân (细辛) chỉ được cân nhắc khi có chỉ định chuyên môn.
Ý nghĩa
Qua lâu và Giới bạch khoan hung thông dương; Quế chi ôn thông Tâm mạch; Bán hạ hóa đàm; Chỉ thực và Hậu phác hành khí; Đan sâm và Xuyên khung hoạt huyết.
Chú ý
Đau ngực gặp lạnh tăng không đồng nghĩa chỉ là hàn chứng. Nếu đau dữ dội, kéo dài, vã mồ hôi hoặc khó thở, cần xử trí khẩn cấp. Không tự dùng Phụ tử hoặc Tế tân.
Bốn. Tâm khí và Tâm dương suy
Tâm khí hư
Chứng trạng
Đau hoặc tức ngực âm ỉ, hồi hộp, thở ngắn, mệt mỏi, vận động thì bệnh tăng, tự ra mồ hôi, sắc mặt nhợt, tiếng nói nhỏ, lưỡi nhạt, mạch hư nhược hoặc kết đại.
Bệnh cơ
Tâm khí hư không đủ sức thúc đẩy huyết dịch. Tâm mạch mất nuôi dưỡng nên đau tức âm ỉ và hồi hộp. Khí hư nên mệt, thở ngắn, tự ra mồ hôi và vận động thì bệnh tăng.
Pháp trị
Ích khí dưỡng Tâm, kiêm hoạt huyết thông mạch.
Phương thang
Bảo nguyên thang hợp Đan sâm ẩm gia giảm (保元汤合丹参饮加减): Hoàng kỳ (黄芪), Đảng sâm (党参), Chích cam thảo (炙甘草), Đan sâm (丹参), Đàn hương (檀香), Sa nhân (砂仁), Mạch môn đông (麦门冬), Ngũ vị tử (五味子). Nhục quế (肉桂) chỉ dùng lượng nhỏ khi hàn tượng rõ.
Gia giảm
Mệt nhiều gia Bạch truật (白术), Phục linh (茯苓); mồ hôi nhiều gia Phù tiểu mạch (浮小麦), Mẫu lệ (牡蛎), Ma hoàng căn (麻黄根); hồi hộp nhiều gia Toan táo nhân (酸枣仁), Long cốt (龙骨).
Ý nghĩa
Hoàng kỳ và Đảng sâm ích khí; Đan sâm hoạt huyết; Đàn hương và Sa nhân hành khí; Mạch môn đông dưỡng âm; Ngũ vị tử liễm khí định Tâm.
Tâm dương hư
Chứng trạng
Đau ngực âm ỉ hoặc gặp lạnh đau tăng, hồi hộp, thở ngắn, mệt mỏi, sắc mặt trắng xanh, sợ lạnh, tay chân lạnh, có thể phù nhẹ, lưỡi nhạt tối hoặc có điểm ứ, rêu trắng, mạch trầm trì hoặc trầm tế.
Bệnh cơ
Tâm dương hư thì huyết mạch không được ôn thông, huyết vận hành chậm nên ngực đau và hồi hộp. Dương hư không ôn ấm tứ chi nên sợ lạnh; khí hóa thủy dịch kém thì có thể phù.
Pháp trị
Ôn dương ích khí, hoạt huyết thông mạch.
Phương thang
Tham phụ thang hợp Quế chi cam thảo thang gia giảm (参附汤合桂枝甘草汤加减): Đảng sâm (党参), Phụ tử chế (制附子), Quế chi (桂枝), Chích cam thảo (炙甘草), Hoàng kỳ (黄芪), Đan sâm (丹参), Xuyên khung (川芎), Đương quy (当归), Phục linh (茯苓).
Gia giảm
Hàn rõ gia Can khương (干姜), Nhục quế (肉桂); phù nhẹ gia Trạch tả (泽泻), Xa tiền tử (车前子); hồi hộp, mất ngủ gia Long cốt (龙骨), Mẫu lệ (牡蛎).
Ý nghĩa
Đảng sâm và Hoàng kỳ ích khí; Phụ tử chế và Quế chi ôn dương thông mạch; Đan sâm, Xuyên khung và Đương quy dưỡng huyết hoạt huyết; Phục linh kiện Tỳ, lợi thủy.
Chú ý
Phụ tử có độc tính, không được tự ý sử dụng. Người có rối loạn nhịp, huyết áp không ổn định hoặc đau ngực cấp càng phải thận trọng với thuốc ôn dương mạnh.
