Lời dẫn
Bệnh nha chu là nhóm bệnh xảy ra ở các mô nâng đỡ và giữ vững răng, gồm lợi, dây chằng quanh răng, xương ổ răng và xê măng chân răng. Có thể hiểu đây là bệnh của “nền móng giữ răng”. Khi các tổ chức này bị viêm và phá hủy kéo dài, lợi có thể sưng đỏ, chảy máu, tụt xuống, hình thành túi nha chu, xương ổ răng tiêu dần, răng lung lay và cuối cùng có thể mất răng.
Trong nha khoa hiện đại, mảng bám vi khuẩn là yếu tố khởi phát quan trọng nhất. Nếu mảng bám không được loại bỏ, chúng có thể vôi hóa thành cao răng, tạo điều kiện cho vi khuẩn tiếp tục phát triển ở viền lợi và sâu dưới lợi. Phản ứng viêm kéo dài không chỉ làm tổn thương lợi mà còn phá hủy dây chằng quanh răng và xương ổ răng.
Trong Trung y, bệnh nha chu có thể thuộc phạm vi các chứng Nha tuyên (牙宣), Nha ngân thũng thống (牙龈肿痛), Nha nục (牙衄), Nha xỉ động dao (牙齿动摇), Khẩu xú (口臭) và Nha thống (牙痛). Bệnh thường liên quan đến Vị hỏa, Tỳ Vị thấp nhiệt, Thận hư, khí huyết suy yếu hoặc huyết ứ trở lạc.
BỆNH NHA CHU LÀ GÌ?
Tổ chức nha chu gồm bốn thành phần chính:
Lợi bao quanh cổ răng, tạo hàng rào bảo vệ mô sâu.
Dây chằng quanh răng nối chân răng với xương ổ răng và giúp phân tán lực nhai.
Xương ổ răng là phần xương hàm bao quanh và nâng đỡ chân răng.
Xê măng chân răng là lớp mô cứng phủ ngoài chân răng, nơi các sợi dây chằng quanh răng bám vào.
Bệnh nha chu theo nghĩa rộng gồm viêm lợi và viêm nha chu. Viêm lợi chỉ khu trú ở mô lợi, chưa phá hủy rõ hệ thống nâng đỡ răng. Viêm nha chu là giai đoạn sâu hơn, khi viêm lan xuống dây chằng và xương ổ răng, hình thành túi nha chu, tiêu xương và làm răng lung lay.
VIÊM LỢI VÀ VIÊM NHA CHU
Viêm lợi
Lợi đỏ, sưng, mềm và dễ chảy máu khi chải răng hoặc dùng chỉ nha khoa. Có thể kèm hơi thở hôi, nhưng xương ổ răng chưa bị phá hủy rõ. Nếu được làm sạch mảng bám, lấy cao răng và chăm sóc đúng, viêm lợi thường có khả năng hồi phục tốt.
Viêm nha chu
Viêm lan xuống sâu, làm biểu mô bám dính dịch chuyển về phía chóp chân răng, tạo túi nha chu. Vi khuẩn và cao răng tiếp tục tích tụ trong túi, làm dây chằng quanh răng bị phá hủy và xương ổ răng tiêu dần.
Khi bệnh tiến triển, người bệnh có thể thấy lợi tụt, chân răng lộ, ê buốt, chảy máu, chảy mủ, hôi miệng, răng dịch chuyển, thưa dần hoặc lung lay.
NGUYÊN NHÂN VÀ YẾU TỐ NGUY CƠ
Mảng bám vi khuẩn
Mảng bám là một màng sinh học bám trên bề mặt răng và viền lợi. Đây là yếu tố trực tiếp quan trọng nhất khởi phát viêm lợi và viêm nha chu.
Cao răng
Mảng bám lâu ngày hấp thu khoáng chất trong nước bọt và cứng lại thành cao răng. Bề mặt cao răng thô ráp làm vi khuẩn dễ bám thêm. Cao răng dưới lợi không thể được loại bỏ hoàn toàn bằng bàn chải thông thường.
Vệ sinh răng miệng chưa đúng
Chải răng không kỹ, không làm sạch kẽ răng hoặc bỏ qua vùng sát viền lợi khiến mảng bám tích tụ lâu ngày.
Hút thuốc
Hút thuốc làm giảm tuần hoàn và khả năng hồi phục của mô lợi, đồng thời có thể che lấp dấu hiệu chảy máu. Người hút thuốc thường có nguy cơ viêm nha chu nặng hơn và đáp ứng điều trị kém hơn.
