Khái quát
Bệnh não gan là hội chứng rối loạn chức năng thần kinh và tâm thần xuất hiện khi chức năng gan suy giảm nghiêm trọng hoặc khi máu từ hệ tĩnh mạch cửa đi qua đường phân lưu mà không được gan chuyển hóa đầy đủ.
Biểu hiện có thể từ những thay đổi rất nhẹ như giảm tập trung, rối loạn giấc ngủ và thay đổi tính cách, đến lú lẫn, ngủ gà, run vẫy, co giật và hôn mê.
Đây là biến chứng nguy hiểm của xơ gan mất bù, suy gan cấp và các bệnh gan nặng. Bệnh có thể hồi phục nếu yếu tố khởi phát được phát hiện và xử lý sớm, nhưng cũng có thể tiến triển nhanh đến hôn mê sâu và tử vong.
Trong Trung y không có bệnh danh hoàn toàn tương ứng với bệnh não gan. Căn cứ biểu hiện lâm sàng, bệnh có thể được xem xét trong phạm vi các chứng:
Thần hôn 神昏.
Hôn mê 昏迷.
Đàm mê tâm khiếu 痰迷心竅.
Nhiệt nhập Tâm bào 熱入心包.
Can phong nội động 肝風內動.
Quan cách 關格.
Cổ trướng 鼓脹.
Hoàng đản 黃疸.
Bệnh vị chủ yếu liên quan đến Can, Tỳ, Thận và Tâm thần. Bệnh cơ thường lấy chính khí suy hư làm gốc; thấp, đàm, nhiệt, ứ và trọc độc che lấp thanh khiếu làm ngọn.
Bệnh cơ căn bản
Can mất sơ tiết
Can chủ sơ tiết và điều đạt khí cơ. Bệnh gan kéo dài làm Can khí không thông, khí cơ Tam tiêu bị trở ngại, thấp trọc và huyết ứ dễ tích lại.
Can mất điều đạt còn ảnh hưởng đến Tỳ Vị, làm ăn uống giảm, bụng đầy, buồn nôn và đại tiện thất thường.
Tỳ hư sinh đàm thấp
Tỳ chủ vận hóa thủy cốc. Khi Tỳ khí suy, thủy thấp không được chuyển hóa, tích lại thành đàm trọc.
Đàm trọc có thể theo khí nghịch lên trên, che lấp Tâm khiếu, khiến người bệnh đầu óc mơ hồ, phản ứng chậm, ngủ nhiều và ý thức không rõ.
Thận suy, trọc độc không hóa
Bệnh gan lâu ngày thường liên lụy đến Thận. Khi Thận mất khí hóa, thủy dịch và trọc tà không được bài tiết đầy đủ.
Nếu chức năng thận đồng thời suy giảm, trọc độc càng dễ tích lại, phạm Tâm thần và làm bệnh não gan nặng hơn.
Thấp nhiệt và nhiệt độc nội uẩn
Thấp trọc lâu ngày có thể hóa nhiệt. Nhiễm khuẩn, xuất huyết tiêu hóa, táo bón và bệnh gan tiến triển còn làm nhiệt độc và trọc độc tăng lên.
Nhiệt độc có thể xâm nhập doanh huyết và Tâm bào, gây bứt rứt, mê sảng, hành vi bất thường, sốt và hôn mê.
Đàm trọc che lấp Tâm khiếu
Đàm trọc là bệnh cơ nổi bật trong giai đoạn người bệnh ý thức mơ hồ, nói chậm, ngủ gà, nôn hoặc đầy bụng, rêu lưỡi dày nhớt.
Khi đàm kết hợp với nhiệt thì gọi là đàm nhiệt; khi phối hợp với hàn thấp thì gọi là hàn đàm hoặc thấp trọc.
Can phong nội động
Nhiệt độc thịnh, âm dịch hao tổn hoặc Can âm suy đều có thể làm Can phong nội động.
Biểu hiện gồm run tay, run lưỡi, run vẫy, co giật, động tác không chính xác và trương lực cơ thay đổi.
Huyết ứ trở lạc
Bệnh gan lâu ngày thường kèm huyết ứ. Huyết ứ làm Can lạc và não lạc không thông, khiến thần trí càng khó hồi phục.
Người bệnh thường có sắc mặt tối, môi tím, lưỡi tím hoặc có điểm ứ huyết.
