KHÁI QUÁT
Rối loạn nhịp tim có thể xuất hiện trong nhiều bệnh lý khác nhau như bệnh mạch vành, viêm cơ tim, bệnh cơ tim, suy tim, rối loạn điện giải, bệnh tuyến giáp, nhiễm trùng và tác dụng của thuốc.
Trong đó, rối loạn nhịp tim do viêm cơ tim thường xuất hiện sau nhiễm virus hoặc nhiễm khuẩn. Người bệnh có thể cảm thấy hồi hộp, tim đập nhanh hoặc bỏ nhịp, tức ngực, đau ngực, khó thở, mệt mỏi, ra mồ hôi, mất ngủ và giảm sức chịu đựng khi vận động.
Trong Trung y, bệnh thuộc phạm vi Tâm quý 心悸, Kinh quý 驚悸, Chinh xung 怔忡 và Hung tý 胸痹. Giai đoạn đầu thường liên quan đến ngoại tà xâm nhập, Nhiệt độc phạm Tâm; giai đoạn kéo dài phần nhiều chuyển thành Tâm khí hư, Khí Âm lưỡng hư hoặc Khí hư Huyết ứ.
Rối loạn nhịp tim do viêm cơ tim có thể diễn biến từ nhẹ đến nặng. Nếu xuất hiện đau ngực dữ dội, khó thở tăng, ngất, nhịp tim quá nhanh hoặc quá chậm, cần được đánh giá chuyên khoa ngay.
BỆNH CƠ
Ngoại tà xâm nhập Tâm mạch
Khi cơ thể lao lực, Chính khí suy yếu, Phong nhiệt, Nhiệt độc hoặc dịch độc có thể thừa cơ xâm nhập. Tà khí lưu lại ở Phế Vệ rồi truyền vào Tâm mạch, làm Tâm khí bị trở ngại, mạch đạo không thông, xuất hiện sốt, ho, tức ngực, hồi hộp và đau ngực.
Nhiệt độc tổn thương Khí Âm
Sốt và Nhiệt độc kéo dài làm hao Tân dịch, tổn thương Tâm khí và Tâm Âm. Tâm mất sự nuôi dưỡng và thúc đẩy bình thường nên nhịp tim không điều hòa, xuất hiện hồi hộp, đoản hơi, mệt mỏi, tự ra mồ hôi hoặc mồ hôi trộm.
Tâm khí hư, mạch không được thúc đẩy
Tâm chủ Huyết mạch. Khi Tâm khí suy, lực vận hành Huyết mạch không đủ, mạch có thể Kết, Đại, Trì hoặc Sác không đều. Người bệnh thường hồi hộp, ngực tức, mệt, đoản hơi, tự ra mồ hôi và triệu chứng tăng sau vận động.
Khí Âm lưỡng hư
Bệnh kéo dài, sốt, ra mồ hôi và lao lực làm cả Khí lẫn Âm bị tổn thương. Khí hư không vận Huyết, Âm hư không dưỡng Tâm, khiến hồi hộp kéo dài, miệng họng khô, mồ hôi trộm, mất ngủ và mạch Tế Nhược hoặc Kết Đại.
Khí hư Huyết ứ
Khí là động lực vận hành Huyết. Khi Tâm khí suy, Huyết vận không thông, dần hình thành Huyết ứ. Huyết ứ trở ngại Tâm mạch gây tức ngực, đau nhói, sắc mặt tối, môi lưỡi tím và mạch Sáp.
Đàm trọc ngăn trở
Tỳ hư vận hóa kém làm Đàm trọc nội sinh. Đàm trọc che lấp thanh khiếu và ngăn trở Tâm mạch, gây ngực nặng, khó thở, buồn nôn, đầu nặng và hồi hộp.
