Lời dẫn
Kết khối dạ dày là tình trạng vật chất khó tiêu tích tụ trong lòng dạ dày, kết dính thành một khối đặc, không thể được tiêu hóa hoặc đẩy xuống ruột một cách bình thường. Trong y học hiện đại, khối này thường được gọi là bezoar dạ dày.
Kết khối có thể được hình thành từ chất xơ thực vật, tóc, thuốc hoặc các vật chất khác. Trong đó, kết khối thực vật sau khi ăn nhiều quả hồng thường được gọi là sỏi hồng dạ dày hay Vị thị thạch chứng (胃柿石症).
Một số loại quả chứa nhiều tanin và chất xơ như hồng, sơn tra hoặc táo có thể kết tụ trong môi trường acid của dạ dày, nhất là khi được ăn với số lượng lớn lúc bụng đói. Quả hồng còn xanh hoặc chưa chín kỹ thường chứa nhiều tanin hơn, vì vậy nguy cơ hình thành kết khối cũng cao hơn.
Kết khối dạ dày có thể gây đau và đầy thượng vị, nhanh no, buồn nôn, nôn, ăn kém, viêm niêm mạc, loét, xuất huyết hoặc tắc nghẽn đường ra của dạ dày. Khi khối kết di chuyển xuống ruột, nó có thể gây tắc ruột. Trường hợp nặng còn có nguy cơ làm niêm mạc hoại tử và thủng dạ dày.
Trong Trung y, bệnh thường thuộc phạm vi Tích tụ (积聚), Vị quản thống (胃脘痛), Bĩ mãn (痞满), Thực tích (食积), Ẩu thổ (呕吐) và Trưng hà (癥瘕). Bệnh cơ căn bản là thức ăn đình trệ trong Vị, khí cơ trung tiêu bế tắc, Vị mất thu nạp và hòa giáng. Bệnh kéo dài có thể làm khí trệ, huyết ứ, đàm thấp và hàn ngưng kết lại thành khối.
Chú ý
Nếu đau bụng dữ dội, bụng chướng tăng nhanh, nôn liên tục, không ăn uống được, nôn ra máu, đi ngoài phân đen, không trung tiện hoặc đại tiện được, cần đi cấp cứu.
Không tự rửa dạ dày bằng dung dịch natri bicarbonat hoặc bất kỳ dung dịch nào tại nhà.
Không tự uống thuốc công hạ mạnh, thuốc phá huyết, tiêu tích hoặc hoạt huyết khi chưa xác định kích thước, vị trí và biến chứng của kết khối.
Điều trị Trung y chỉ có vai trò hỗ trợ trong trường hợp ổn định và phải được phối hợp với nội soi, đánh giá hình ảnh và xử trí chuyên khoa.
KẾT KHỐI DẠ DÀY LÀ GÌ?
Kết khối dạ dày hình thành khi những vật chất không tiêu hóa được lưu lại trong dạ dày, bện chặt hoặc kết dính thành một khối.
Khối kết có thể nhỏ, mềm và tự thoát xuống ruột; cũng có thể lớn, cứng, tồn tại kéo dài và liên tục cọ xát lên niêm mạc dạ dày.
Các loại kết khối thường gặp gồm:
Kết khối thực vật
Được hình thành từ xơ thực vật, vỏ, hạt và tanin trong trái cây. Kết khối do quả hồng là một dạng điển hình.
Kết khối tóc
Hình thành do nhổ, nhai và nuốt tóc kéo dài. Tóc không được tiêu hóa, bám vào nhau và hòa với thức ăn, dịch nhầy thành khối. Dạng này thường gặp hơn ở trẻ em gái hoặc người có rối loạn hành vi nhổ tóc và ăn tóc.
Kết khối do thuốc
Một số loại thuốc hoặc chất bổ sung có thể kết dính trong dạ dày nếu không tan hoàn toàn, nhất là khi dạ dày làm rỗng chậm.
Kết khối hỗn hợp
Được tạo thành từ nhiều loại vật chất như tóc, chất xơ, thức ăn và dịch nhầy.
