Khái quát
Bệnh sỏi mật bao gồm sỏi túi mật, sỏi ống mật chủ và sỏi đường mật trong gan. Sỏi có thể tồn tại yên lặng trong thời gian dài, nhưng cũng có thể làm tắc đường mật, gây đau quặn mật, viêm túi mật, viêm đường mật, vàng da hoặc viêm tụy.
Viêm túi mật và sỏi mật có quan hệ mật thiết. Sỏi gây tắc nghẽn và ứ mật, tạo điều kiện phát sinh viêm. Ngược lại, viêm kéo dài làm thành phần dịch mật thay đổi, tế bào và chất tiết viêm có thể trở thành cơ sở để sỏi tiếp tục hình thành.
Trong Trung y, bệnh thường được xem xét trong phạm vi các chứng:
Hiếp thống 脅痛.
Đởm trướng 膽脹.
Hoàng đản 黃疸.
Phúc thống 腹痛.
Vị quản thống 胃脘痛.
Âu thổ 嘔吐.
Bệnh vị chủ yếu ở Can và Đởm, đồng thời liên quan mật thiết với Tỳ, Vị và Tam tiêu. Bệnh cơ thường lấy Can Đởm khí trệ, thấp nhiệt uẩn kết làm trọng tâm; lâu ngày đàm trọc, huyết ứ và các chất hữu hình kết tụ thành sỏi.
Bệnh cơ căn bản
Can khí uất trệ
Can chủ sơ tiết, điều đạt khí cơ. Đởm chứa và bài tiết dịch mật. Khi Can khí không thư sướng, Đởm khí khó thông, dịch mật lưu hành không thuận.
Người bệnh thường đau tức hạ sườn phải, ngực bụng đầy, hay thở dài, ợ hơi, buồn nôn và triệu chứng tăng khi tinh thần căng thẳng.
Tỳ hư sinh thấp
Ăn uống không điều độ, dùng nhiều thức béo ngọt, ít vận động hoặc bệnh kéo dài làm Tỳ mất kiện vận.
Thủy thấp không hóa, tích lại thành đàm trọc. Đàm thấp làm Trung tiêu trì trệ, dịch mật càng khó lưu thông và dễ cô đặc.
Thấp nhiệt uẩn ở Can Đởm
Thấp tích lâu ngày có thể hóa nhiệt. Rượu, thức ăn quá béo, nhiễm khuẩn và ứ mật đều có thể làm thấp nhiệt tăng lên.
Người bệnh thường đau hạ sườn, miệng đắng, buồn nôn, ngán dầu mỡ, tiểu vàng, táo bón, vàng da và rêu lưỡi vàng nhớt.
Đàm trọc và sỏi kết
Đàm trong Trung y còn chỉ những sản phẩm bệnh lý do thủy thấp ngưng tụ.
Đàm trọc kết hợp với khí trệ, thấp nhiệt và huyết ứ có thể hình thành bệnh lý hữu hình, trong đó có bùn mật và sỏi.
Huyết ứ trở lạc
Khí trệ lâu ngày làm huyết hành không thông. Những đợt đau, viêm và tắc nghẽn tái diễn khiến huyết ứ lưu lại ở vùng Can Đởm.
Đau thường cố định, đau như châm, lưỡi tím hoặc có điểm ứ huyết.
Tỳ Vị suy yếu
Bệnh kéo dài, ăn uống giảm, phẫu thuật nhiều lần hoặc dùng thuốc đắng lạnh và công hạ quá mức có thể làm Tỳ Vị tổn thương.
Người bệnh mệt mỏi, ăn ít, bụng đầy, phân lỏng và phục hồi chậm.
Nguyên tắc điều trị của Trung y
Điều trị bệnh sỏi mật không nên chỉ tập trung vào việc “đẩy viên sỏi” ra ngoài.
Cần căn cứ bệnh cơ để vận dụng:
Sơ Can lý khí.
Thanh nhiệt lợi thấp.
Lợi Đởm thông phủ.
Kiện Tỳ hóa đàm.
Hoạt huyết thông lạc.
Hòa Vị giáng nghịch.
Ích khí, dưỡng huyết khi chính khí suy.
Trung y có thể hỗ trợ điều hòa khí cơ, giảm đầy bụng, buồn nôn và đau nhẹ, cải thiện tiêu hóa và thể trạng. Tuy nhiên, khả năng làm tan hoặc bài sạch sỏi phụ thuộc vào vị trí, kích thước, số lượng sỏi, tình trạng hẹp đường mật và chức năng túi mật.
