Khái quát
Thực quản là một ống cơ nối từ hầu họng đến dạ dày, có nhiệm vụ đưa thức ăn và nước uống xuống vùng tâm vị. Những bệnh lý thường gặp của thực quản gồm hẹp thực quản, rối loạn vận động, giãn thực quản, túi thừa, viêm thực quản và ung thư thực quản.
Các tổn thương này có thể gây khó nuốt, nuốt đau, thức ăn mắc nghẹn, nôn trớ, đau sau xương ức, xuất huyết tiêu hóa hoặc suy dinh dưỡng. Khi tình trạng khó nuốt tăng dần, gầy sút nhanh hoặc nôn ra máu, người bệnh cần được thăm khám sớm.
I. HẸP VÀ GIÃN THỰC QUẢN
Hẹp thực quản
Hẹp thực quản là tình trạng lòng thực quản bị thu nhỏ, làm thức ăn và nước uống khó đi xuống dạ dày. Bệnh gồm hẹp bẩm sinh và hẹp mắc phải.
Hẹp thực quản mắc phải thường gặp trong những tình trạng sau:
Tổn thương niêm mạc do viêm hoặc hóa chất ăn mòn
Acid mạnh, kiềm mạnh hoặc tình trạng viêm loét nặng có thể phá hủy niêm mạc thực quản. Sau khi tổn thương lành lại, mô xơ sẹo co rút, khiến lòng thực quản bị hẹp.
Khối u trong lòng thực quản
Ung thư thực quản hoặc những khối u khác có thể phát triển vào lòng thực quản, gây tắc nghẽn ở những mức độ khác nhau.
Chèn ép từ bên ngoài
Khối u phổi, u trung thất, phình động mạch, bướu giáp hoặc hạch bạch huyết lớn có thể chèn ép thực quản từ bên ngoài.
Phía trên vị trí bị hẹp, thức ăn thường ứ đọng, làm thực quản giãn rộng và lớp cơ thành thực quản dày lên do phải tăng cường co bóp.
Biểu hiện chủ yếu là khó nuốt. Ban đầu người bệnh thường khó nuốt thức ăn đặc, sau đó có thể khó nuốt cả thức ăn mềm và nước. Một số trường hợp còn có nôn trớ, đau sau xương ức, ho khi ăn hoặc gầy sút.
Co thắt tâm vị
Co thắt tâm vị, còn gọi là mất giãn cơ thắt thực quản dưới, là một rối loạn vận động của đoạn dưới thực quản và vùng tâm vị.
Trong điều kiện bình thường, khi thức ăn được nuốt xuống, cơ thắt thực quản dưới phải giãn ra để thức ăn đi vào dạ dày. Khi chức năng điều hòa thần kinh – cơ bị rối loạn, cơ thắt không giãn đầy đủ, đồng thời nhu động của thân thực quản suy yếu hoặc mất đi, làm thức ăn bị ứ lại.
Bệnh có liên quan đến sự tổn thương hoặc giảm số lượng tế bào hạch thần kinh trong đám rối Auerbach của thành thực quản.
Biểu hiện thường gặp gồm khó nuốt cả thức ăn đặc và thức ăn lỏng, nôn trớ thức ăn chưa tiêu, đau sau xương ức, ho về đêm và gầy sút. Do thức ăn ứ đọng lâu ngày, đoạn thực quản phía trên có thể giãn rộng, hình thành thực quản khổng lồ.
Giãn thực quản
Giãn thực quản gồm giãn thứ phát và giãn nguyên phát.
Giãn thứ phát thường xuất hiện phía trên vị trí thực quản bị hẹp hoặc tắc nghẽn.
Giãn nguyên phát có thể lan rộng toàn bộ thực quản hoặc chỉ khu trú ở một vùng nhất định.
Giãn lan rộng
Giãn lan rộng toàn bộ thực quản đôi khi được gọi là thực quản khổng lồ. Tình trạng này thường liên quan đến rối loạn chức năng thần kinh – cơ của thành thực quản, làm nhu động suy yếu và thức ăn không được đẩy xuống dạ dày bình thường.
Giãn khu trú và túi thừa thực quản
Giãn khu trú tạo thành một túi lồi ra ngoài thành thực quản, gọi là túi thừa thực quản.
Túi thừa phồng
Túi thừa phồng hình thành khi niêm mạc và lớp dưới niêm mạc chui qua vùng cơ thành thực quản yếu. Loại này thường gặp tại chỗ nối giữa hầu và thực quản, đôi khi xuất hiện ở đoạn dưới thực quản.