VÌ SAO QUẢ HỒNG CÓ THỂ TẠO KẾT KHỐI?
Quả hồng chứa tanin, chất xơ và một số hợp chất thực vật khác. Trong môi trường acid của dạ dày, tanin có thể kết hợp với protein và chất xơ, tạo thành những chất kết tụ khó tan.
Khi ăn nhiều quả hồng trong một lần, nhất là lúc bụng đói, vật chất này có thể nhanh chóng kết lại. Nhu động dạ dày tiếp tục nhào trộn làm khối ngày càng chắc và lớn hơn.
Nguy cơ tăng khi:
Ăn nhiều hồng trong một lần.
Ăn hồng xanh hoặc chưa chín kỹ.
Ăn khi bụng đói.
Nhai không kỹ.
Dạ dày làm rỗng chậm.
Đã từng phẫu thuật dạ dày.
Có đái tháo đường gây liệt dạ dày.
Người cao tuổi hoặc chức năng nhai kém.
Dùng thuốc làm chậm vận động đường tiêu hóa.
TRIỆU CHỨNG
Giai đoạn cấp tính
Triệu chứng có thể xuất hiện trong vài giờ sau khi ăn nhiều quả hồng hoặc thực phẩm khó tiêu.
Biểu hiện thường gặp gồm:
Nặng và tức vùng thượng vị.
Bụng đầy trướng.
Đau vùng trên rốn.
Buồn nôn.
Nôn thức ăn hoặc các mảnh quả.
Ăn nhanh no.
Ợ hơi, ợ chua.
Một số trường hợp có thể nôn ra máu do niêm mạc bị cọ xát hoặc loét.
Giai đoạn mạn tính
Kết khối tồn tại kéo dài có thể gây:
Đau thượng vị tái phát.
Ăn kém.
Nhanh no.
Khó tiêu.
Buồn nôn hoặc nôn từng đợt.
Ợ chua, nóng rát.
Sụt cân.
Thiếu máu.
Phân đen khi có xuất huyết.
Có thể sờ thấy khối cứng, di động ở vùng thượng vị trong một số trường hợp có khối lớn.
BIẾN CHỨNG
Viêm và trợt niêm mạc
Khối kết liên tục chà xát lên niêm mạc, gây sung huyết, phù nề và trợt.
Loét dạ dày
Sự chèn ép kéo dài làm tuần hoàn tại niêm mạc suy giảm, dẫn đến loét và xuất huyết.
Tắc nghẽn đường ra dạ dày
Khối lớn có thể chặn vùng môn vị, làm thức ăn không xuống tá tràng được.
Biểu hiện gồm:
Đầy bụng sau ăn.
Nôn thức ăn cũ.
Ăn nhanh no.
Sụt cân.
Mất nước.
Tắc ruột
Khối kết nhỏ lại hoặc bị đẩy xuống ruột có thể mắc tại một đoạn ruột hẹp, gây đau quặn, nôn, bụng chướng và bí trung đại tiện.
Hoại tử hoặc thủng
Sự chèn ép lâu ngày có thể làm thành dạ dày hoặc ruột hoại tử và thủng. Đây là biến chứng nguy hiểm cần phẫu thuật cấp cứu.
KẾT KHỐI DẠ DÀY Ở TRẺ EM
Trẻ em có thể hình thành kết khối sau khi ăn nhiều hồng, táo khô, sơn tra hoặc các loại quả nhiều xơ. Trẻ nhỏ thường nhai chưa kỹ và khó mô tả triệu chứng chính xác.
Kết khối tóc cần được chú ý khi trẻ có biểu hiện:
Thường xuyên xoắn hoặc nhổ tóc.
Nhai tóc hoặc nuốt tóc.
Tóc thưa thành từng vùng.
Đau bụng kéo dài.
Ăn kém và sụt cân.
Thiếu máu.
Nôn tái diễn.
Khi có thói quen nhổ và ăn tóc, ngoài điều trị kết khối còn cần đánh giá tâm lý và hành vi để phòng tái phát.