Biện chứng luận trị
Can Đởm khí trệ
Biểu hiện
Đau tức hạ sườn phải, đau có tính di chuyển, ngực bụng đầy, hay thở dài, ợ hơi, buồn nôn; lưỡi rêu mỏng, mạch huyền.
Bệnh cơ
Can mất sơ tiết, Đởm khí không thông, Vị khí không hòa.
Phép trị
Sơ Can lý khí, lợi Đởm, hòa Vị chỉ thống.
Phương thang
Sài Hồ Sơ Can Tán gia giảm.
Sài hồ, Hương phụ, Chỉ xác, Bạch thược, Xuyên khung, Uất kim, Xuyên luyện tử, Cam thảo.
Đau rõ có thể gia Diên hồ sách.
Buồn nôn có thể gia Bán hạ chế, Trúc nhự.
Can Đởm thấp nhiệt
Biểu hiện
Đau hạ sườn phải, miệng đắng, ngán dầu mỡ, buồn nôn, tiểu vàng, táo bón, có thể sốt hoặc vàng da; lưỡi đỏ, rêu vàng nhớt, mạch huyền sác hoặc hoạt sác.
Bệnh cơ
Thấp nhiệt uẩn kết ở Can Đởm, dịch mật bài tiết không thông.
Phép trị
Thanh nhiệt lợi thấp, sơ Can lợi Đởm.
Phương thang
Đại Sài Hồ Thang hoặc Nhân Trần Hao Thang gia giảm.
Sài hồ, Hoàng cầm, Bạch thược, Chỉ thực, Bán hạ chế, Nhân trần, Uất kim, Chi tử.
Đại hoàng chỉ được cân nhắc khi thực nhiệt và táo bón rõ.
Không dùng với mục đích gây tiêu chảy mạnh để “tống sỏi”.
Đàm thấp khí trệ
Biểu hiện
Bụng đầy, đau âm ỉ hạ sườn, ăn kém, buồn nôn, cơ thể nặng nề, đại tiện thất thường; lưỡi rêu trắng hoặc vàng dày nhớt, mạch huyền hoạt.
Bệnh cơ
Tỳ hư sinh đàm thấp, đàm khí trở trệ Can Đởm.
Phép trị
Kiện Tỳ hóa đàm, lý khí lợi Đởm.
Phương thang
Ôn Đởm Thang hợp Hương Sa Lục Quân Tử Thang gia giảm.
Bán hạ chế, Trần bì, Phục linh, Trúc nhự, Chỉ thực, Đảng sâm, Bạch truật, Mộc hương, Sa nhân.
Có sỏi có thể gia Kim tiền thảo, Hải kim sa, Kê nội kim với mục đích hỗ trợ.
Can uất Tỳ hư
Biểu hiện
Đau tức hạ sườn lúc nặng lúc nhẹ, triệu chứng tăng khi lo nghĩ, bụng đầy, ăn ít, phân lỏng hoặc khi lỏng khi táo; lưỡi nhạt to có dấu răng, mạch huyền nhược.
Bệnh cơ
Can khí uất phạm Tỳ, Tỳ mất vận hóa.
Phép trị
Sơ Can kiện Tỳ, điều hòa Mộc Thổ.
Phương thang
Tiêu Dao Tán hoặc Thống Tả Yếu Phương gia giảm.
Sài hồ, Bạch thược, Bạch truật, Phục linh, Trần bì, Phòng phong, Mộc hương, Sa nhân.
Khí trệ huyết ứ
Biểu hiện
Đau cố định vùng hạ sườn, đau như châm, bệnh tái phát kéo dài, sắc mặt tối, lưỡi tím hoặc có điểm ứ huyết, mạch huyền sáp.
Bệnh cơ
Khí trệ lâu ngày, huyết ứ trở lạc.
Phép trị
Hành khí hoạt huyết, thông lạc chỉ thống.
Phương thang
Cách Hạ Trục Ứ Thang hoặc Huyết Phủ Trục Ứ Thang gia giảm.
Đan sâm, Uất kim, Xích thược, Đương quy, Xuyên khung, Diên hồ sách, Chỉ xác.
