Bệnh Meniere
Bệnh Meniere là một bệnh về tai do phù nước màng mê đạo, với các triệu chứng chính là chóng mặt từng đợt, mất thính lực dao động và ù tai. Trường hợp nặng người bệnh run rẩy, không nắm được vật cố định, có thể bị ngã nhưng ý thức bình thường. Bệnh có thể xảy ra ở mọi lứa tuổi nhưng chủ yếu ảnh hưởng đến người lớn từ 30 đến 60 tuổi. 65% bệnh nhân mắc bệnh lần đầu trước 50 tuổi và một số người cho biết bệnh nhân nhỏ tuổi nhất mắc bệnh này chỉ mới 4 tuổi.
Nguyên nhân và cơ chế bệnh sinh của bệnh Meniere vẫn chưa được biết rõ và có nhiều giả thuyết, có thể tóm tắt như sau: (1) Rối loạn chức năng thần kinh thực vật, tăng cường hoạt động choline (hoạt tính đảm kiềm), co thắt các mạch máu nhỏ ở tai trong, gây rối loạn vi tuần hoàn, tình trạng thiếu oxy của mô và rối loạn chuyển hóa, các đặc tính vật lý và hóa học của sự thay đổi nội dịch, áp suất thẩm thấu tăng lên, ngoại dịch và huyết tương di chuyển vào trong, gây ra hiện tượng tích thủy. (2) Bệnh van mạch nội dịch, tắc nghẽn túi nội dịch và rối loạn hấp thu nội dịch là những nguyên nhân chính gây ra hiện tượng phù nước mê đạo màng. (3) Lý thuyết dị ứng: Các chất gây dị ứng xâm nhập vào tai trong có thể kích thích các tế bào hoạt động miễn dịch tập trung quanh mạch máu, mạch nội dịch và túi để tạo ra kháng thể. Phản ứng kháng nguyên-kháng thể dẫn đến giãn mao mạch tai trong, tăng tính thấm, thâm nhiễm dịch cơ thể và tăng tiết như thể vân mạch. Đặc biệt, sự lắng đọng phức hợp kháng nguyên-kháng thể trong túi nội dịch dẫn đến rối loạn chức năng hấp thu, điều này sẽ cuối cùng dẫn đến hiện tượng hydrops trong mê cung.
Tài liệu tham khảo liên quan:
Các biểu hiện lâm sàng chính của bệnh Meniere là gì?
Biểu hiện lâm sàng chính của bệnh Meniere là: Chóng mặt khởi phát đột ngột, chủ yếu là dạng xoay tròn hoặc lắc lư, kèm theo rung giật nhãn cầu tự phát và các triệu chứng phản xạ thần kinh thực vật như buồn nôn, nôn, sắc mặt nhợt nhạt, ra mồ hôi lạnh, mạch trì hoãn, tụt huyết áp. Thời gian chóng mặt ngắn, thường kéo dài từ vài giây đến vài phút và hiếm khi kéo dài quá 1 hoặc 2 ngày. Chứng ù tai thường xảy ra trước khi bị chóng mặt, bắt đầu bằng tiếng ù tai rít giống như tiếng gió, sau đó chuyển sang tiếng ù tai the thé giống như tiếng ve sầu. Chứng ù tai trầm trọng khi có cơn chóng mặt và nhẹ khi xảy ra từng đợt. Thính lực suy giảm thường không ổn định, có cảm giác đầy và sưng ở tai trước khi phát bệnh, mất thính lực khi bị bệnh và hồi phục hoặc hồi phục không hoàn toàn sau khi bị bệnh. Xu hướng chung của tình trạng suy giảm thính lực là mức độ suy giảm thính lực tăng dần theo số đợt nhưng hiếm khi bị điếc hoàn toàn. Ngoài ra, một số bệnh nhân có thể cảm thấy đầy, nặng hoặc áp lực ở đầu hoặc tai ở bên bị ảnh hưởng trong khi bệnh phát tác.
Kiểm tra bằng ống soi tai cho thấy màng nhĩ bình thường, chức năng ống Eustachian tốt, tổn thương thính giác thuộc loại ốc tai (kiểm tra thính lực dương tính, kiểm tra mệt mỏi âm tính, v.v.), vùng âm thanh thấp bị tổn hại khá nghiêm trọng. điếc chủ yếu là điếc có tính cảm âm. Trong giai đoạn giữa cơn, các xét nghiệm nóng và lạnh về chức năng tiền đình được thực hiện và hầu hết đều cho thấy tình trạng tê liệt ống bán khuyên ở bên bị ảnh hưởng; Xét nghiệm glycerol hầu hết là dương tính. Kết hợp các triệu chứng trên và dữ liệu khám có giá trị chẩn đoán cho bệnh này.
Đặc điểm chóng mặt trong bệnh Meniere là gì?