Khí âm và âm dương suy thoát
Ở giai đoạn nặng, sốt, xuất huyết, nôn, tiêu chảy và suy gan làm khí âm hao tổn nhanh chóng.
Nếu tiếp tục tiến triển, người bệnh có thể tay chân lạnh, vã mồ hôi, thở yếu, huyết áp giảm, mạch vi muốn tuyệt, thuộc tình trạng âm dương suy thoát.
Các yếu tố thường khởi phát bệnh
Xuất huyết tiêu hóa
Máu tích lại trong đường ruột bị phân giải, làm tăng các chất có hại được hấp thu. Đồng thời, mất máu làm giảm tưới máu gan, thận và não.
Người bệnh nôn ra máu hoặc đại tiện phân đen phải được cấp cứu ngay.
Nhiễm khuẩn
Viêm phúc mạc do vi khuẩn tự phát, viêm phổi, nhiễm khuẩn đường tiểu và nhiễm khuẩn huyết đều có thể khởi phát bệnh não gan.
Người bệnh có thể không sốt rõ do suy giảm miễn dịch, vì vậy mọi thay đổi về ý thức đều cần nghĩ đến nhiễm khuẩn.
Táo bón
Phân lưu lại lâu trong ruột làm tăng quá trình phân giải và hấp thu các chất chứa nitơ.
Táo bón còn làm bụng trướng và tăng áp lực ổ bụng.
Lợi tiểu quá mức
Mất nước, hạ kali, hạ natri, nhiễm kiềm và suy thận đều có thể khởi phát hoặc làm bệnh não gan nặng thêm.
Chọc tháo nhiều dịch cổ trướng
Tháo lượng dịch lớn mà không bù thể tích thích hợp có thể làm giảm thể tích tuần hoàn hữu hiệu, hạ huyết áp và suy thận.
Dùng thuốc an thần
Thuốc ngủ, thuốc an thần, thuốc giảm đau nhóm opioid và một số thuốc hướng thần có thể làm ý thức suy giảm rõ hơn.
Uống rượu
Rượu làm tổn thương gan, ảnh hưởng thần kinh và dễ gây rối loạn chuyển hóa.
Ăn uống không phù hợp
Ăn quá nhiều đạm động vật trong một thời gian ngắn có thể làm triệu chứng nặng lên ở một số người bệnh đang có bệnh não gan cấp.
Tuy nhiên, kiêng protein kéo dài cũng làm mất cơ và suy dinh dưỡng, từ đó làm khả năng chuyển hóa amoniac suy giảm.
Rối loạn điện giải và suy thận
Hạ kali, hạ natri, mất nước, tăng urê máu và hội chứng gan – thận đều là những yếu tố quan trọng.
Các giai đoạn biểu hiện
Giai đoạn nhẹ
Người bệnh thay đổi tính tình, giảm tập trung, phản ứng chậm, chữ viết thay đổi, ngủ ngày và thức đêm.
Có thể nói nhiều bất thường hoặc trở nên ít nói, trầm lặng.
Giai đoạn ý thức mơ hồ
Người bệnh giảm định hướng về thời gian và vị trí, trả lời chậm hoặc sai, không thực hiện được những phép tính đơn giản.
Run vẫy thường bắt đầu xuất hiện.
Giai đoạn ngủ gà
Người bệnh ngủ phần lớn thời gian, gọi có thể tỉnh nhưng nhanh chóng ngủ lại, trả lời không chính xác, có thể kèm ảo giác.
Giai đoạn hôn mê
Người bệnh mất ý thức, không đáp ứng với lời gọi; về sau có thể mất phản ứng với đau, mất phản xạ và rối loạn hô hấp.
Biện chứng luận trị
Can uất Tỳ hư, thấp trọc nội trở
Biểu hiện
Thường gặp ở giai đoạn sớm. Người bệnh phản ứng chậm, tinh thần uể oải, bụng đầy, ăn ít, buồn nôn, cổ trướng, tiểu ít, đại tiện không thông sảng hoặc phân lỏng; lưỡi nhạt hoặc hơi đỏ, rêu trắng nhớt, mạch huyền nhu.
Bệnh cơ
Can mất sơ tiết, Tỳ mất vận hóa, thấp trọc nội sinh và dần che lấp thanh khiếu.
Phép trị
Sơ Can kiện Tỳ, hóa thấp, tỉnh thần.
Phương thang
Sài Hồ Sơ Can Tán hợp Ôn Đởm Thang gia giảm.