Nói tóm lại, giai đoạn cấp thường lấy ngoại tà, Nhiệt độc và Đàm trọc làm chủ; giai đoạn kéo dài lấy Tâm khí, Khí Âm suy hư làm căn bản; Huyết ứ và Đàm trọc là những bệnh lý thứ phát thường gặp.
ĐẶC ĐIỂM BIỆN CHỨNG
Sốt, ho, họng đau, rêu vàng hoặc nhớt thường thuộc Phong nhiệt, Nhiệt độc.
Hồi hộp, đoản hơi, mệt, tự ra mồ hôi, lưỡi nhạt thường thuộc Tâm khí hư.
Hồi hộp, miệng khô, mồ hôi trộm, lưỡi đỏ ít rêu thường thuộc Khí Âm lưỡng hư.
Đau ngực cố định, sắc mặt tối, lưỡi tím thường thuộc Huyết ứ.
Ngực nặng, buồn nôn, rêu nhớt thường có Đàm trọc.
Mạch Kết, Đại không phải là một thể bệnh riêng mà phản ánh nhịp mạch gián đoạn, cần kết hợp toàn bộ chứng trạng để biện trị.
BIỆN CHỨNG LUẬN TRỊ
Biểu hiện
Khởi phát sau cảm mạo hoặc sốt, ho, họng khó chịu, hồi hộp, tức ngực, đau ngực, khó thở, mệt mỏi, ăn ngủ kém, nước tiểu vàng, đại tiện khô.
Lưỡi: Đỏ nhạt hoặc đỏ, rêu trắng dày, vàng mỏng hoặc vàng nhớt.
Mạch: Tế Sác, Nhu Sác hoặc Kết Đại.
Bệnh cơ
Phong nhiệt hoặc Nhiệt độc từ ngoài xâm nhập, phạm Phế rồi ảnh hưởng đến Tâm mạch. Nhiệt làm Khí cơ bất lợi, Tâm mạch không yên, phát sinh hồi hộp và đau ngực.
Phép trị
Sơ Phong thanh Nhiệt, giải độc, khoan Hung, an Tâm.
Phương thang
Ngân kiều tán, tên Việt là Bột Ngân kiều, gia giảm.
Phương dược trình bày hàng ngang: Kim ngân hoa, Liên kiều, Kinh giới, Bạc hà, Ngưu bàng tử, Đạm trúc diệp, Lô căn, Cát cánh, Chích cam thảo; có thể gia Bản lam căn, Ngư tinh thảo, Toàn qua lâu.
Gia giảm
Sốt cao, khát: Gia Thạch cao, Tri mẫu, Thiên hoa phấn.
Ho đờm vàng: Gia Hoàng cầm, Tang bạch bì, Qua lâu bì.
Tức ngực rõ: Gia Uất kim, Chỉ xác, Qua lâu.
Hồi hộp, mất ngủ: Gia Toan táo nhân, Liên tử tâm.
Chú ý
Không nên dùng thuốc thanh nhiệt khổ hàn kéo dài khi sốt đã lui, lưỡi chuyển nhạt và mệt mỏi tăng, vì lúc này Chính khí đã hư.
Biểu hiện
Có tiền sử ngoại cảm trước đó, sau lao lực xuất hiện hồi hộp, tức ngực, đoản hơi, mệt mỏi, tự ra mồ hôi, ăn kém, đại tiện lỏng, tiểu trong nhiều; triệu chứng tăng khi vận động.
Lưỡi: Nhạt, bệu, có dấu răng, rêu trắng mỏng.
Mạch: Trầm Tế, Tế Nhược hoặc Kết Đại.
Bệnh cơ
Ngoại tà làm tổn thương Tâm khí; lao lực và Tỳ hư khiến nguồn sinh Khí suy giảm. Tâm khí không đủ thúc đẩy Huyết mạch nên nhịp tim không đều.
Phép trị
Bổ ích Tâm khí, hòa Doanh phục mạch, hóa trọc an Thần.