Chóng mặt trong bệnh Meniere có những đặc điểm sau:
(1) Chóng mặt từng đợt và chóng mặt xoay tròn. Chứng chóng mặt thường tấn công đột ngột và có tính chất quay vòng, khi mở mắt người bệnh cảm thấy các vật xung quanh như cây cối, nhà cửa, trần nhà đều quay theo một hướng và mặt phẳng nhất định, khi nhắm mắt người bệnh có cảm giác như mình bị chóng mặt. cảm giác thăng trầm, sóng, nâng lên hoặc trôi nổi. Các triệu chứng trên càng trầm trọng hơn khi bạn mở mắt và quay đầu lại, giảm bớt khi bạn nằm yên, nhắm mắt lại. (2) Bệnh nhân chóng mặt còn tỉnh táo nhưng thường kèm theo các triệu chứng thần kinh thực vật như buồn nôn và nôn, da nhợt nhạt, đổ mồ hôi lạnh và hạ huyết áp. (3) Thời gian chóng mặt ngắn, cơn chóng mặt kéo dài khoảng 2 đến 4 giờ và thuyên giảm tự nhiên sau vài phút hoặc vài giờ. (4) Chóng mặt thường đi kèm với rung giật nhãn cầu tự phát.
Y học cổ truyền cho rằng bệnh Meniere thuộc phạm trù “Huyễn vựng” (眩晕) *chóng mặt. Ấn bản thứ năm của cuốn sách “Tai mũi họng Y học cổ truyền Trung Quốc” của các trường Cao đẳng và Đại học Y học cổ truyền Trung Quốc gọi căn bệnh này là “Nhĩ huyễn vựng” (耳眩晕) và tin rằng cơ chế bệnh sinh của nó căn bản nằm ở sự rối loạn chức năng của các cơ quan tỳ, thận và gan. Tiêu chứng của bệnh là phong, đàm và thấp lấn át thanh dương. Nội dung biện chứng luận trị chủ yếu của y học cổ truyền là :
1/ Loại hình tủy hải bất túc: Có các chứng trạng như thường xuyên chóng mặt, ù tai và điếc, hay quên và mất ngủ, đau mỏi eo gối, lòng bàn tay và lòng bàn chân nóng; Chất lưỡi đỏ ít rêu lưỡi, mạch huyền tế sác.
Trị pháp: Tư âm bổ thận, điền tinh ích tuỷ.
Xử phương: Kỷ cúc địa hoàng thang gia vị: Thục địa 25g, Sơn dược, Sơn thù, Bạch thược đều 12g, Đan bì, Trạch tả, Phục linh đều 15g, Hà thủ ô 10g, Thạch quyết minh 30g. Để đề phòng thang dược nặng nề khó tiêu ảnh hưởng dạ dày, trong phương nên châm chước gia Trần bì 15g, Sa nhân 10g, Tiêu tam tiên 15g (gồm Mạch nha, Sơn tra và Thần khúc). Sắc uống.
2/ Loại hình tâm tỳ lưỡng hư: Chóng mặt xoay tròn xảy ra nhiều lần hoặc xuất hiện do mệt mỏi; kèm theo ù tai và điếc, tinh thần mệt mỏi, khó thở ngại nói, hồi hộp bồn chồn; Chất lưỡi nhạt, rêu mỏng, mạch tế hoãn vô lực.
Trị pháp: Bổ ích phế tỳ, dưỡng huyết an thần.
Xử phương: Thang Quy tỳ gia giảm:
Đảng sâm, Bạch truật, Phục linh đều 15g, Hoàng kỳ, Đương quy đều 20g, Long nhãn, Viễn chí đều 10g, Toan táo nhân 30g, Mộc hương 10g, Long cốt chín, Mẫu lệ chín, Ngũ vị tử đều 15g, chích Cam thảo 6g. Nếu chóng mặt nặng, gia Thiên ma 30g; Nếu có biểu hiện khí hư hiệp đàm, gia Bán hạ chế 10g, Trần bì 12g. Nếu khí hư thanh dương không thăng, có thể thay bằng thang Bổ trung ích khí gia giảm, sắc uống.
3/ Loại hình hàn thuỷ thượng phiếm (tràn lên): Thường xuất hiện chóng mặt xoay tròn, hồi hộp, trong tai có cảm giác trướng đầy, eo lưng đau và lạnh, tiểu đêm nhiều lần, nước tiểu trong và nhiều, ; Chất lưỡi nhạt, rêu lưỡi trắng nhuận (bóng), mạch trầm tế nhược.
Trị pháp: Ôn thận tráng dương, tán hàn lợi thuỷ.
Xử phương: Chân võ thang gia vị: chế Phụ tử 12g, Bạch truật, Phục linh, Ích trí nhân, Trạch tả mỗi vị 15g, Bạch thược 12g, Sinh khương 6g, Quế chi 10g. Sắc uống.
4/ Loại hình can dương thượng kháng: Chóng mặt phát tác thường do cảm xúc dao động như tức giận và tâm trạng xấu, rung giật nhãn cầu rõ ràng, nhức đầu, tức trướng trong tai hoặc mắt và mặt đỏ, miệng họng khô đắng, đầy tức ngực và hai bên sườn; Chất lưỡi đỏ và rêu lưỡi vàng, mạch huyền sác.
Trị pháp: Bình can tức phong, dục âm tiềm dương.