CHẨN ĐOÁN
Hỏi bệnh sử
Cần làm rõ:
Đã ăn loại quả nào.
Số lượng đã ăn.
Ăn lúc đói hay no.
Thời điểm xuất hiện triệu chứng.
Tiền sử phẫu thuật dạ dày.
Tình trạng đái tháo đường.
Thuốc đang sử dụng.
Thói quen nhổ hoặc nuốt tóc.
Nội soi dạ dày
Nội soi là phương pháp quan trọng giúp:
Nhìn thấy trực tiếp kết khối.
Đánh giá kích thước, màu sắc và độ cứng.
Xác định vị trí.
Phát hiện viêm, trợt, loét hoặc xuất huyết.
Tán nhỏ hoặc lấy khối kết trong những trường hợp phù hợp.
Chụp cắt lớp vi tính
Có thể được thực hiện khi nghi biến chứng, tắc ruột, thủng hoặc khi kết quả nội soi chưa đầy đủ.
Siêu âm ổ bụng
Có thể phát hiện khối bất thường nhưng độ chính xác phụ thuộc vị trí, kích thước, khí trong ruột và kinh nghiệm người thực hiện.
Chụp X-quang cản quang
Phương pháp này từng được sử dụng nhiều để phát hiện hình khuyết trong dạ dày, nhưng hiện nay thường được thay thế bằng nội soi hoặc chụp cắt lớp trong nhiều trường hợp.
Xét nghiệm máu
Có thể cần kiểm tra:
Công thức máu.
Thiếu máu.
Dấu hiệu viêm.
Điện giải.
Chức năng gan thận.
Tình trạng mất nước.
Xét nghiệm phân
Máu ẩn trong phân có thể dương tính khi niêm mạc bị trợt hoặc loét.
ĐIỀU TRỊ THEO Y HỌC HIỆN ĐẠI
Lựa chọn phương pháp điều trị căn cứ vào loại kết khối, kích thước, độ cứng, vị trí và biến chứng.
Điều trị hòa tan
Một số kết khối thực vật có thể được làm mềm hoặc hòa tan bằng dung dịch thích hợp dưới sự hướng dẫn và theo dõi của bác sĩ.
Không phải mọi kết khối đều có thể hòa tan. Kết khối tóc thường không đáp ứng với phương pháp này.
Không tự uống lượng lớn dung dịch có tính kiềm hoặc nước có gas để điều trị tại nhà, vì có thể gây rối loạn điện giải, chướng dạ dày, di chuyển khối xuống ruột hoặc trì hoãn xử trí cần thiết.
Tán và lấy qua nội soi
Bác sĩ có thể sử dụng:
Kìm.
Thòng lọng.
Rọ lấy dị vật.
Dao hoặc dụng cụ tán cơ học.
Các thiết bị tán khác tùy điều kiện.
Khối kết có thể được chia nhỏ rồi lấy ra từng phần. Sau đó cần kiểm tra lại niêm mạc để phát hiện loét hoặc chảy máu.
Phẫu thuật
Được cân nhắc khi:
Khối quá lớn hoặc quá cứng.
Không thể lấy qua nội soi.
Có tắc ruột.
Có thủng.
Xuất huyết không kiểm soát được.
Khối tóc kéo dài xuống ruột.
Điều trị bệnh nền
Cần điều chỉnh các yếu tố làm kết khối tái phát như:
Liệt dạ dày.
Đái tháo đường.
Rối loạn nhai nuốt.
Thuốc làm chậm nhu động.
Thói quen ăn quá nhiều thực phẩm nhiều xơ.
Rối loạn nhổ và ăn tóc.
NHẬN THỨC CỦA TRUNG Y
Theo Trung y, Vị chủ thu nạp và làm chín nhừ thủy cốc, lấy hòa giáng làm thuận. Tỳ chủ vận hóa, giúp tinh vi được đưa đi và trọc chất đi xuống.