Sài hồ, Bạch thược, Chỉ xác, Hương phụ, Trần bì, Bán hạ chế, Phục linh, Trúc nhự, Thạch xương bồ.
Bụng đầy có thể gia Hậu phác, Sa nhân.
Táo bón có thể điều chỉnh đại tiện bằng phương pháp hòa hoãn theo hướng dẫn điều trị, không tự dùng thuốc xổ mạnh.
Đàm nhiệt che lấp Tâm khiếu
Biểu hiện
Bứt rứt, nói nhiều hoặc hành vi bất thường, ý thức mơ hồ, miệng đắng, buồn nôn, bụng đầy, đại tiện táo hoặc dính, tiểu vàng; lưỡi đỏ, rêu vàng nhớt, mạch hoạt sác.
Bệnh cơ
Đàm trọc kết với nhiệt, nhiễu loạn và che lấp Tâm khiếu.
Phép trị
Thanh nhiệt hóa đàm, khai khiếu tỉnh thần.
Phương thang
Hoàng Liên Ôn Đởm Thang gia giảm.
Hoàng liên, Trần bì, Bán hạ chế, Phục linh, Trúc nhự, Chỉ thực, Uất kim, Thạch xương bồ.
Chú ý
Không dùng Bán hạ sống. Người bệnh có ý thức thay đổi phải được đánh giá nguyên nhân tại bệnh viện, không chờ thuốc sắc.
Thấp nhiệt độc thịnh, Tâm bào bị nhiễu
Biểu hiện
Sốt hoặc người nóng, vàng da tăng, bụng trướng, tiểu ít vàng sẫm, miệng khô hoặc đắng, mê sảng, kích động hoặc ngủ gà; lưỡi đỏ sẫm, rêu vàng nhớt, mạch sác.
Bệnh cơ
Thấp nhiệt và trọc độc uất ở Can Đởm, xâm nhập Tâm bào.
Phép trị
Thanh nhiệt giải độc, hóa thấp, thanh Tâm tỉnh thần.
Phương thang
Cam Lộ Tiêu Độc Đan hợp Thanh Doanh Thang gia giảm.
Hoàng cầm, Nhân trần, Hoắc hương, Liên kiều, Hoạt thạch, Sinh địa, Huyền sâm, Đan sâm, Trúc diệp.
Chú ý
Sốt và rối loạn ý thức ở người xơ gan thường gợi ý nhiễm khuẩn. Kháng sinh và hồi sức giữ vai trò chính.
Nhiệt nhập doanh huyết, Can phong nội động
Biểu hiện
Hôn mê hoặc mê sảng, run vẫy rõ, co giật, chảy máu mũi hoặc xuất huyết dưới da, lưỡi đỏ sẫm, ít rêu, mạch huyền sác.
Bệnh cơ
Nhiệt độc vào doanh huyết, Tâm bào bị bế, Can phong nội động.
Phép trị
Thanh doanh lương huyết, tức phong, khai khiếu là nguyên tắc lý luận.
Phương thang tham khảo
Thanh Doanh Thang hoặc Tê Giác Địa Hoàng Thang hợp Linh Dương Câu Đằng Thang gia giảm.
Thủy ngưu giác, Sinh địa, Huyền sâm, Xích thược, Đan bì, Câu đằng, Cúc hoa, Trúc nhự.
Chú ý
Co giật, hôn mê hoặc xuất huyết là cấp cứu. Không tự dùng An Cung Ngưu Hoàng Hoàn, Tử Tuyết Đan hoặc Chí Bảo Đan.
Hàn thấp che lấp thanh khiếu
Biểu hiện
Tinh thần trì trệ, ngủ nhiều, phản ứng chậm, người lạnh, tay chân lạnh, buồn nôn, nôn nước trong, bụng đầy, phân lỏng; lưỡi nhạt, rêu trắng dày nhớt, mạch trầm nhu.
Bệnh cơ
Tỳ dương suy, hàn thấp và đàm trọc tích lại, che lấp thanh khiếu.
Phép trị
Ôn hóa hàn thấp, kiện Tỳ, tỉnh thần.
Phương thang
Lý Trung Thang hợp Ôn Đởm Thang gia giảm.
Đảng sâm, Bạch truật, Can khương, Cam thảo, Trần bì, Bán hạ chế, Phục linh, Thạch xương bồ.
Không tự dùng Phụ tử khi người bệnh có suy gan, suy thận, rối loạn điện giải hoặc rối loạn nhịp tim.