Chú ý
Không tự dùng thuốc hoạt huyết mạnh khi có giảm tiểu cầu, xuất huyết đường mật, giãn tĩnh mạch thực quản, đang dùng thuốc chống đông hoặc chuẩn bị phẫu thuật.
Tỳ Vị khí hư
Biểu hiện
Bệnh kéo dài, ăn ít, mệt mỏi, bụng đầy sau ăn, phân lỏng, sắc mặt nhợt vàng; lưỡi nhạt có dấu răng, mạch nhu nhược.
Bệnh cơ
Tỳ Vị suy, vận hóa không đủ, thấp trọc khó hóa.
Phép trị
Kiện Tỳ ích khí, hòa Vị, hóa thấp.
Phương thang
Hương Sa Lục Quân Tử Thang hoặc Sâm Linh Bạch Truật Tán gia giảm.
Đảng sâm, Bạch truật, Phục linh, Trần bì, Bán hạ chế, Mộc hương, Sa nhân, Sơn dược, Ý dĩ nhân, Cam thảo.
Can âm, Can huyết bất túc
Biểu hiện
Đau âm ỉ kéo dài, miệng khô, mất ngủ, mắt khô, cơ thể gầy, lưỡi đỏ ít rêu, mạch huyền tế.
Bệnh cơ
Bệnh lâu làm Can âm và Can huyết suy, Can lạc mất nhu dưỡng.
Phép trị
Dưỡng huyết nhu Can, tư âm, điều khí.
Phương thang
Nhất Quán Tiễn hoặc Tứ Vật Thang gia giảm.
Sinh địa, Bắc sa sâm, Mạch môn, Câu kỷ tử, Đương quy, Bạch thược, Uất kim.
Các vị thường dùng trong bệnh sỏi mật
Kim tiền thảo
Thanh nhiệt lợi thấp, lợi Đởm.
Thường được phối hợp khi có thấp nhiệt và sỏi nhỏ, nhưng không bảo đảm làm tan hoặc bài sạch sỏi.
Hải kim sa
Thanh lợi thấp nhiệt, thường dùng trong các chứng kết thạch.
Không nên dùng liều lớn kéo dài ở người Tỳ Vị hư hoặc chức năng thận suy giảm.
Kê nội kim
Tiêu thực hóa tích, kiện vận Tỳ Vị và thường được phối hợp trong các chứng kết tụ.
Uất kim
Hành khí giải uất, hoạt huyết, lợi Đởm và hỗ trợ thoái hoàng.
Nhân trần
Thanh lợi thấp nhiệt, lợi Đởm, thoái hoàng.
Sài hồ
Sơ Can, điều đạt khí cơ Thiếu dương.
Đại hoàng
Thông phủ và thanh nhiệt mạnh.
Không nên dùng kéo dài hoặc lấy số lần đại tiện làm tiêu chuẩn đánh giá hiệu quả bài sỏi.
Nhận thức đúng về phép bài thạch
Phép lợi Đởm bài thạch từng được sử dụng khá rộng trong điều trị kết hợp Trung y và Tây y.
Tuy nhiên, việc thấy một vật giống sỏi trong phân hoặc người bệnh hết đau không có nghĩa là đường mật đã sạch sỏi.
Một số cặn thức ăn, xương nhỏ, chất béo đông lại hoặc phân kết có thể bị nhầm là sỏi. Hiệu quả phải được đánh giá bằng siêu âm và các phương pháp hình ảnh thích hợp.
Khả năng bài sỏi phụ thuộc vào:
Vị trí viên sỏi.
Kích thước và hình dạng sỏi.
Số lượng sỏi.
Đường kính và độ thông của đường mật.
Có hẹp hoặc sẹo hay không.
Sỏi có dính vào thành đường mật hay không.
Mức độ viêm và phù nề.
Chức năng co bóp của túi mật.
Sỏi túi mật thường khó bài xuất vì ống túi mật nhỏ, cong và hẹp. Sỏi lớn, nhiều sỏi, túi mật chứa đầy sỏi hoặc túi mật mất chức năng gần như không thích hợp với phép bài thạch.
Sỏi ống mật chủ nhỏ có thể di chuyển, nhưng cũng có nguy cơ mắc kẹt, gây viêm đường mật hoặc viêm tụy.
Sỏi đường mật trong gan thường đi kèm hẹp và viêm tái phát, nên chỉ dùng thuốc bài thạch thường khó đạt kết quả căn bản.