Khi ăn quá nhiều quả hồng hoặc vật chất khó tiêu, thức ăn đình lại trong Vị, làm Vị mất hòa giáng. Khí cơ không thông thì sinh bĩ mãn và đau; Vị khí nghịch thì buồn nôn, nôn và ợ chua.
Thực tích kéo dài có thể sinh thấp, đàm và nhiệt. Khí trệ lâu ngày làm huyết hành không thuận, dần hình thành huyết ứ. Nếu người bệnh vốn Tỳ Vị hư hàn, hàn thấp và thực tích có thể kết lại thành khối cứng, bệnh lâu khó tiêu.
Bệnh cơ thường là bản hư tiêu thực:
Bản hư: Tỳ Vị suy yếu, trung dương bất túc.
Tiêu thực: Thực tích, khí trệ, đàm thấp, hàn ngưng và huyết ứ.
Trung y không thể căn cứ vào việc đau giảm để xác nhận khối đã tan. Việc đánh giá kết quả phải dựa vào nội soi hoặc hình ảnh học.
BIỆN CHỨNG LUẬN TRỊ
Bệnh cơ
Ăn quá nhiều quả hồng, sơn tra, táo hoặc thực phẩm nhiều xơ khiến thức ăn đình lại trong Vị, khí cơ không thông và Vị khí nghịch lên.
Chứng trạng: Có tiền sử ăn nhiều quả hồng hoặc thực phẩm khó tiêu; thượng vị đầy đau, ăn kém, nhanh no, ợ hơi, ợ chua, buồn nôn hoặc nôn ra mảnh thức ăn, có thể sờ thấy khối ở vùng thượng vị, ấn đau, rêu lưỡi dày nhớt, mạch hoạt.
Phép trị
Lý khí trợ vận, tiêu thực hóa tích.
Phương thang: Lục ma thang gia giảm gồm binh lang, mộc hương, chỉ thực, ô dược, trầm hương, đại hoàng; khi dùng cho kết khối thực vật có thể phối kê nội kim, tiêu sơn tra, uất kim, thần khúc, mạch nha.
Gia giảm
Đầy trướng và đau nhiều: gia đại phúc bì, lai phục tử.
Buồn nôn, nôn nhiều: gia bán hạ, trúc nhự, sinh khương.
Táo bón: có thể gia qua lâu nhân hoặc hỏa ma nhân; không tự dùng đại hoàng hay huyền minh phấn khi chưa loại trừ tắc ruột.
Tiêu lỏng: gia phục linh, bạch truật, hoài sơn dược.
Người gầy yếu, Tỳ khí hư: gia đảng sâm, bạch truật, phục linh.
Chú ý
Không sử dụng phép tiêu tích để thay thế nội soi khi đã xác định có kết khối lớn.
Bệnh cơ
Thức ăn đình lại làm khí cơ bế tắc, khí trệ là biểu hiện nổi bật, khối kết chưa hình thành hàn ứ rõ.
Chứng trạng: Thượng vị đầy tức, đau trướng nhiều hơn đau nhói, ợ hơi thường xuyên, ăn ít đã no, buồn nôn, trung tiện nhiều, đại tiện không thoải mái, rêu lưỡi dày nhớt, mạch huyền hoạt.
Phép trị
Hành khí tiêu bĩ, tiêu thực đạo trệ.
Phương thang: Chỉ thực đạo trệ hoàn gia giảm gồm chỉ thực, đại hoàng, hoàng liên, hoàng cầm, thần khúc, bạch truật, phục linh, trạch tả; trường hợp không có nhiệt kết rõ có thể dùng Bảo hòa hoàn gồm sơn tra, thần khúc, bán hạ, phục linh, trần bì, liên kiều, lai phục tử.
Gia giảm
Ợ chua: gia ô tặc cốt, ngõa lăng tử.
Đau nhiều: gia diên hồ sách, xuyên luyện tử.
Buồn nôn: gia bán hạ, trúc nhự.
Khí trệ rõ: gia mộc hương, hương phụ, phật thủ.