Đái tháo đường
Đường huyết kiểm soát không tốt làm sức đề kháng giảm, vết thương chậm lành và bệnh nha chu dễ tiến triển. Ngược lại, viêm nha chu kéo dài cũng có thể làm việc kiểm soát đường huyết khó khăn hơn.
Răng mọc lệch và phục hình không phù hợp
Răng chen chúc, miếng trám thừa, mão răng không khít, cầu răng hoặc hàm giả không phù hợp tạo những vị trí khó vệ sinh, khiến mảng bám dễ tích tụ.
Khô miệng
Nước bọt có tác dụng làm sạch và bảo vệ khoang miệng. Khô miệng do thuốc, tuổi cao, bệnh lý tuyến nước bọt hoặc xạ trị làm vi khuẩn dễ phát triển.
Yếu tố toàn thân
Suy giảm miễn dịch, dinh dưỡng kém, stress kéo dài, rối loạn nội tiết, bệnh mạn tính và cơ địa di truyền có thể làm bệnh nha chu tiến triển nhanh hơn.
DẤU HIỆU THƯỜNG GẶP
Lợi đỏ, sưng hoặc mềm.
Chảy máu khi chải răng, dùng chỉ nha khoa hoặc ăn đồ cứng.
Hơi thở hôi kéo dài.
Miệng có vị khó chịu.
Lợi tụt, chân răng lộ.
Răng ê buốt khi uống lạnh hoặc chải răng.
Có mủ ở viền lợi.
Đau âm ỉ hoặc đau khi nhai.
Răng lung lay.
Răng thưa dần hoặc thay đổi vị trí.
Khớp cắn thay đổi.
Hàm giả tháo lắp không còn vừa như trước.
TÚI NHA CHU HÌNH THÀNH NHƯ THẾ NÀO?
Bình thường giữa răng và lợi có một rãnh nông. Khi viêm lợi kéo dài, mô bám dính quanh răng bị phá hủy, lợi dần tách khỏi bề mặt chân răng và rãnh lợi trở nên sâu bất thường, gọi là túi nha chu.
Có hai dạng thường gặp:
Túi giả hình thành khi lợi sưng hoặc tăng sản, làm rãnh lợi sâu hơn nhưng vị trí bám dính chưa bị phá hủy rõ.
Túi thật hình thành khi biểu mô bám dính dịch chuyển xuống phía chóp chân răng, kèm mất dây chằng và tiêu xương.
Túi càng sâu càng khó làm sạch, vi khuẩn càng dễ tích tụ. Viêm vì vậy tiếp tục tiến triển và tạo thành một vòng xoắn bệnh lý.
TỤT LỢI VÀ TEO NHA CHU
Tụt lợi là tình trạng bờ lợi di chuyển xuống phía chân răng, làm bề mặt chân răng lộ ra. Nguyên nhân có thể do viêm nha chu, chải răng quá mạnh, sang chấn khớp cắn, phục hình đè ép, vị trí răng lệch hoặc mô lợi vốn mỏng.
Khi chân răng lộ, người bệnh dễ ê buốt, sâu chân răng và mất thẩm mỹ. Lợi đã tụt thường khó tự trở lại chiều cao ban đầu. Điều trị chủ yếu nhằm loại bỏ nguyên nhân, ngăn tụt tiến triển và cân nhắc ghép lợi khi có chỉ định.
ÁP XE NHA CHU VÀ ÁP XE QUANH CHÓP
Áp xe nha chu
Ổ mủ hình thành trong thành túi nha chu hoặc mô quanh răng. Răng thường có túi sâu, cao răng dưới lợi, lung lay và tủy răng vẫn có thể còn sống. Vùng sưng thường gần bờ lợi, đau vừa hoặc đau tăng khi cắn.
Áp xe quanh chóp
Nguồn nhiễm trùng thường xuất phát từ tủy răng hoại tử, sâu răng sâu hoặc răng đã tổn thương tủy. Đau thường rõ, răng có cảm giác trồi cao, gõ dọc rất đau, sưng có thể lan rộng ra vùng má.
Việc phân biệt hai tình trạng này có ý nghĩa quan trọng vì cách điều trị khác nhau. Một bên chủ yếu cần xử lý nha chu; bên kia thường cần điều trị tủy hoặc nhổ răng tùy tình trạng.