Thức ăn có thể đọng trong túi thừa, gây hôi miệng, nôn trớ thức ăn cũ, khó nuốt, ho hoặc sặc khi nằm. Khi túi thừa lớn, nó có thể chèn ép lòng thực quản và làm khó nuốt nặng hơn.
Túi thừa do co kéo
Túi thừa do co kéo hình thành khi mô viêm hoặc sẹo ở vùng quanh thực quản co rút, kéo thành thực quản ra ngoài. Tổn thương thường có dạng hình phễu và hay xuất hiện ở thành trước thực quản.
II. VIÊM THỰC QUẢN
Viêm thực quản cấp tính
Viêm thực quản cấp có thể do thức ăn quá nóng, chất kích thích mạnh, dị vật, nhiễm khuẩn hoặc hóa chất ăn mòn.
Viêm thực quản xuất tiết
Tình trạng này thường xuất hiện sau khi ăn thức ăn quá nóng hoặc có tính kích thích mạnh. Niêm mạc thực quản sung huyết, phù nề và tăng tiết dịch, gây đau rát sau xương ức, nuốt đau hoặc cảm giác vướng nghẹn.
Viêm thực quản mủ
Viêm thực quản mủ có thể xảy ra khi thức ăn ứ đọng lâu ngày trong túi thừa, bị phân hủy và nhiễm khuẩn. Tổn thương có thể hình thành áp-xe hoặc lan dọc theo thành thực quản, gây viêm mô tế bào.
Nếu nhiễm khuẩn lan ra ngoài thực quản, bệnh có thể dẫn đến viêm trung thất, viêm màng phổi hoặc mủ màng phổi. Đây là tình trạng nghiêm trọng, cần được điều trị khẩn cấp.
Viêm thực quản hoại tử
Viêm thực quản hoại tử có thể xuất hiện trong một số bệnh nhiễm trùng nặng hoặc sau tổn thương niêm mạc nghiêm trọng. Niêm mạc có thể hoại tử, bong tróc và hình thành giả mạc.
Viêm thực quản do hóa chất ăn mòn
Nuốt phải acid mạnh hoặc kiềm mạnh có thể gây bỏng và hoại tử niêm mạc thực quản, thậm chí làm thủng thực quản. Sau giai đoạn cấp, tổn thương lành bằng mô sẹo và có thể để lại hẹp thực quản kéo dài.
Người nuốt phải hóa chất ăn mòn cần được đưa đến cơ sở y tế ngay. Không nên tự ý gây nôn vì hóa chất có thể tiếp tục làm tổn thương thực quản và đường hô hấp.
Viêm thực quản mạn tính
Viêm thực quản mạn tính có thể liên quan đến hút thuốc, uống rượu, sử dụng thức ăn có tính kích thích, thức ăn ứ đọng do hẹp thực quản hoặc trào ngược dịch vị kéo dài.
Niêm mạc bị kích thích lâu ngày có thể dày lên, tăng sinh hoặc hình thành các mảng trắng. Một số biến đổi mạn tính cần được nội soi và sinh thiết để loại trừ tổn thương tiền ung thư hoặc ung thư.
Viêm thực quản do trào ngược
Viêm thực quản trào ngược là tình trạng niêm mạc đoạn dưới thực quản bị tổn thương do dịch vị từ dạ dày trào ngược lên.
Khi chức năng cơ thắt thực quản dưới suy yếu, acid, pepsin và những thành phần khác trong dịch vị tiếp xúc với niêm mạc thực quản, gây sung huyết, phù nề, trợt hoặc loét.
Biểu hiện thường gặp gồm nóng rát sau xương ức, ợ chua, ợ nóng, đau ngực, cảm giác đắng hoặc chua trong miệng, ho kéo dài, khàn tiếng và khó chịu tăng sau khi ăn hoặc khi nằm.
Nếu viêm kéo dài, ổ loét có thể lành bằng mô xơ sẹo và gây hẹp thực quản.
Thực quản Barrett
Trong tình trạng trào ngược mạn tính, biểu mô lát bình thường của đoạn dưới thực quản có thể được thay thế bằng biểu mô trụ, gọi là thực quản Barrett.
Đây là một biến đổi cần được theo dõi vì có liên quan đến nguy cơ phát triển loạn sản và ung thư biểu mô tuyến thực quản. Người bệnh cần nội soi và theo dõi theo hướng dẫn của bác sĩ chuyên khoa.