Phương thang
Sinh mạch tán, tên Việt là Bột Sinh mạch, hợp Quế chi thang, tên Việt là Thang Quế chi, gia giảm.
Phương dược trình bày hàng ngang: Nhân sâm hoặc Đảng sâm, Mạch môn, Ngũ vị tử, Quế chi, Bạch thược, Hoàng kỳ, Sinh khương, Đại táo, Chích cam thảo; có thể gia Toàn qua lâu.
Gia giảm
Dương hư, sợ lạnh, chân tay lạnh: Gia Phụ tử chế, Can khương với lượng thận trọng.
Phù, tiểu ít: Gia Phục linh, Trạch tả, Xa tiền tử.
Ra mồ hôi nhiều: Gia Phù tiểu mạch, Ma hoàng căn, Mẫu lệ.
Ăn ít, đại tiện lỏng: Gia Sơn dược, Bạch truật, Sa nhân.
Huyệt vị
Tâm-7 Thần môn, Tâm bào-6 Nội quan, Nhâm-17 Đản trung, Nhâm-6 Khí hải, Vị-36 Túc tam lý, Bàng quang-15 Tâm du.
Biểu hiện
Hồi hộp, đoản hơi, mệt mỏi, tự ra mồ hôi, mồ hôi trộm, miệng họng khô, vận động nhẹ thì triệu chứng tăng, ngủ kém, ăn ít.
Lưỡi: Đỏ nhạt hoặc đỏ, ít rêu.
Mạch: Tế Nhược, Tế Sác hoặc Kết Đại.
Bệnh cơ
Bệnh kéo dài làm Tâm khí hao tổn, Tâm Âm và Tân dịch không đầy đủ. Khí không vận Huyết, Âm không dưỡng Tâm, mạch mất sự điều hòa.
Phép trị
Ích Khí dưỡng Âm, sinh Tân, phục mạch, an Thần.
Phương thang
Sinh mạch tán, tên Việt là Bột Sinh mạch, hợp Chích cam thảo thang, tên Việt là Thang Chích cam thảo, gia giảm.
Phương dược trình bày hàng ngang: Tây dương sâm hoặc Đảng sâm, Mạch môn, Ngũ vị tử, Hoàng kỳ, Sinh địa hoàng, Quế chi, Bạch thược, A giao, Hỏa ma nhân, Sinh khương, Đại táo, Chích cam thảo.
Gia giảm
Đại tiện lỏng: Giảm Sinh địa hoàng, Hỏa ma nhân; gia Sơn dược, Sa nhân.
Mất ngủ, nhiều mộng: Gia Toan táo nhân, Dạ giao đằng, Bá tử nhân.
Ngực tức, khó thở: Gia Qua lâu, Giới bạch, Bán hạ chế.
Miệng khô rõ: Gia Thạch hộc, Thiên hoa phấn, Ngọc trúc.
Ăn kém: Gia Trần bì, Sa nhân, Kê nội kim.
Huyệt vị
Tâm-7 Thần môn, Tâm bào-6 Nội quan, Tỳ-6 Tam âm giao, Thận-3 Thái khê, Nhâm-17 Đản trung, Vị-36 Túc tam lý.
Biểu hiện
Hồi hộp, đoản hơi, tức ngực, đau ngực như châm chích, mệt mỏi, triệu chứng tăng sau vận động, sắc mặt tối, môi lưỡi tím, ăn kém.
Lưỡi: Tím ám hoặc có điểm ứ.
Mạch: Tế Sáp, Trầm Sáp hoặc Kết Đại.
Bệnh cơ
Tâm khí hư không đủ sức vận Huyết; Huyết hành chậm, ứ trệ trong Tâm mạch, làm ngực đau và nhịp tim không đều.
Phép trị
Ích Khí hoạt Huyết, hóa ứ thông mạch, khoan Hung.
Phương thang
Sinh mạch tán, tên Việt là Bột Sinh mạch, hợp Đan sâm ẩm, tên Việt là Thang Đan sâm, gia giảm.