Năm. Khí âm và Tâm Thận âm hư
Khí âm lưỡng hư
Chứng trạng
Đau ngực âm ỉ, hồi hộp, thở ngắn, mệt mỏi, miệng khô, ra mồ hôi, ngủ kém, lòng bàn tay bàn chân hơi nóng, lưỡi đỏ nhạt hoặc ít rêu, mạch tế sác hoặc hư sác.
Bệnh cơ
Khí hư thì vận huyết không đủ lực; âm hư thì Tâm mạch thiếu nhu dưỡng. Tâm khí và Tâm âm đều suy nên hồi hộp, thở ngắn và mệt; huyết hành không thuận nên ngực đau âm ỉ.
Pháp trị
Ích khí dưỡng âm, hoạt huyết thông mạch, dưỡng Tâm an thần.
Phương thang
Sinh mạch tán hợp Chích cam thảo thang gia giảm (生脉散合炙甘草汤加减): Đảng sâm (党参), Mạch môn đông (麦门冬), Ngũ vị tử (五味子), Chích cam thảo (炙甘草), Sinh địa hoàng (生地黄), A giao (阿胶), Ma nhân (麻仁), Quế chi (桂枝), Sinh khương (生姜), Đại táo (大枣), Đan sâm (丹参), Toan táo nhân (酸枣仁).
Gia giảm
Mất ngủ gia Bá tử nhân (柏子仁), Dạ giao đằng (夜交藤); mồ hôi nhiều gia Phù tiểu mạch (浮小麦), Mẫu lệ (牡蛎); đau ngực rõ gia Uất kim (郁金), Xích thược (赤芍), Qua lâu (瓜蒌).
Ý nghĩa
Đảng sâm ích khí; Mạch môn đông và Sinh địa dưỡng âm; Ngũ vị tử liễm khí; Chích cam thảo và A giao dưỡng huyết phục mạch; Quế chi thông dương mạch; Đan sâm hoạt huyết; Toan táo nhân dưỡng Tâm.
Tâm Thận âm hư
Chứng trạng
Hồi hộp, ngực tức âm ỉ, mất ngủ, bứt rứt, miệng họng khô, ù tai, chóng mặt, lưng gối mỏi, lòng bàn tay bàn chân nóng, mồ hôi trộm, lưỡi đỏ ít rêu, mạch tế sác.
Bệnh cơ
Tâm Thận âm hư, thủy không chế hỏa, hư hỏa quấy nhiễu Tâm thần nên hồi hộp, mất ngủ và bứt rứt. Thận âm hư nên ù tai, lưng gối mỏi. Tâm âm không đủ nên Tâm mạch mất nhu dưỡng, sinh ngực tức hoặc đau âm ỉ.
Pháp trị
Tư âm giáng hỏa, dưỡng Tâm an thần, kiêm thông mạch.
Phương thang
Thiên vương bổ tâm đan gia giảm (天王补心丹加减): Sinh địa hoàng (生地黄), Huyền sâm (玄参), Thiên môn đông (天门冬), Mạch môn đông (麦门冬), Đan sâm (丹参), Đương quy (当归), Đảng sâm (党参), Phục linh (茯苓), Viễn chí (远志), Toan táo nhân (酸枣仁), Bá tử nhân (柏子仁), Ngũ vị tử (五味子), Cát cánh (桔梗), Hoàng liên (黄连) lượng nhỏ.
Gia giảm
Mồ hôi trộm gia Mẫu lệ (牡蛎), Phù tiểu mạch (浮小麦); đau ngực gia Uất kim (郁金), Xích thược (赤芍); ù tai, lưng gối mỏi gia Nữ trinh tử (女贞子), Hạn liên thảo (旱莲草), Cẩu kỷ tử (枸杞子).
Ý nghĩa
Sinh địa, Huyền sâm, Thiên môn đông và Mạch môn đông tư âm; Đan sâm và Đương quy dưỡng huyết hoạt huyết; Đảng sâm ích khí; Toan táo nhân, Bá tử nhân và Viễn chí dưỡng Tâm; Hoàng liên lượng nhỏ thanh Tâm hỏa.
Vì sao không nên lạm dụng hoạt huyết hóa ứ
“Bất thông tắc thống” (不通则痛), không thông thì đau, là nguyên tắc quan trọng trong nhận thức Tâm thống. Tuy nhiên, không phải mọi trường hợp bệnh mạch vành đều chỉ do huyết ứ.