TỔN THƯƠNG NHA CHU – TỦY PHỐI HỢP
Tủy răng và mô nha chu có thể liên thông qua lỗ chóp, ống tủy phụ và các ống ngà nhỏ. Vì vậy, nhiễm trùng có thể lan từ tủy sang nha chu hoặc từ nha chu vào tủy.
Từ tủy lan ra nha chu
Răng chết tủy có thể gây viêm quanh chóp, sau đó mủ lan dọc dây chằng quanh răng và tạo đường dò hoặc túi sâu khu trú. Nếu điều trị tủy kịp thời, tổn thương nha chu có thể cải thiện.
Từ nha chu lan vào tủy
Khi túi nha chu sâu đến gần chóp hoặc các ống tủy phụ, vi khuẩn có thể xâm nhập vào tủy, gây viêm hoặc hoại tử tủy ngược dòng.
Trường hợp phối hợp
Một răng có thể đồng thời bị tổn thương cả tủy và nha chu. Điều trị cần xác định nguyên nhân chính, đánh giá khả năng giữ răng và phối hợp điều trị tủy với điều trị nha chu.
CHẨN ĐOÁN
Khám lợi và đo túi nha chu
Nha sĩ dùng cây thăm dò nha chu để đo độ sâu túi, đánh giá chảy máu, mủ, tụt lợi và mức bám dính quanh răng.
Đánh giá răng lung lay
Răng được kiểm tra theo nhiều hướng để xác định mức lung lay và mức độ mất mô nâng đỡ.
Chụp X-quang
Phim X-quang giúp đánh giá mức tiêu xương, hình dạng chân răng, tổn thương quanh chóp, vùng chẽ chân răng và những yếu tố liên quan.
Đánh giá khớp cắn
Điểm chạm sớm, lực cắn quá mức, nghiến răng hoặc phục hình quá cao có thể làm mô nha chu bị quá tải.
Đánh giá bệnh toàn thân
Người bệnh cần thông báo về đái tháo đường, bệnh tim, thuốc chống đông, thuốc ức chế miễn dịch, hút thuốc, thai kỳ và các thuốc đang sử dụng.
ĐIỀU TRỊ THEO NHA KHOA HIỆN ĐẠI
Giai đoạn điều trị cơ bản
Mục tiêu là kiểm soát viêm và loại bỏ các yếu tố gây bệnh.
Hướng dẫn chải răng đúng cách.
Làm sạch kẽ răng hằng ngày.
Lấy cao răng trên lợi và dưới lợi.
Cạo và làm nhẵn mặt gốc răng khi có túi nha chu.
Điều trị sâu răng và tổn thương tủy.
Sửa hoặc thay phục hình không phù hợp.
Xử lý tình trạng thức ăn mắc kẽ.
Điều chỉnh chấn thương khớp cắn khi có chỉ định.
Kiểm soát hút thuốc và bệnh toàn thân.
Kháng sinh không phải là điều trị căn bản của bệnh nha chu. Thuốc chỉ được dùng trong một số trường hợp có nhiễm trùng cấp, áp xe, viêm lan rộng hoặc theo chỉ định chuyên môn.
Phẫu thuật nha chu
Nếu sau điều trị cơ bản vẫn còn túi sâu, tiêu xương hoặc khiếm khuyết mô, có thể cần phẫu thuật để làm sạch vùng sâu, tạo hình xương, tái tạo mô, ghép xương hoặc ghép lợi.
Cố định răng lung lay
Một số răng lung lay nhưng vẫn còn khả năng giữ có thể được nẹp với các răng kế cận nhằm phân bố lực và hỗ trợ chức năng nhai.
Nhổ răng
Răng tiêu xương quá nhiều, lung lay nặng, áp xe tái phát hoặc không còn khả năng phục hồi có thể cần nhổ để loại bỏ ổ nhiễm trùng.
Duy trì sau điều trị
Người bệnh thường cần tái khám định kỳ từ ba đến sáu tháng tùy mức độ bệnh. Giai đoạn duy trì có vai trò quyết định vì bệnh nha chu dễ tái phát nếu mảng bám tích tụ trở lại.
TRUNG Y NHẬN THỨC BỆNH NHA CHU
Trung y cho rằng lợi thuộc Vị, răng thuộc Thận, khí có tác dụng nhiếp huyết, huyết nuôi dưỡng lợi và Thận chủ cốt. Vì vậy, lợi sưng đỏ, đau, chảy máu thường liên quan đến Vị hỏa, thấp nhiệt hoặc huyết nhiệt; còn răng lung lay, tụt lợi, chân răng lộ và tiêu xương lâu ngày thường liên quan đến Thận hư, khí huyết hư hoặc huyết ứ.