Phương dược trình bày hàng ngang: Đảng sâm, Mạch môn, Ngũ vị tử, Hoàng kỳ, Đan sâm, Đàn hương, Sa nhân, Xuyên khung, Đương quy vĩ, Diên hồ sách, Qua lâu, Chích cam thảo.
Gia giảm
Đau nhói rõ, lưỡi tím: Gia Xích thược, Uất kim, Kê huyết đằng; Đào nhân và Hồng hoa dùng thận trọng.
Khí hư rõ: Tăng Hoàng kỳ, Đảng sâm.
Khí Âm cùng hư: Dùng Tây dương sâm, gia Sinh địa hoàng.
Mất ngủ: Gia Toan táo nhân, Dạ giao đằng.
Chú ý
Không tự dùng thuốc hoạt Huyết mạnh khi có xuất huyết, đang dùng thuốc chống đông hoặc kháng tiểu cầu, nhịp tim quá chậm hoặc huyết áp thấp.
Huyệt vị
Tâm bào-6 Nội quan, Tâm-7 Thần môn, Nhâm-17 Đản trung, Tỳ-10 Huyết hải, Bàng quang-17 Cách du, Can-3 Thái xung.
Biểu hiện
Hồi hộp, ngực nặng hoặc nghẹn, khó thở, buồn nôn, ăn kém, đầu nặng, thân thể nặng nề, có thể chóng mặt.
Lưỡi: Bệu, rêu trắng nhớt hoặc vàng nhớt.
Mạch: Hoạt, Huyền Hoạt hoặc Kết Đại.
Bệnh cơ
Tỳ hư sinh Đàm, Đàm trọc ngăn trở Tâm mạch và khí cơ ở Hung Dương, làm nhịp tim mất điều hòa.
Phép trị
Kiện Tỳ hóa Đàm, lý Khí khoan Hung, an Tâm.
Phương thang
Ôn đởm thang, tên Việt là Thang Ôn đởm, hợp Qua lâu giới bạch bán hạ thang, tên Việt là Thang Qua lâu, Giới bạch, Bán hạ, gia giảm.
Phương dược trình bày hàng ngang: Bán hạ chế, Trần bì, Phục linh, Trúc nhự, Chỉ thực, Chích cam thảo, Qua lâu, Giới bạch.
Gia giảm
Đàm nhiệt: Gia Hoàng liên, Hoàng cầm.
Tỳ khí hư: Gia Đảng sâm, Bạch truật.
Ngực đau: Gia Uất kim, Đan sâm.
Hồi hộp, mất ngủ: Gia Viễn chí, Toan táo nhân.
GIAI ĐOẠN ĐIỀU TRỊ
Giai đoạn cấp
Trọng điểm là phân biệt ngoại tà, Nhiệt độc, Tâm khí suy và mức độ tổn thương cơ tim. Không nên chỉ dựa vào cảm giác hồi hộp để kê thuốc. Cần theo dõi điện tâm đồ, men tim, chức năng tim và dấu hiệu suy tim.
Giai đoạn hồi phục
Khi sốt và viêm đã giảm nhưng còn hồi hộp, tức ngực, mệt và khó thở, thường thiên về Tâm khí hư hoặc Khí Âm lưỡng hư. Phép trị lấy ích Khí dưỡng Âm, phục mạch làm chủ.
Giai đoạn kéo dài
Nếu xuất hiện đau ngực cố định, lưỡi tím, mạch Sáp, có thể kiêm Huyết ứ. Nếu ngực nặng, buồn nôn, rêu nhớt, cần xét Đàm trọc.
TRUNG THÀNH DƯỢC THƯỜNG ĐƯỢC VẬN DỤNG
Quy tỳ hoàn, tên Việt là Hoàn Quy Tỳ
Công dụng: Kiện Tỳ ích Khí, dưỡng Huyết an Thần.