Hội chứng Mallory–Weiss
Hội chứng Mallory–Weiss là tình trạng niêm mạc vùng nối giữa thực quản và dạ dày bị nứt rách, gây xuất huyết.
Nguyên nhân thường là nôn hoặc nôn khan dữ dội, đặc biệt sau khi ăn uống quá nhiều hoặc uống nhiều rượu. Người bệnh có thể nôn ra máu đỏ tươi hoặc máu sẫm màu.
Khi xuất hiện nôn ra máu, chóng mặt, vã mồ hôi, mạch nhanh hoặc choáng, cần đến cơ sở y tế ngay.
III. UNG THƯ THỰC QUẢN
Khái quát
Ung thư thực quản là khối u ác tính phát sinh từ biểu mô niêm mạc hoặc các tuyến của thực quản. Trong Trung y, bệnh thường được xem xét trong phạm vi chứng ế cách 噎膈.
Ung thư biểu mô tế bào vảy thường xuất hiện ở đoạn giữa hoặc đoạn trên thực quản, trong khi ung thư biểu mô tuyến thường liên quan đến đoạn dưới thực quản và vùng nối thực quản – dạ dày.
Bệnh gặp nhiều hơn ở người trung niên và cao tuổi. Triệu chứng điển hình là khó nuốt tăng dần, ban đầu khó nuốt thức ăn đặc, sau đó khó nuốt thức ăn mềm và cuối cùng có thể khó nuốt cả nước.
Những yếu tố liên quan
Sự phát sinh ung thư thực quản có thể liên quan đến nhiều yếu tố phối hợp, trong đó thường được chú ý gồm hút thuốc, uống nhiều rượu, ăn thực phẩm quá nóng kéo dài, chế độ ăn thiếu cân đối, sử dụng thực phẩm mốc hoặc bảo quản không tốt, tổn thương niêm mạc mạn tính và một số bệnh lý thực quản có sẵn.
Ở một số vùng, thực phẩm chứa nhiều hợp chất nitrosamine hoặc bị nhiễm nấm mốc được xem là yếu tố có thể làm tăng nguy cơ bệnh.
Tuy nhiên, ung thư thực quản không phát sinh từ một nguyên nhân đơn độc mà thường là kết quả của sự tác động lâu dài giữa yếu tố môi trường, lối sống, tổn thương niêm mạc và cơ địa của từng người.
Vị trí và hình thái tổn thương
Ung thư thực quản thường gặp nhất ở đoạn giữa, tiếp đến là đoạn dưới và ít gặp hơn ở đoạn trên.
Ở giai đoạn sớm, tổn thương có thể chỉ khu trú trong niêm mạc hoặc lớp dưới niêm mạc. Người bệnh chưa có triệu chứng rõ hoặc chỉ cảm thấy nuốt vướng nhẹ, nóng rát sau xương ức, thức ăn đi xuống chậm hoặc có cảm giác cọ xát khi nuốt.
Ở giai đoạn tiến triển, khối u có thể phát triển theo nhiều hình thái.
Thể tủy
Mô ung thư xâm nhập vào thành thực quản, làm thành dày lên tương đối đồng đều và lòng thực quản hẹp lại. Bề mặt có thể xuất hiện ổ loét nông.
Thể nấm
Khối u phát triển lồi vào lòng thực quản, có dạng khối dẹt hoặc hình nấm. Thức ăn dễ bị cản trở tại vị trí khối u.
Thể loét
Bề mặt khối u hình thành ổ loét không đều, bờ gồ cao, đáy lồi lõm và có thể ăn sâu vào lớp cơ.
Thể co hẹp
Mô ung thư phát triển vòng quanh thành thực quản, tạo thành một đoạn hẹp hình vòng rõ rệt. Phần thực quản phía trên vị trí hẹp thường giãn rộng do thức ăn ứ đọng.
Các loại mô học
Ung thư biểu mô tế bào vảy là loại thường gặp nhất. Ngoài ra còn có ung thư biểu mô tuyến, ung thư biểu mô tế bào nhỏ, ung thư biểu mô tuyến – vảy và một số khối u ác tính hiếm gặp khác.
Lan rộng và di căn
Xâm lấn trực tiếp
Khi mô ung thư xuyên qua thành thực quản, nó có thể xâm lấn các cơ quan lân cận.