Bệnh cơ
Thực tích lâu ngày sinh thấp, thấp uất hóa nhiệt, cùng ngăn trở trung tiêu.
Chứng trạng: Thượng vị đầy nặng và đau, miệng đắng nhớt, buồn nôn, hơi thở hôi, đại tiện dính hoặc không thoải mái, tiểu tiện vàng, lưỡi đỏ, rêu vàng dày nhớt, mạch hoạt sác.
Phép trị
Thanh nhiệt hóa thấp, tiêu thực đạo trệ.
Phương thang: Chỉ thực đạo trệ hoàn hợp Liên phác ẩm gia giảm gồm chỉ thực, thần khúc, phục linh, bạch truật, hoàng liên, hậu phác, bán hạ, hoắc hương, bạch đậu khấu, trúc nhự.
Gia giảm
Nhiệt rõ: gia hoàng cầm, chi tử.
Đầy trướng: gia mộc hương, đại phúc bì.
Ợ chua: gia ô tặc cốt, ngõa lăng tử.
Chú ý
Nếu đau tăng, nôn nhiều hoặc không trung tiện được, cần loại trừ tắc nghẽn trước khi dùng thuốc.
Bệnh cơ
Kết khối tồn tại lâu ngày làm khí cơ không thông, chèn ép Vị lạc, khí trệ dẫn đến huyết ứ.
Chứng trạng: Đau thượng vị cố định, đau như kim châm, không thích ấn, đau tăng về đêm, có thể sờ thấy khối cứng, lưỡi tím sẫm hoặc có điểm ứ, mạch sáp.
Phép trị
Hành khí hóa ứ, tiêu tích thông lạc.
Phương thang: Chỉ thực đạo trệ hoàn gia giảm, phối tam lăng, nga truật, đào nhân, hồng hoa, sơn tra sống, diên hồ sách và uất kim.
Gia giảm
Đau nhiều: gia xuyên luyện tử, bạch thược.
Khí hư: gia hoàng kỳ, đảng sâm.
Vị âm tổn thương: gia bắc sa sâm, mạch môn đông.
Chú ý
Không dùng phép phá huyết khi có nôn máu, phân đen, thiếu máu tiến triển hoặc đang sử dụng thuốc chống đông.
Tam lăng, nga truật, đào nhân và hồng hoa không được dùng tùy tiện cho trẻ em, phụ nữ mang thai hoặc người có nguy cơ xuất huyết.
Bệnh cơ
Tỳ Vị vốn hư hàn, lại ăn nhiều thức ăn sống lạnh hoặc khó tiêu, làm hàn, thực, đàm và ứ kết lại trong Vị.
Chứng trạng: Thượng vị đầy đau, sờ thấy khối cứng, đau thích ấm và thích xoa, ăn uống giảm, miệng tiết nhiều nước bọt trong, người gầy, mệt, đại tiện phân lỏng, lưỡi nhạt tím, rêu trắng nhớt, mạch trầm sáp.
Phép trị
Ôn trung tán hàn, hành khí tiêu tích, hóa ứ thông lạc.
Phương thang: Phương ôn trung tiêu tích gia giảm gồm cao lương khương, can khương, mộc hương, thanh bì, tô ngạnh, kê nội kim, tam lăng và nga truật; việc sử dụng phụ tử chỉ được cân nhắc dưới sự theo dõi chuyên môn nghiêm ngặt.
Gia giảm
Đau bụng nhiều: gia bạch thược, chích cam thảo, uất kim.
Ăn kém: gia sơn tra, thần khúc, bạch truật.
Nhiều nước bọt trong: gia ngô thù du lượng nhỏ, bán hạ.
Tỳ khí hư: gia đảng sâm, phục linh.
Chú ý
Không tự dùng phụ tử, tam lăng hoặc nga truật. Khối lớn hoặc cứng không thể được xác định là đã tiêu chỉ vì triệu chứng giảm.
Bệnh cơ
Bệnh kéo dài làm Tỳ Vị suy yếu; vận hóa kém khiến thực tích và đàm thấp khó tiêu, hình thành tình trạng bản hư tiêu thực.