Người Tâm khí hư cần ích khí để hành huyết; người Tâm dương hư cần ôn dương thông mạch; người đàm trọc cần kiện Tỳ hóa đàm; người hàn ngưng cần ôn thông tán hàn; người khí âm lưỡng hư cần vừa bổ khí vừa dưỡng âm.
Nếu chỉ dùng nhiều thuốc phá ứ mà không xét phần gốc, chính khí có thể suy thêm, người bệnh càng mệt, hồi hộp và thở ngắn. Vì vậy, hoạt huyết cần phối hợp phù chính, lý khí, hóa đàm hoặc ôn dương tùy từng thể bệnh.
Châm cứu hỗ trợ
Châm cứu có thể hỗ trợ điều khí, thông mạch, giảm căng thẳng, hồi hộp và đau tức ngực nhẹ khi bệnh đã ổn định.
Các huyệt thường dùng gồm Tâm bào-6 Nội quan (内关), Nhâm-17 Chiên trung (膻中), Tâm-7 Thần môn (神门), Bàng quang-15 Tâm du (心俞), Bàng quang-14 Quyết âm du (厥阴俞), Nhâm-14 Cự khuyết (巨阙), Vị-36 Túc tam lý (足三里), Tỳ-6 Tam âm giao (三阴交), Vị-40 Phong long (丰隆), Can-3 Thái xung (太冲).
Đau tức ngực, hồi hộp có thể phối Tâm bào-6 Nội quan, Nhâm-17 Chiên trung, Bàng quang-15 Tâm du, Tâm-7 Thần môn; khí trệ, căng thẳng phối Can-3 Thái xung, Đại trường-4 Hợp cốc, Tâm bào-6 Nội quan; đàm trọc, ngực nặng phối Vị-40 Phong long, Nhâm-12 Trung quản, Nhâm-17 Chiên trung; khí hư, mệt mỏi phối Vị-36 Túc tam lý, Nhâm-6 Khí hải, Bàng quang-15 Tâm du; âm hư, mất ngủ phối Tâm-7 Thần môn, Tỳ-6 Tam âm giao, Thận-3 Thái khê, An miên.
Không dùng châm cứu để trì hoãn việc xử trí khi đau ngực dữ dội, vã mồ hôi, khó thở, choáng ngất hoặc tim đập loạn rõ.
Bấm huyệt
Có thể day nhẹ Tâm bào-6 Nội quan, Tâm-7 Thần môn, Nhâm-17 Chiên trung, Vị-36 Túc tam lý, Tỳ-6 Tam âm giao và Can-3 Thái xung, mỗi huyệt từ một đến ba phút. Không ấn mạnh vùng trước tim.
Bấm huyệt chỉ mang tính hỗ trợ thư giãn. Khi đau ngực kéo dài, không nên tiếp tục day bấm để chờ cơn đau tự hết.
Cứu ngải
Cứu ngải chỉ phù hợp với hàn ngưng hoặc dương hư, biểu hiện sợ lạnh, tay chân lạnh, đau gặp lạnh tăng và được ấm giảm. Có thể cân nhắc Nhâm-4 Quan nguyên, Nhâm-6 Khí hải, Vị-36 Túc tam lý, Đốc-4 Mệnh môn, Bàng quang-23 Thận du và Tâm bào-6 Nội quan.
Không cứu khi miệng khô, lưỡi đỏ, rêu vàng, tim đập nhanh, huyết áp không ổn định hoặc đau ngực cấp.
Ăn uống điều dưỡng
Ăn uống nên thanh đạm nhưng đủ chất, không ăn quá no, đặc biệt vào buổi tối. Hạn chế thức ăn béo ngọt, chiên rán, rượu và đồ quá mặn. Nên dùng rau củ nấu chín, ngũ cốc, các loại đậu, cá, đậu phụ và thịt nạc lượng vừa phải.
Thể đàm trọc có thể dùng cháo Ý dĩ nhân Sơn tra: Ý dĩ nhân (薏苡仁), Sơn tra (山楂), gạo tẻ. Người Tỳ Vị hư hàn hoặc đau dạ dày không nên dùng nhiều Sơn tra.
Thể khí hư có thể dùng cháo Hoài sơn Liên tử Đại táo: Hoài sơn (山药), Liên tử (莲子), Đại táo (大枣), gạo tẻ.