Ung thư đoạn trên có thể xâm lấn thanh quản, khí quản và mô mềm vùng cổ.
Ung thư đoạn giữa có thể xâm lấn khí quản, phế quản, phổi và các tổ chức trong trung thất.
Ung thư đoạn dưới có thể xâm lấn vùng tâm vị, dạ dày, cơ hoành hoặc màng ngoài tim.
Khi khối u xâm lấn đường hô hấp, người bệnh có thể xuất hiện ho khi uống nước, sặc, viêm phổi tái phát hoặc rò thực quản – khí quản, thực quản – phế quản.
Di căn theo đường bạch huyết
Ung thư đoạn trên thường di căn đến các hạch vùng cổ và trung thất trên.
Ung thư đoạn giữa thường di căn đến các hạch cạnh thực quản và hạch vùng rốn phổi.
Ung thư đoạn dưới có thể di căn đến hạch cạnh thực quản, hạch vùng tâm vị và các hạch trong ổ bụng.
Di căn theo đường máu
Di căn theo đường máu thường gặp ở giai đoạn muộn. Gan và phổi là những vị trí di căn thường gặp; ngoài ra bệnh còn có thể lan đến xương và những cơ quan khác.
Dấu hiệu cảnh báo
Khó nuốt tăng dần là dấu hiệu quan trọng nhất. Người bệnh thường cảm thấy thức ăn đặc mắc lại sau xương ức, phải uống nước mới nuốt xuống được. Khi bệnh tiến triển, thức ăn mềm hoặc nước cũng khó đi qua.
Những biểu hiện khác gồm nuốt đau, đau hoặc nóng rát sau xương ức, nôn trớ thức ăn, khàn tiếng, ho khi ăn uống, gầy sút, mệt mỏi, thiếu máu, nôn ra máu hoặc đại tiện phân đen.
Khi có khó nuốt kéo dài hoặc tăng dần, đặc biệt ở người trung niên và cao tuổi, cần nội soi thực quản – dạ dày để xác định nguyên nhân.
Nhận thức của Trung y
Trong Trung y, ung thư thực quản thường thuộc phạm vi chứng ế cách 噎膈.
Ế 噎 là thức ăn nghẹn lại, khó nuốt xuống. Cách 膈 là thức ăn vừa nuốt vào đã bị ngăn trở hoặc nôn trở ra. Bệnh kéo dài có thể khiến người bệnh không ăn uống được, hình thể gầy sút, khí huyết suy kiệt.
Bệnh có quan hệ mật thiết với Can, Tỳ, Vị, Thận và Tam tiêu.
Can chủ sơ tiết, giúp khí cơ vận hành thông suốt. Khi tình chí uất kết lâu ngày, Can khí không thư đạt, khí trệ ở vùng ngực và cách mô, đường ăn uống bị cản trở.
Tỳ chủ vận hóa, Vị chủ thu nạp và giáng trọc. Tỳ Vị suy yếu khiến đàm thấp, thức ăn và khí trệ kết lại, làm thực quản không thông.
Bệnh kéo dài, khí trệ làm huyết hành không thông, hình thành huyết ứ. Đàm, khí và huyết ứ kết tụ lâu ngày có thể tạo thành khối tích, khiến tình trạng nghẹn ngày càng nặng.
Ở giai đoạn muộn, ăn uống giảm sút lâu ngày làm tân dịch hao tổn, Vị âm suy, khí huyết hư yếu và Thận tinh hao tổn.
Nói tóm lại, bệnh cơ của chứng ế cách thường là bản hư tiêu thực. Phần thực gồm khí trệ, đàm kết, huyết ứ và nhiệt độc; phần hư chủ yếu là Tỳ Vị suy yếu, tân dịch hao tổn và khí huyết hư suy.
Biện chứng thường gặp
Thể đàm khí giao trở
Biểu hiện
Nuốt thức ăn có cảm giác vướng nghẹn, lúc nặng lúc nhẹ, vùng ngực và thượng vị đầy tức, thường ợ hơi hoặc thở dài, đờm nhiều, tinh thần uất ức, ăn uống giảm; rêu lưỡi trắng nhớt, mạch huyền hoạt.
Phép trị
Khai uất lý khí, hóa đàm, nhuận cách.
Thể tân khuy huyết táo
Biểu hiện
Khó nuốt thức ăn khô, cổ họng và miệng khô, muốn uống nước nhưng uống không nhiều, đại tiện khô, cơ thể gầy, da khô; lưỡi đỏ ít tân dịch, mạch tế sác.