Âm hư phong động
Biểu hiện
Bệnh kéo dài, người gầy, miệng khô, lòng bàn tay nóng, run tay, co giật nhẹ, mất ngủ hoặc ý thức không ổn định; lưỡi đỏ khô, ít rêu, mạch huyền tế sác.
Bệnh cơ
Can Thận âm hao, âm không chế dương, Can phong nội động.
Phép trị
Tư âm dưỡng huyết, bình Can tức phong.
Phương thang
Đại Định Phong Châu hoặc Nhất Quán Tiễn gia giảm.
Sinh địa, Bạch thược, Mạch môn, A giao, Quy bản, Câu đằng, Cúc hoa.
Thuốc dưỡng âm nê trệ không thích hợp khi bụng đầy và đàm thấp còn rõ.
Khí âm lưỡng hư
Biểu hiện
Sau khi ý thức cải thiện, người bệnh còn mệt mỏi, hơi thở ngắn, tự ra mồ hôi, miệng khô, ăn ít, lưỡi nhạt đỏ, mạch tế nhược.
Bệnh cơ
Bệnh nặng và điều trị kéo dài làm khí âm cùng tổn thương.
Phép trị
Ích khí dưỡng âm, kiện Tỳ.
Phương thang
Sinh Mạch Tán hợp Sâm Linh Bạch Truật Tán gia giảm.
Đảng sâm hoặc Thái tử sâm, Mạch môn, Ngũ vị tử, Bạch truật, Phục linh, Sơn dược.
Thể này chỉ điều trị khi người bệnh đã qua giai đoạn cấp và ý thức tương đối ổn định.
Nguyên tắc điều trị phối hợp
Loại bỏ yếu tố khởi phát
Cần tìm và xử lý sớm:
Xuất huyết tiêu hóa.
Nhiễm khuẩn.
Táo bón.
Mất nước.
Rối loạn điện giải.
Suy thận.
Dùng thuốc an thần hoặc thuốc độc với gan.
Ăn uống không phù hợp.
Điều chỉnh đại tiện
Mục đích là giúp phân được đào thải đều và giảm các chất có hại sinh ra trong ruột.
Lactulose thường được sử dụng để tạo phân mềm, đi ngoài đều. Liều cần được điều chỉnh để tránh tiêu chảy quá mức, mất nước và rối loạn điện giải.
Không tự phối hợp lactulose với Đại hoàng, Mang tiêu hoặc thuốc tẩy xổ mạnh.
Điều chỉnh protein
Trong đợt bệnh não gan cấp, lượng protein có thể cần giảm tạm thời căn cứ mức độ bệnh.
Sau khi ý thức cải thiện, cần tăng dần lượng protein để phòng suy dinh dưỡng và mất cơ.
Protein thực vật và protein từ sữa thường được dung nạp tốt hơn ở một số người bệnh.
Không nên quy định một giới hạn protein cố định cho mọi trường hợp.
Không tự dùng thuốc khai khiếu
An Cung Ngưu Hoàng Hoàn, Tử Tuyết Đan và Chí Bảo Đan là các phương cổ có chỉ định rất hẹp.
Người bệnh não gan thường có nguy cơ sặc, xuất huyết, suy thận và tương tác thuốc; vì vậy không được tự cho uống khi ý thức suy giảm.
Thận trọng với thuốc hoạt huyết
Người xơ gan thường giảm tiểu cầu và rối loạn đông máu. Đan sâm, Đào nhân, Hồng hoa, Tam lăng và Nga truật có thể làm tăng nguy cơ xuất huyết.
Thận trọng với thuốc lợi thủy
Lợi tiểu quá mức có thể làm bệnh não gan nặng hơn do mất nước, hạ kali, hạ natri và suy thận.
Điều dưỡng
Theo dõi dấu hiệu sớm
Người nhà nên chú ý:
Thay đổi giấc ngủ.
Phản ứng chậm hơn bình thường.
Chữ viết run hoặc nhỏ dần.
Thay đổi tính tình.
Không thực hiện được phép tính đơn giản.
Nói không rõ.
Run vẫy bàn tay.
Ăn mặc hoặc hành vi bất thường.
Nhận biết sớm có thể giúp điều trị trước khi người bệnh chuyển sang ngủ gà hoặc hôn mê.
Bảo đảm an toàn
Không để người bệnh tự lái xe, leo cao, dùng bếp lửa hoặc vận hành máy móc khi có biểu hiện nhận thức bất thường.