Không nên thực hiện “tổng công”
Phương pháp “tổng công” cũ thường phối hợp Trung dược lợi mật, thuốc tả hạ, magnesi sulfat, thuốc làm co hoặc giãn cơ thắt, châm cứu và bữa ăn nhiều chất béo.
Phương pháp này có thể làm túi mật và đường mật co bóp mạnh, gây mất nước, rối loạn điện giải, tiêu chảy, tụt huyết áp hoặc làm sỏi mắc kẹt.
Một số báo cáo cũ còn ghi nhận tử vong trong quá trình điều trị.
Vì vậy, không nên áp dụng các phác đồ “tổng công”, “tiểu tổng công” hoặc tự phối hợp nhiều biện pháp nhằm cưỡng ép bài sỏi.
Không dùng bữa ăn nhiều chất béo để bài sỏi
Chất béo kích thích túi mật co bóp. Khi có sỏi mắc ở cổ túi mật hoặc đường mật, sự co bóp mạnh có thể làm đau tăng và gây tắc nghẽn.
Không nên dùng móng giò, dầu, trứng chiên hoặc bữa ăn quá nhiều chất béo để thử khả năng bài sỏi.
Đặc biệt không áp dụng khi đang đau, sốt hoặc vàng da.
Thuốc làm tan sỏi
Ursodeoxycholic acid có thể được sử dụng trong một số trường hợp sỏi cholesterol nhỏ, túi mật còn chức năng và ống túi mật còn thông.
Điều trị thường kéo dài, không phải mọi viên sỏi đều tan và sỏi có thể tái phát sau khi ngừng thuốc.
Thuốc không phù hợp với:
Sỏi sắc tố.
Sỏi vôi hóa.
Sỏi lớn.
Túi mật mất chức năng.
Ống túi mật bị tắc.
Viêm túi mật cấp.
Sỏi ống mật chủ gây tắc nghẽn.
Không tự mua acid mật hoặc các sản phẩm quảng cáo làm tan sỏi để sử dụng.
Điều trị bảo tồn
Điều trị bảo tồn có thể được cân nhắc khi:
Sỏi chưa gây biến chứng cấp.
Triệu chứng nhẹ.
Người bệnh có nguy cơ phẫu thuật cao.
Sỏi nhỏ và đường mật còn thông.
Sỏi còn sót sau phẫu thuật nhưng chưa gây tắc nghẽn nặng.
Sỏi đường mật trong gan phân bố rộng, cần xây dựng kế hoạch điều trị theo từng giai đoạn.
Điều trị bảo tồn nhằm kiểm soát triệu chứng, cải thiện thể trạng và theo dõi diễn biến, không đồng nghĩa với việc chắc chắn loại bỏ hoàn toàn sỏi.
Vai trò Trung y trước phẫu thuật
Trước can thiệp, Trung y có thể được vận dụng để:
Kiện Tỳ, cải thiện ăn uống.
Hòa Vị, giảm buồn nôn.
Sơ Can lý khí.
Điều chỉnh giấc ngủ và thể trạng.
Thuốc phải được đánh giá về nguy cơ chảy máu, tương tác thuốc và ảnh hưởng chức năng gan thận.
Không dùng thuốc hoạt huyết mạnh, công hạ hoặc lợi mật quá mức khi sắp phẫu thuật.
Vai trò Trung y sau phẫu thuật
Sau khi tình trạng ổn định, có thể căn cứ thể bệnh để:
Kiện Tỳ ích khí.
Hòa Vị, phục hồi ăn uống.
Thanh lợi thấp nhiệt còn lưu.
Sơ Can điều khí.
Dưỡng huyết, phục hồi chính khí.
Không dùng thuốc bài thạch khi đường mật chưa được xác nhận thông suốt.
Không tự tác động vào ống dẫn lưu, bơm rửa hoặc đưa thuốc vào đường mật.
Châm cứu hỗ trợ
Vai trò
Châm cứu có thể hỗ trợ giảm đau nhẹ, buồn nôn, đầy bụng và điều hòa khí cơ ở người bệnh ổn định.
Châm cứu có thể làm túi mật co bóp và thay đổi vận động đường mật. Vì vậy, tác động này không phải lúc nào cũng có lợi; sỏi có thể di chuyển đến cổ túi mật hoặc ống mật chủ và gây tắc.
Châm cứu không được xem là phương pháp chắc chắn bài sạch sỏi.