Bệnh có thể biểu hiện thực chứng ở giai đoạn đầu và chuyển dần sang hư thực xen kẽ khi kéo dài.
BIỆN CHỨNG LUẬN TRỊ
Chứng trạng
Lợi đỏ, sưng và đau, chảy máu khi chải răng, miệng hôi, khát nước, thích uống mát, có thể đau răng hoặc sưng mủ, đại tiện táo, tiểu tiện vàng. Lưỡi đỏ, rêu vàng, mạch sác.
Phân tích
Vị kinh đi qua vùng lợi. Vị hỏa bốc lên làm lợi sưng đỏ, đau và chảy máu. Miệng hôi, khát nước và táo bón là những biểu hiện thường gặp của nhiệt thịnh.
Phép trị
Thanh Vị tả hỏa, lương huyết tiêu thũng.
Phương thang
Thanh vị tán gia giảm.
Thành phần tham khảo: Sinh địa hoàng, đương quy, mẫu đơn bì, hoàng liên, thăng ma, sinh thạch cao, tri mẫu, cam thảo.
Gia giảm
Lợi sưng đau nhiều: gia kim ngân hoa, liên kiều, bồ công anh.
Chảy máu nhiều: gia trắc bá diệp, bạch mao căn, tiểu kế.
Đại tiện táo: gia đại hoàng lượng nhỏ.
Chứng trạng
Lợi sưng đỏ, đau âm ỉ, túi lợi có mủ, miệng hôi, miệng nhớt, nước bọt dính, bụng đầy, ăn kém, đại tiện dính hoặc không điều hòa. Lưỡi có rêu vàng nhớt, mạch hoạt sác.
Phân tích
Tỳ vận hóa suy yếu, thấp tụ lại, lâu ngày hóa nhiệt. Thấp nhiệt uẩn ở lợi làm mô sưng, tiết dịch, chảy mủ và có mùi hôi.
Phép trị
Thanh nhiệt hóa thấp, giải độc tiêu thũng.
Phương thang
Cam lộ tiêu độc đan gia giảm.
Thành phần tham khảo: Hoạt thạch, nhân trần, hoàng cầm, thạch xương bồ, bạch đậu khấu, mộc thông, xạ can, liên kiều, bạc hà, xuyên bối mẫu, hoắc hương, cam thảo.
Gia giảm
Mủ lợi rõ: gia kim ngân hoa, bồ công anh, tử hoa địa đinh.
Miệng hôi, rêu dày: gia bội lan, trần bì.
Ăn kém, bụng đầy: gia sa nhân, kê nội kim.
Chứng trạng
Lợi đỏ nhẹ, tụt lợi, răng ê buốt hoặc lung lay nhẹ, chảy máu ít nhưng kéo dài, miệng họng khô, lưng gối mỏi, ù tai, ngủ kém, nóng lòng bàn tay bàn chân. Lưỡi đỏ ít rêu, mạch tế sác.
Phân tích
Thận âm suy thì xương răng mất sự nuôi dưỡng, hư hỏa bốc lên làm lợi đỏ, chảy máu và ê buốt.
Phép trị
Tư âm bổ Thận, giáng hỏa, cố xỉ.
Phương thang
Tri bá địa hoàng hoàn gia giảm.
Thành phần tham khảo: Thục địa hoàng, sơn thù nhục, hoài sơn dược, phục linh, trạch tả, mẫu đơn bì, tri mẫu, hoàng bá, cốt toái bổ, nữ trinh tử, hạn liên thảo.
Gia giảm
Chảy máu lợi: gia trắc bá diệp, bạch mao căn.
Răng ê buốt, lưng gối mỏi: gia tục đoạn, đỗ trọng.
Miệng khô nhiều: gia mạch môn đông, huyền sâm, thạch hộc.
Chứng trạng
Răng lung lay, lợi tụt, chân răng lộ, nhai yếu, đau âm ỉ, lưng gối mỏi, ù tai, tiểu đêm nhiều, mệt mỏi. Lưỡi nhạt hoặc đỏ nhạt, mạch trầm tế.
Phân tích
Thận chủ cốt, răng là phần dư của xương. Thận khí bất túc thì xương ổ không vững, răng dễ lung lay và chức năng nhai suy giảm.