Chứng trạng: Thượng vị đầy âm ỉ, ăn ít đã no, ăn kém, mệt, sắc mặt nhợt, đại tiện phân nát, khối kết tồn tại kéo dài, lưỡi nhạt có dấu răng, rêu trắng nhớt, mạch tế nhược.
Phép trị
Kiện Tỳ ích khí, hòa Vị trợ vận, kiêm tiêu tích.
Phương thang: Hương sa lục quân tử thang gia giảm gồm đảng sâm, bạch truật, phục linh, chích cam thảo, trần bì, bán hạ, mộc hương, sa nhân; gia kê nội kim, mạch nha, thần khúc và chỉ xác lượng thích hợp.
Gia giảm
Mệt nhiều: gia hoàng kỳ.
Đại tiện lỏng: gia hoài sơn dược, liên tử.
Đầy nhiều: gia hậu phác, đại phúc bì.
Buồn nôn: gia trúc nhự, sinh khương.
CHÂM CỨU VÀ BẤM HUYỆT
Châm cứu chỉ có vai trò hỗ trợ giảm đầy, buồn nôn và điều hòa chức năng Tỳ Vị sau khi đã đánh giá kết khối và loại trừ biến chứng.
Huyệt thường dùng
Nhâm-12 Trung quản
Tâm bào-6 Nội quan
Vị-36 Túc tam lý
Tỳ-4 Công tôn
Vị-21 Lương môn
Vị-25 Thiên khu
Vị-37 Thượng cự hư
Can-3 Thái xung
Tỳ-9 Âm lăng tuyền
Bàng quang-20 Tỳ du
Bàng quang-21 Vị du
Phối huyệt tham khảo
Thực tích khí trệ: Nhâm-12 Trung quản, Vị-36 Túc tam lý, Tỳ-4 Công tôn, Vị-25 Thiên khu.
Buồn nôn: Tâm bào-6 Nội quan, Nhâm-12 Trung quản, Vị-36 Túc tam lý.
Tỳ khí hư: Vị-36 Túc tam lý, Bàng quang-20 Tỳ du, Bàng quang-21 Vị du.
Thấp trệ: Tỳ-9 Âm lăng tuyền, Nhâm-12 Trung quản, Vị-36 Túc tam lý.
Khí trệ: Can-3 Thái xung, Tâm bào-6 Nội quan, Nhâm-12 Trung quản.
Không day ấn mạnh vùng thượng vị khi có khối, đau dữ dội, nôn nhiều, xuất huyết hoặc nghi thủng.
Không cứu ngải trực tiếp lên vùng bụng có khối chưa được đánh giá. Cứu ngải không thể làm tan hoặc tống kết khối ra ngoài.
ĐIỀU DƯỠNG ĂN UỐNG
Trong thời gian đang có kết khối, chế độ ăn phải căn cứ mức độ tắc nghẽn và hướng dẫn của bác sĩ. Người nôn nhiều hoặc chuẩn bị nội soi có thể phải tạm ngừng ăn uống theo chỉ định.
Sau khi kết khối đã được xử lý:
Ăn chậm và nhai kỹ.
Không ăn quá nhiều quả hồng trong một lần.
Không ăn hồng xanh hoặc hồng chưa chín kỹ.
Tránh ăn nhiều quả hồng khi bụng đói.
Người dạ dày làm rỗng chậm cần hạn chế lượng lớn thực phẩm xơ dai.
Không nuốt hạt, vỏ hoặc phần cứng khó tiêu.
Uống đủ nước nếu không có chống chỉ định.
Điều trị táo bón.
Kiểm soát đường huyết ở người đái tháo đường.
Đánh giá lại thuốc có thể làm giảm nhu động.
DƯỢC THIỆN THAM KHẢO SAU ĐIỀU TRỊ
Tỳ Vị khí hư
Cháo hoài sơn dược, liên tử. Dùng khi đã hết tắc nghẽn, không còn nôn và bắt đầu ăn trở lại.