Huyệt thường dùng
Bàng quang-18 Can du.
Bàng quang-19 Đởm du.
Đởm-24 Nhật nguyệt.
Can-14 Kỳ môn.
Đởm-34 Dương lăng tuyền.
Can-3 Thái xung.
Nhâm-12 Trung quản.
Vị-36 Túc tam lý.
Tâm bào-6 Nội quan.
Phối huyệt
Đau hạ sườn nhẹ: Bàng quang-19 Đởm du, Đởm-34 Dương lăng tuyền, Can-14 Kỳ môn.
Buồn nôn: Tâm bào-6 Nội quan, Nhâm-12 Trung quản.
Khí trệ: Can-3 Thái xung, Tam tiêu-6 Chi câu.
Tỳ hư: Vị-36 Túc tam lý, Bàng quang-20 Tỳ du.
Chú ý
Không châm kích thích mạnh hoặc lưu kim kéo dài khi người bệnh:
Đang đau quặn dữ dội.
Sốt cao hoặc rét run.
Vàng da tăng nhanh.
Huyết áp thấp.
Nôn liên tục.
Có viêm tụy.
Có rối loạn đông máu.
Nghi thủng túi mật hoặc viêm phúc mạc.
Nhĩ châm
Có thể dùng hạt Vương bất lưu hành sạch để ấn nhẹ các vùng Can, Đởm, Tá tràng, Thần môn và Giao cảm nhằm hỗ trợ thư giãn và giảm khó chịu.
Không nên dùng dòng điện, hạt nam châm hoặc kích thích mạnh với mục đích cưỡng ép bài sỏi.
Không phối hợp nhĩ châm với bữa ăn nhiều chất béo.
Khí công và vận động
Khí công có thể giúp điều hòa hơi thở, giảm căng thẳng và duy trì vận động nhẹ.
Bài thở bụng
Ngồi hoặc nằm ở tư thế thoải mái.
Thả lỏng vai và bụng.
Hít vào nhẹ bằng mũi, để bụng nâng tự nhiên.
Thở ra chậm, không nín hơi và không cố đẩy bụng mạnh.
Tập trong vài phút, dừng khi đau tăng hoặc chóng mặt.
Không nên cho rằng thở bụng có thể xoa bóp trực tiếp để đẩy sỏi khỏi túi mật.
Vận động
Giai đoạn ổn định có thể đi bộ, tập Thái cực quyền, bơi nhẹ hoặc đạp xe căn cứ thể lực.
Không chạy hoặc tập mạnh ngay sau bữa ăn.
Không vận động trong cơn đau, sốt, vàng da hoặc buồn nôn.
Điều dưỡng ăn uống
Ăn đúng giờ
Không bỏ bữa hoặc nhịn đói kéo dài.
Nên duy trì các bữa ăn tương đối đều để hạn chế dịch mật lưu lại quá lâu.
Không ăn quá no
Bữa ăn quá lớn, đặc biệt nhiều dầu mỡ, có thể khởi phát đau quặn mật.
Nên ăn lượng vừa phải và chia thành các bữa phù hợp.
Chất béo
Hạn chế món chiên rán, mỡ động vật và các bữa quá nhiều dầu.
Không cần kiêng hoàn toàn chất béo trong thời gian dài.
Có thể dùng lượng nhỏ dầu thực vật, cá và những nguồn chất béo không bão hòa căn cứ khả năng dung nạp.
Cholesterol
Không cần tuyệt đối kiêng trứng ở mọi người.
Điều quan trọng là tổng thể khẩu phần, cân nặng, mỡ máu và lượng thức ăn giàu cholesterol sử dụng thường xuyên.
Nên hạn chế nội tạng, óc động vật, thịt quá nhiều mỡ và thực phẩm chiên.
Protein
Dùng đủ cá, thịt nạc, trứng, sữa và các sản phẩm từ đậu.
Không áp dụng chế độ ăn quá nghèo protein.
Chất xơ
Rau, trái cây nguyên quả, các loại đậu và ngũ cốc nguyên hạt giúp duy trì đại tiện và kiểm soát cân nặng.
Tăng lượng từ từ để tránh đầy hơi.
Nước uống
Uống đủ nước căn cứ cảm giác khát, khí hậu, vận động và chức năng tim thận.
Không có căn cứ chắc chắn để khẳng định nước từ hóa hoặc một loại nước khoáng cụ thể có thể làm tan hoặc bài sỏi.