Phép trị
Bổ Thận cố xỉ, cường gân kiện cốt.
Phương thang
Lục vị địa hoàng hoàn gia cốt toái bổ, tục đoạn, đỗ trọng, ngưu tất, hoàng kỳ.
Gia giảm
Sợ lạnh, lưng gối lạnh: cân nhắc gia nhục quế lượng nhỏ theo biện chứng.
Lợi dễ chảy máu: gia hạn liên thảo, tiên hạc thảo.
Ăn kém, phân lỏng: gia bạch truật, sa nhân.
Chú ý
Nếu đã có tiêu xương và răng lung lay rõ, thuốc Trung y chỉ có vai trò hỗ trợ thể trạng, không thể thay thế điều trị nha chu.
Chứng trạng
Lợi nhợt, dễ chảy máu khi chải răng, vết thương lợi lâu lành, răng ê nhẹ, người mệt mỏi, sắc mặt nhợt, chóng mặt, hồi hộp, ăn kém. Lưỡi nhạt, mạch tế nhược.
Phân tích
Khí hư không nhiếp huyết nên lợi dễ chảy máu. Huyết hư khiến mô lợi mất sự nuôi dưỡng và hồi phục chậm.
Phép trị
Ích khí dưỡng huyết, kiện Tỳ nhiếp huyết, sinh cơ.
Phương thang
Quy tỳ thang gia giảm.
Thành phần tham khảo: Đảng sâm, hoàng kỳ, bạch truật, phục linh, đương quy, long nhãn nhục, toan táo nhân, viễn chí, mộc hương, chích cam thảo, đại táo, sinh khương.
Gia giảm
Chảy máu nhiều: gia trắc bá diệp, hạn liên thảo, bạch cập.
Ăn kém: gia sa nhân, kê nội kim.
Mệt nhiều: gia thái tử sâm, hoài sơn dược.
Chứng trạng
Lợi đỏ tím hoặc tím sẫm, đau cố định, chảy máu màu sẫm, răng lung lay, bệnh kéo dài khó lành. Lưỡi tím hoặc có điểm ứ, mạch sáp.
Phân tích
Viêm lâu ngày làm khí huyết vùng lợi vận hành không thông, huyết ứ lưu lại, khiến mô khó hồi phục.
Phép trị
Hoạt huyết hóa ứ, thông lạc sinh cơ.
Phương thang
Đào hồng tứ vật thang hợp Đan sâm ẩm gia giảm.
Thành phần tham khảo: Đương quy, sinh địa hoàng, bạch thược, xuyên khung, đào nhân, hồng hoa, đan sâm, uất kim, ngưu tất, cam thảo.
Chú ý
Người đang dùng thuốc chống đông, thuốc chống kết tập tiểu cầu, dễ chảy máu hoặc chuẩn bị nhổ răng không nên tự dùng thuốc hoạt huyết.
Chứng trạng
Lợi sưng đau, miệng đắng, hôi miệng, đau tăng khi căng thẳng hoặc tức giận, ngực sườn đầy tức, hay thở dài, ngủ không yên, đại tiện không thông. Lưỡi đỏ, rêu vàng mỏng, mạch huyền sác.
Phân tích
Can khí uất lâu ngày hóa hỏa, phạm Vị, khiến nhiệt theo kinh bốc lên vùng lợi răng. Căng thẳng còn có thể làm nghiến răng hoặc siết hàm, khiến mô nha chu chịu thêm lực.
Phép trị
Sơ Can thanh Vị, giải uất tiêu thũng.
Phương thang
Đan chi tiêu dao tán hợp Thanh vị tán gia giảm.
Thành phần tham khảo: Sài hồ, đương quy, bạch thược, bạch truật, phục linh, mẫu đơn bì, chi tử, bạc hà, sinh địa hoàng, hoàng liên, sinh thạch cao, cam thảo.
ĐIỀU TRỊ NGOÀI VÀ CHĂM SÓC HỖ TRỢ
Súc miệng
Có thể dùng nước muối sinh lý súc miệng sau ăn. Không nên pha nước muối quá mặn vì có thể kích thích niêm mạc và làm miệng khô hơn.
Kim ngân hoa và cam thảo
Có thể sắc loãng, để nguội, dùng súc miệng trong trường hợp lợi sưng đỏ nhẹ. Đây chỉ là phương pháp hỗ trợ, không thay thế lấy cao răng hoặc làm sạch túi nha chu.