Tỳ Vị hư hàn
Cháo hoài sơn dược phối một lượng nhỏ sinh khương. Không dùng khi nóng rát, khát, táo bón hoặc có xuất huyết.
Khí trệ, ăn kém
Có thể dùng món ăn mềm phối lượng nhỏ phật thủ hoặc trần bì để điều hòa khí cơ.
Không dùng sơn tra, kê nội kim hoặc các vị tiêu thực liều cao với mục đích tự làm tan kết khối lớn.
PHÒNG NGỪA
Không ăn quá nhiều hồng cùng một lúc.
Không ăn hồng chưa chín.
Không ăn hồng khi bụng quá đói.
Nhai kỹ thực phẩm nhiều xơ.
Người từng phẫu thuật dạ dày cần hỏi bác sĩ về chế độ ăn phù hợp.
Điều trị liệt dạ dày và kiểm soát đái tháo đường.
Không nuốt tóc hoặc vật lạ.
Trẻ có thói quen nhổ và ăn tóc cần được hỗ trợ tâm lý.
Tái khám khi đau, đầy hoặc nôn tái diễn sau khi đã lấy kết khối.
NHỮNG ĐIỀU NÊN LÀM
Cung cấp đầy đủ tiền sử ăn quả hồng, sơn tra, táo hoặc nuốt tóc cho bác sĩ.
Nội soi khi có chỉ định.
Điều trị loét và xuất huyết kèm theo.
Kiểm tra lại sau khi tán hoặc lấy kết khối.
Điều trị bệnh làm chậm vận động dạ dày.
Theo dõi đau bụng, nôn, đại tiện và trung tiện.
Đi cấp cứu khi có dấu hiệu tắc nghẽn hoặc thủng.
NHỮNG ĐIỀU KHÔNG NÊN LÀM
Không tự rửa dạ dày.
Không tự uống dung dịch natri bicarbonat đậm đặc.
Không cố ăn thêm chất xơ để “đẩy” khối xuống ruột.
Không tự dùng Đại hoàng, Mang tiêu hoặc Huyền minh phấn.
Không tự dùng Tam lăng, Nga truật, Đào nhân hoặc Hồng hoa.
Không xoa bóp mạnh vùng có khối.
Không trì hoãn nội soi khi nôn kéo dài hoặc ăn nhanh no.
Không cho rằng hết đau đồng nghĩa với khối đã biến mất.
Nói tóm lại
Kết khối dạ dày là tình trạng các vật chất khó tiêu như xơ thực vật, quả hồng, tóc hoặc thuốc kết dính thành khối trong dạ dày. Sỏi hồng dạ dày là một dạng kết khối thực vật, thường liên quan đến việc ăn nhiều hồng, nhất là hồng chưa chín, khi bụng đói.
Bệnh có thể gây đầy đau thượng vị, nhanh no, buồn nôn, nôn, viêm, loét, xuất huyết, tắc nghẽn và thủng. Nội soi là phương pháp quan trọng để xác định hình dạng, kích thước, tổn thương kèm theo và tiến hành tán hoặc lấy kết khối.
Theo Trung y, bệnh thuộc phạm vi Thực tích, Tích tụ, Bĩ mãn và Vị quản thống. Bệnh cơ chủ yếu là thức ăn đình trệ, Vị mất hòa giáng, khí cơ bế tắc; bệnh lâu ngày có thể kèm đàm thấp, hàn ngưng và huyết ứ. Các thể thường gặp gồm quả thực tích trệ, thực tích khí trệ, thấp nhiệt tích trệ, khí trệ huyết ứ, hàn ngưng ứ kết và Tỳ Vị hư nhược kèm thực tích.
Trung y có thể hỗ trợ điều hòa Tỳ Vị và cải thiện triệu chứng sau khi đã đánh giá đầy đủ, nhưng không thay thế nội soi hoặc phẫu thuật. Kết quả điều trị phải được xác nhận bằng thăm khám và hình ảnh, không chỉ căn cứ vào cảm giác đau giảm.
Trường Xuân biên soạn