Thể khí âm hư có thể dùng cháo Mạch môn đông Bách hợp: Mạch môn đông (麦门冬), Bách hợp (百合), Liên tử (莲子), gạo tẻ.
Thể hàn ngưng có thể dùng cháo Sinh khương Thông bạch lượng nhẹ: Sinh khương (生姜), Thông bạch (葱白), gạo tẻ. Người âm hư hỏa vượng hoặc lưỡi đỏ không nên dùng nhiều.
Chú ý về Tam thất và thuốc hoạt huyết
Tam thất (三七), Đan sâm (丹参), Hồng hoa (红花), Đào nhân (桃仁), Xuyên khung (川芎), Uất kim (郁金), Nhũ hương (乳香) và Một dược (没药) thường được dùng trong phép hoạt huyết hóa ứ.
Tuy nhiên, không nên xem Tam thất hoặc Đan sâm là thuốc bổ tim dùng hằng ngày. Người đang dùng aspirin, clopidogrel, warfarin hoặc thuốc chống đông khác không được tự phối hợp các vị này, vì có thể làm tăng nguy cơ chảy máu.
Điều dưỡng sinh hoạt
Người bệnh nên sinh hoạt điều độ, ngủ đủ, tránh thức khuya, lao lực và căng thẳng kéo dài. Khi bệnh ổn định có thể đi bộ chậm, tập thở, dưỡng sinh hoặc thái cực quyền nhẹ theo sức chịu đựng.
Không vận động mạnh ngay sau bữa ăn. Khi trời lạnh cần giữ ấm vùng ngực, cổ và tay chân. Không xông hơi quá nóng, không tắm nước quá lạnh và không dùng rượu để làm ấm hoặc thông mạch.
Nên giữ tinh thần hòa hoãn, tránh giận dữ và lo nghĩ quá mức. Tình chí điều đạt giúp Can khí thư thông, khí huyết vùng ngực vận hành thuận lợi hơn.
Những điều không nên làm
Không tự dùng thuốc Trung y thay cho xử trí khi đau ngực cấp.
Không tự phối hợp nhiều vị hoạt huyết khi đang dùng thuốc chống đông.
Không tự dùng Phụ tử, Tế tân, Xuyên ô, Thảo ô hoặc các vị có độc tính.
Không uống rượu thuốc để điều trị đau ngực.
Không tập thể dục mạnh khi đang đau ngực, khó thở, chóng mặt hoặc tim đập loạn.
Không xem nhẹ tình trạng đầy tức thượng vị, buồn nôn, vã mồ hôi hoặc mệt lả kèm khó chịu vùng ngực.
Chú ý
Bài viết chỉ trình bày nhận thức và phương pháp biện chứng của Trung y. Khi xuất hiện đau ngực dữ dội hoặc kéo dài, đau lan ra vai, cánh tay, lưng, cổ hoặc hàm, kèm khó thở, vã mồ hôi, buồn nôn, choáng ngất, sắc mặt tái xám hoặc tay chân lạnh, cần đi khám hoặc cấp cứu kịp thời. Không dùng thuốc thang, châm cứu, bấm huyệt hoặc dược thiện để trì hoãn việc xử trí.
Kết luận
Bệnh mạch vành tim trong Trung y có thể được xem xét trong phạm vi Hung tý, Tâm thống, Tâm quý, Chinh xung, Quyết tâm thống và Chân tâm thống.
Bệnh cơ cốt lõi là Tâm mạch không thông, thuộc bản hư tiêu thực. Phần gốc thường là Tâm khí, Tâm dương, khí âm, Tâm Thận hoặc Tỳ Thận suy yếu; phần ngọn thường là khí trệ, huyết ứ, đàm trọc và hàn ngưng.
Điều trị cần căn cứ từng thể bệnh. Khí trệ thì lý khí; huyết ứ thì hoạt huyết; đàm trọc thì kiện Tỳ hóa đàm; hàn ngưng thì ôn thông tán hàn; Tâm khí hư thì ích khí dưỡng Tâm; Tâm dương hư thì ôn dương thông mạch; khí âm lưỡng hư thì ích khí dưỡng âm; Tâm Thận âm hư thì tư âm an thần.
Toàn bộ quá trình điều trị phải phân biệt hư thực, hàn nhiệt, tiêu bản và hoãn cấp, vừa thông Tâm mạch vừa bảo vệ chính khí, không lạm dụng hoạt huyết và không tự sử dụng các vị thuốc có độc tính.
Trường Xuân biên soạn và tổng hợp