Hoắc hương và bội lan
Có thể dùng súc miệng trong trường hợp miệng nhớt, hôi miệng, rêu lưỡi dày nhầy, nhưng không nên dùng khi niêm mạc miệng khô rát.
Xoa lợi
Sau khi làm sạch răng, có thể dùng ngón tay sạch xoa nhẹ vùng lợi nếu không sưng mủ hoặc chảy máu nhiều. Không xoa mạnh lên vùng đang viêm cấp.
Không nên dùng
Không dùng muối hạt, chanh, tỏi, rượu thuốc, dầu gió hoặc tinh dầu đậm đặc chà trực tiếp lên lợi. Các chất này có thể gây bỏng niêm mạc, tụt lợi và làm tổn thương nặng hơn.
ĂN UỐNG VÀ ĐIỀU DƯỠNG
Nguyên tắc chung
Hạn chế đường ngọt, bánh kẹo dính răng, đồ uống nhiều đường, thức ăn quá cay nóng, rượu bia và thuốc lá.
Ăn đủ chất đạm, rau xanh, trái cây phù hợp và các thực phẩm giàu vitamin, khoáng chất.
Uống đủ nước.
Người đái tháo đường cần kiểm soát đường huyết.
Người khó nhai nên dùng thức ăn mềm nhưng vẫn cần đủ dinh dưỡng.
Một số món ăn tham khảo
Thể Vị hỏa: canh đậu xanh bí đao, dùng nhạt và lượng vừa.
Thể âm hư: cháo bách hợp, mạch môn đông.
Thể Tỳ hư thấp: cháo hoài sơn, ý dĩ nhân.
Thể khí huyết hư: cháo liên tử, hoài sơn, đại táo lượng vừa.
Thể Thận hư: đậu đen và mè đen dùng với lượng phù hợp.
Các món ăn này chỉ có tác dụng hỗ trợ điều dưỡng, không thay thế điều trị.
PHÒNG NGỪA VÀ DUY TRÌ
Chải răng hai lần mỗi ngày bằng bàn chải mềm.
Chải nhẹ vùng sát viền lợi, không chải ngang mạnh.
Làm sạch kẽ răng hằng ngày bằng chỉ nha khoa hoặc bàn chải kẽ.
Vệ sinh lưỡi nhẹ nhàng.
Không hút thuốc.
Khám răng định kỳ.
Lấy cao răng theo hướng dẫn của nha sĩ.
Kiểm soát đường huyết nếu có đái tháo đường.
Điều trị răng sâu, răng lệch hoặc phục hình không phù hợp.
Tái khám nha chu định kỳ sau điều trị.
Không bỏ chải răng chỉ vì lợi chảy máu; cần chải nhẹ đúng cách và đi khám tìm nguyên nhân.
KHI NÀO CẦN ĐI KHÁM SỚM?
Lợi chảy máu kéo dài.
Hơi thở hôi dai dẳng.
Lợi sưng đau hoặc có mủ.
Răng lung lay hoặc thay đổi vị trí.
Lợi tụt nhanh.
Đau khi nhai.
Mặt sưng, sốt hoặc khó há miệng.
Người bệnh có đái tháo đường, bệnh tim, suy giảm miễn dịch hoặc đang dùng thuốc chống đông.
Nói tóm lại
Bệnh nha chu là bệnh mạn tính của hệ thống nâng đỡ răng, khởi đầu chủ yếu từ mảng bám và cao răng. Viêm lợi nếu được phát hiện sớm thường có thể hồi phục; viêm nha chu khi đã gây tiêu xương và lung lay răng cần điều trị lâu dài và duy trì chặt chẽ.
Theo Trung y, bệnh có thể liên quan đến Vị hỏa, Tỳ Vị thấp nhiệt, Thận hư, khí huyết hư, huyết ứ hoặc Can Vị uất nhiệt. Điều trị cần căn cứ vào chứng trạng để thanh nhiệt, hóa thấp, tư âm, bổ Thận, ích khí dưỡng huyết hoặc hoạt huyết thông lạc.
Tuy nhiên, dù thuộc thể bệnh nào, nền tảng điều trị vẫn là loại bỏ mảng bám và cao răng, làm sạch túi nha chu, kiểm soát bệnh toàn thân và duy trì vệ sinh răng miệng. Trung y có thể hỗ trợ điều hòa thể trạng và giảm một số triệu chứng, nhưng không thay thế việc điều trị nha khoa cần thiết.
Trường Xuân biên soạn