Phép trị
Tư âm dưỡng huyết, sinh tân nhuận táo.
Thể ứ huyết nội kết
Biểu hiện
Khó nuốt tăng dần, đau sau xương ức hoặc đau cố định, nôn ra dịch có lẫn máu, sắc mặt sạm tối, hình thể gầy sút; lưỡi tím sẫm hoặc có điểm ứ huyết, mạch tế sáp.
Phép trị
Hoạt huyết hóa ứ, lý khí, khai cách.
Thể Tỳ Vị khí hư
Biểu hiện
Khó nuốt, ăn uống ít, mệt mỏi, sắc mặt nhợt, hơi thở ngắn, đại tiện lỏng, cơ thể ngày càng gầy yếu; lưỡi nhạt, rêu trắng, mạch hư nhược.
Phép trị
Kiện Tỳ ích khí, hòa Vị, giáng nghịch.
Thể khí âm lưỡng hư
Biểu hiện
Bệnh kéo dài, nuốt rất khó, người gầy yếu, miệng khô, khát, mệt mỏi, hơi thở ngắn, tiếng nói nhỏ, đại tiện khô; lưỡi đỏ nhạt hoặc đỏ khô, ít rêu, mạch tế nhược.
Phép trị
Ích khí dưỡng âm, sinh tân hòa Vị.
Nguyên tắc điều trị
Điều trị chứng ế cách cần căn cứ vào hư thực và từng giai đoạn bệnh.
Ở giai đoạn đầu, bệnh tà còn thiên về thực, thường chú trọng lý khí khai uất, hóa đàm, hoạt huyết và nhuận cách.
Khi bệnh tiến triển, đàm, khí, huyết ứ và nhiệt độc kết tụ, cần phối hợp hóa đàm tán kết, hoạt huyết giải độc và thông lợi thực quản.
Ở giai đoạn muộn, người bệnh không ăn uống được, khí huyết và tân dịch suy giảm, cần chú trọng kiện Tỳ hòa Vị, ích khí dưỡng âm, sinh tân và nâng đỡ chính khí.
Trung y có thể được sử dụng với mục đích hỗ trợ giảm nghẹn, buồn nôn, đau, khô miệng, mệt mỏi, rối loạn đại tiện và cải thiện khả năng ăn uống. Tuy nhiên, việc điều trị cần phối hợp với chẩn đoán và phương pháp điều trị của y học hiện đại.
Ăn uống và chăm sóc
Thức ăn nên mềm, ẩm, dễ nuốt và dễ tiêu hóa. Có thể sử dụng cháo loãng, súp, thức ăn nghiền nhỏ hoặc chế phẩm dinh dưỡng phù hợp với khả năng nuốt của người bệnh.
Nên chia thức ăn thành nhiều bữa nhỏ, ăn chậm, nhai kỹ và giữ tư thế ngồi thẳng khi ăn. Không nên cố nuốt thức ăn khô, dai hoặc có xương vì có thể gây tắc nghẽn.
Khi người bệnh ho, sặc hoặc khó thở trong lúc ăn uống, cần đánh giá nguy cơ thức ăn đi vào đường hô hấp.
Nếu người bệnh không thể ăn uống đầy đủ qua đường miệng, bác sĩ có thể cân nhắc các biện pháp hỗ trợ dinh dưỡng khác để hạn chế suy kiệt.
Chú ý
Khó nuốt tăng dần, gầy sút, nôn ra máu, đại tiện phân đen, đau ngực dữ dội, sốt, khó thở hoặc ho sặc khi uống nước đều là những biểu hiện cần được thăm khám sớm.
Ung thư thực quản cần được điều trị tại cơ sở chuyên khoa. Tùy vị trí, loại mô học, giai đoạn bệnh và thể trạng, bác sĩ có thể lựa chọn phẫu thuật, nội soi can thiệp, hóa trị, xạ trị, điều trị miễn dịch, đặt giá đỡ thực quản hoặc chăm sóc giảm nhẹ.
Các phương pháp Trung y không thay thế phẫu thuật, hóa trị, xạ trị hoặc các biện pháp điều trị ung thư cần thiết. Thuốc Trung y phải được kê căn cứ vào biện chứng cụ thể và cần được kiểm tra khả năng tương tác với thuốc chống ung thư, thuốc chống đông cùng những thuốc đang sử dụng.
Trường Xuân biên soạn