Thích hợp: Giai đoạn hồi phục có hồi hộp, mệt mỏi, ăn ít, mất ngủ, hay quên, sắc mặt nhợt.
Không thích hợp: Sốt, rêu vàng nhớt, ngực đau do Huyết ứ hoặc Đàm nhiệt rõ.
Bá tử dưỡng tâm hoàn, tên Việt là Hoàn Bá tử dưỡng Tâm
Công dụng: Dưỡng Tâm an Thần, tư Âm bổ Thận.
Thích hợp: Hồi hộp kéo dài, mất ngủ, hay quên, mồ hôi trộm, miệng khô.
Thiên vương bổ tâm đan, tên Việt là Đan Thiên vương bổ Tâm
Công dụng: Tư Âm dưỡng Huyết, bổ Tâm an Thần.
Thích hợp: Tâm Âm Huyết hư, hồi hộp, bồn chồn, ngủ ít, miệng khô, lưỡi đỏ ít rêu.
Bổ trung ích khí hoàn, tên Việt là Hoàn Bổ trung ích Khí
Công dụng: Bổ Trung ích Khí, thăng Dương.
Thích hợp: Mệt mỏi, ăn ít, đoản hơi, hồi hộp thuộc Trung khí hư.
Sinh mạch ẩm, tên Việt là Nước uống Sinh mạch
Công dụng: Ích Khí sinh Tân, liễm Âm chỉ hãn.
Thích hợp: Khí Âm lưỡng hư, hồi hộp, đoản hơi, mệt, tự ra mồ hôi, miệng khô.
Chú ý
Trung thành dược không nên lựa chọn chỉ căn cứ vào tên bệnh. Người đang dùng thuốc chống loạn nhịp, thuốc chống đông, thuốc tim mạch hoặc có suy gan thận cần hỏi bác sĩ trước khi dùng.
ĐIỀU DƯỠNG
Trong giai đoạn cấp cần nghỉ ngơi, tránh vận động mạnh và lao lực.
Giai đoạn hồi phục có thể tăng dần vận động căn cứ nhịp tim, mức độ mệt và hướng dẫn của bác sĩ.
Ngủ đủ, tránh thức khuya, căng thẳng và sử dụng quá nhiều cà phê, trà đặc hoặc thức uống kích thích.
Ăn uống điều độ, dễ tiêu, không quá no. Khi Tỳ hư, nên giảm thức ăn sống lạnh, nhiều dầu mỡ và khó tiêu.
Không tự bổ sung kali, magie hoặc thuốc tim mạch nếu chưa có xét nghiệm.
Không tự ngừng thuốc chống loạn nhịp hoặc thuốc điều trị suy tim khi triệu chứng giảm.
CHÚ Ý
Không phải mọi cảm giác hồi hộp đều là rối loạn nhịp tim. Cần xác định bằng bắt mạch, điện tâm đồ hoặc theo dõi điện tâm đồ kéo dài.
Viêm cơ tim có thể gây nhịp nhanh, ngoại tâm thu, block dẫn truyền, rung nhĩ, nhịp nhanh thất hoặc các rối loạn nhịp nguy hiểm khác.
Rối loạn nhịp tim kèm đau ngực, khó thở, ngất, huyết áp thấp, tím tái hoặc rối loạn ý thức là tình trạng cấp cứu.
Không tự dùng Phụ tử, Ma hoàng, Nhân sâm liều cao hoặc thuốc hoạt Huyết mạnh cho người có rối loạn nhịp tim.
Trung y có thể hỗ trợ điều chỉnh Tâm khí, Khí Âm, Huyết ứ và Đàm trọc trong giai đoạn phù hợp, nhưng không thay thế theo dõi điện tâm đồ, điều trị suy tim, thuốc chống loạn nhịp, máy tạo nhịp hoặc các biện pháp cấp cứu khi cần thiết.
Trường Xuân biên soạn