Không cần bắt buộc mọi người uống trên 1.500 ml nếu có bệnh tim, thận, xơ gan hoặc phải hạn chế dịch.
Sau cắt túi mật
Gan vẫn tiếp tục tạo dịch mật sau khi túi mật được cắt bỏ.
Trong thời gian đầu, một số người có thể đầy bụng hoặc tiêu chảy khi ăn nhiều chất béo.
Nên bắt đầu bằng bữa nhỏ, ít dầu, sau đó tăng dần theo khả năng dung nạp.
Không phải mọi người đều phải kiêng chất béo kéo dài.
Phòng ngừa
Duy trì cân nặng phù hợp.
Giảm cân từ từ, không nhịn ăn cực đoan.
Ăn uống đúng giờ.
Không ăn quá no.
Hạn chế thức ăn chiên và quá nhiều đường.
Duy trì vận động đều đặn.
Điều trị ký sinh trùng theo chỉ định.
Giữ vệ sinh ăn uống.
Không tự dùng thuốc hormon hoặc thuốc làm tan sỏi.
Điều trị các bệnh gan, tan máu, đái tháo đường và bệnh đường ruột.
Điều hòa tình chí
Căng thẳng không trực tiếp tạo thành sỏi, nhưng có thể ảnh hưởng ăn uống, giấc ngủ và cảm nhận đau.
Điều dưỡng tình chí nhằm giúp Can khí điều đạt, duy trì nếp sống ổn định và tăng khả năng phối hợp điều trị.
Không nên cho rằng người bệnh tái phát chỉ vì lo nghĩ hoặc nóng giận.
Khi nào cần can thiệp
Phẫu thuật hoặc nội soi thường được cân nhắc khi có:
Đau quặn mật tái diễn.
Viêm túi mật cấp.
Sỏi ống mật chủ.
Viêm đường mật.
Vàng da tắc nghẽn.
Viêm tụy do sỏi.
Túi mật mất chức năng.
Sỏi gây biến chứng.
Điều trị bảo tồn không kiểm soát được triệu chứng.
Không nên trì hoãn can thiệp cần thiết để tiếp tục thử nhiều phương thuốc bài sỏi.
Dấu hiệu cần khám sớm
Đau hoặc đầy tức hạ sườn phải tái diễn.
Buồn nôn sau bữa ăn.
Ăn kém kéo dài.
Vàng mắt nhẹ.
Nước tiểu sẫm.
Sụt cân không rõ nguyên nhân.
Dấu hiệu cần cấp cứu
Đau hạ sườn phải dữ dội kéo dài.
Sốt cao hoặc rét run.
Vàng da tăng nhanh.
Nôn liên tục.
Đau lan ra lưng kèm nôn nhiều.
Bụng cứng hoặc đau lan toàn bụng.
Huyết áp giảm, chóng mặt hoặc ngất.
Lú lẫn hoặc ngủ gà.
Tiểu ít.
Đau ngực hoặc khó thở.
Kết luận
Theo Trung y, bệnh sỏi mật hình thành trên cơ sở Can Đởm khí trệ, Tỳ hư sinh thấp, thấp nhiệt, đàm trọc và huyết ứ kết tụ lâu ngày.
Điều trị cần căn cứ từng thể để vận dụng sơ Can lợi Đởm, thanh nhiệt lợi thấp, kiện Tỳ hóa đàm, hành khí hoạt huyết hoặc dưỡng huyết nhu Can.
Phép bài thạch có giới hạn rõ ràng. Việc hết đau hoặc thấy vật giống sỏi trong phân không đồng nghĩa sỏi đã được bài sạch. Hiệu quả phải được xác nhận bằng phương pháp hình ảnh.
Châm cứu, nhĩ châm, khí công và Trung dược có thể hỗ trợ triệu chứng và thể trạng trong trường hợp thích hợp, nhưng không nên dùng để cưỡng ép túi mật co bóp hoặc thay thế nội soi và phẫu thuật.
Nói tóm lại, điều trị bảo tồn chỉ nên được lựa chọn sau khi xác định rõ vị trí, kích thước, số lượng sỏi, chức năng túi mật và tình trạng đường mật. Khi có đau dữ dội, sốt, vàng da hoặc viêm tụy, việc giải trừ tắc nghẽn và điều trị chuyên khoa giữ vai trò quyết định.
Trường Xuân biên soạn