Khi người bệnh ngủ gà, cần đặt nằm nghiêng để giảm nguy cơ sặc.
Không tự cho ăn uống hoặc uống thuốc khi người bệnh nuốt kém.
Ăn uống
Chia nhiều bữa nhỏ.
Không ăn quá no trong một lần.
Hạn chế muối khi có cổ trướng theo chỉ định.
Kiêng rượu bia hoàn toàn.
Không dùng thuốc bổ gan, trà thảo dược hoặc thực phẩm bổ sung không rõ thành phần.
Duy trì đủ năng lượng để hạn chế cơ thể phân giải cơ bắp.
Phòng táo bón
Dùng lactulose hoặc thuốc theo đơn.
Ăn rau quả mềm và lượng chất xơ phù hợp khi người bệnh có thể ăn uống.
Không rặn mạnh.
Không tự dùng thuốc tẩy xổ.
Giấc ngủ
Rối loạn chu kỳ ngủ – thức là dấu hiệu sớm của bệnh, không nên tự điều trị bằng thuốc ngủ.
Thuốc ngủ và thuốc an thần có thể làm ý thức suy giảm nhanh hơn.
Tinh thần
Giữ môi trường yên tĩnh, nói chuyện chậm và rõ.
Không tranh luận hoặc trách móc khi người bệnh có hành vi bất thường, vì đó có thể là biểu hiện của bệnh.
Không nên cho rằng bệnh phát sinh do người bệnh nóng giận hoặc không giữ tinh thần lạc quan.
Dấu hiệu cần cấp cứu
Người bệnh đột nhiên thay đổi tính tình hoặc hành vi.
Không nhận ra người thân hoặc không biết thời gian, vị trí.
Run vẫy rõ.
Ngủ gà, gọi khó tỉnh.
Nói sảng, kích động hoặc có ảo giác.
Co giật.
Nôn ra máu hoặc đại tiện phân đen.
Sốt, rét run hoặc đau bụng.
Tiểu ít rõ.
Nôn hoặc tiêu chảy nhiều.
Khó thở.
Hạ huyết áp hoặc ngất.
Các phương pháp hỗ trợ thay thế chức năng gan
Trong suy gan nặng, một số phương pháp hỗ trợ như thay huyết tương, lọc hấp phụ hoặc hệ thống hỗ trợ gan nhân tạo có thể được cân nhắc.
Mục đích là loại bỏ tạm thời một phần độc chất, điều chỉnh rối loạn chuyển hóa và tạo thời gian chờ gan hồi phục hoặc chờ ghép gan.
Những phương pháp này không thay thế hoàn toàn chức năng gan và không phù hợp với mọi người bệnh.
Ghép gan
Đối với bệnh gan không còn khả năng hồi phục, ghép gan là phương pháp điều trị căn bản nhất.
Người bệnh xơ gan mất bù, bệnh não gan tái diễn hoặc suy gan cấp cần được đánh giá khả năng ghép gan sớm, không nên chờ đến khi hôn mê sâu hoặc suy đa cơ quan.
Kết luận
Theo Trung y, bệnh não gan là tình trạng bản hư tiêu thực nặng. Can, Tỳ và Thận suy tổn là gốc; đàm thấp, thấp nhiệt, trọc độc, huyết ứ và Can phong che lấp thanh khiếu là ngọn.
Giai đoạn sớm thường thiên về Can uất, Tỳ hư và đàm thấp. Khi bệnh tiến triển có thể xuất hiện đàm nhiệt, thấp nhiệt độc thịnh, nhiệt nhập doanh huyết và Can phong nội động. Sau khi qua giai đoạn cấp, người bệnh thường còn khí âm hoặc khí huyết suy hư.
Điều trị có thể vận dụng sơ Can kiện Tỳ, hóa đàm, thanh nhiệt giải độc, lương huyết tức phong hoặc ích khí dưỡng âm căn cứ từng thể bệnh. Tuy nhiên, việc xử lý xuất huyết, nhiễm khuẩn, táo bón, rối loạn điện giải, suy thận và các yếu tố khởi phát giữ vai trò quyết định.
Nói tóm lại, bệnh não gan không phải là tình trạng có thể điều trị tại nhà bằng thuốc khai khiếu, thuốc xổ hoặc thuốc lợi tiểu. Mọi thay đổi về nhận thức và hành vi ở người bệnh gan phải được đánh giá sớm tại cơ sở y tế.
Trường Xuân biên soạn