Xử phương: Thiên ma câu đằng ẩm hợp Đan chi tiêu dao tán gia giam: Thiên ma 15g, Câu đằng 20g, Thạch quyết minh 20g, Chi tử 12g, Hoàng cầm 12g, Ngưu tất 15g, Tang ký sinh 15g, Đỗ trọng 15g, Ích mẫu 15g, Phục linh 15g, Đan bì 15g, Sài hồ 10g, Bạch thược 15g, Bạch truật 12g, Bạc hà 10g. Nếu táo bón và nước tiểu vàng đỏ, có thể gia Long đảm thảo 15g, Đại hoàng 10g (hậu hạ), sắc uống.
5/ Đờm trọc gây trở ngại: Chóng mặt xoay vòng đột ngột, đầu trướng và nặng, ngực khó chịu, buồn nôn và nôn kịch liệt, quá nhiều đàm dãi; Kèm theo hồi hộp và chán ăn, mệt mỏi và trướng bụng; Chất lưỡi nhợt nhạt, rêu lưỡi nhờn, mạch hoạt.
Trị pháp: Kiện tỳ lợi thấp, trừ đàm trị phong.
Xử phương: Bán hạ Bạch truật Thiên ma thang hợp Trạch tả thang gia giảm: Thiên ma 15g, Bán hạ 15g, Trần bì 12g, Bạch truật 12g, Phục linh 15g, Trạch tả 30g, Long cốt nung 30g, Mẫu lệ nung 30g. Sắc uống.
Người mắc bệnh Meniere cần chú ý điều gì về chế độ ăn uống, sinh hoạt trong thời kỳ phát tác?
Bệnh nhân mắc bệnh Meniere trong thời kỳ phát tác nên chú ý đến 4 điểm sau đây về chế độ ăn uống và làm việc:
1/Chế độ ăn uống: Màng mê lộ của những bệnh nhân này hầu hết ở trạng thái phù nước, tính chất vật lý và hóa học của nội dịch hầu hết là nhiều natri và ít kali. Vì thế, trên phương diện ẩm thực nên chọn đặc điểm ẩm thực là “Lưỡng cao lưỡng đê” (两高两低) hai cao hai thấp, tức là chế độ ẩm thực giàu protein, nhiều vitamin, ít béo, ít muối, chẳng hạn như thịt nạc, cá tươi, thịt gia cầm sống và các món hầm khác, là những thực phẩm có thể dùng thường xuyên. Bạn cũng có thể ăn nhiều trái cây hơn , tỏi tây, cà rốt, cần tây và các loại rau, trái cây có hàm lượng vitamin cao khác.
2/ Về mặt sinh hoạt: Trong thời kỳ lên cơn chú ý nghỉ ngơi tại giường, ánh sáng trong phòng nên hơi tối, tránh môi trường ồn ào, tốt nhất nên nghỉ ngơi yên tĩnh. Sau khi các triệu chứng thuyên giảm, bạn nên rời khỏi giường dần dần và di chuyển xung quanh, tránh nằm trên giường quá lâu.
3/ Đối với những bệnh nhân mắc bệnh lâu năm, lên cơn thường xuyên và suy nhược thần kinh, cần giải thích tình trạng bệnh cho bệnh nhân bằng nhiều cách để họ giảm bớt căng thẳng và sợ hãi về tinh thần. Hãy chú ý đến tính quy luật của cuộc sống và cấm sử dụng các chất kích thích như thuốc lá, rượu và cà phê.
(4) Sau thời gian phát tác, các triệu chứng thuyên giảm. Những công nhân trước đây từng tham gia lái xe, thể dục dụng cụ, khiêu vũ, v.v. không nên vội vàng tiếp tục công việc và huấn luyện ban đầu. Sau một thời gian điều trị và nghỉ ngơi đầy đủ, bệnh nhân sẽ phục hồi tốt cả về thể chất lẫn tinh thần, bạn vẫn có thể giữ được công tác trước đó. Tuy nhiên, các loại thuốc ức chế tiền đình như diazepam và diazepam phải được chuẩn bị sẵn để ngăn ngừa các cơn chóng mặt đột ngột.
*Chóng mặt (tiếng Anh: vertigo) là ảo giác chủ quan (không có kích thích bên ngoài) hoặc ảo tưởng (có kích thích bên ngoài) trong đó cơ thể con người cảm nhận được chuyển động tương đối như quay, lên xuống, trôi nổi, lắc lư hoặc lật đổ của chính nó hoặc các vật thể xung quanh và môi trường. Bệnh nhân thường phàn nàn về chóng mặt, mất thăng bằng và khó chịu nhiều, thường kèm theo buồn nôn, nôn, đổ mồ hôi ban đêm hoặc đi lại khó khăn. Chóng mặt không nhất thiết chỉ giới hạn ở việc cảm nhận được khi đứng yên. Các triệu chứng chóng mặt thường nghiêm trọng hơn khi di chuyển đầu.
** Hậu Hạ, một thuật ngữ trong y học cổ truyền Trung Quốc. Đề cập đến một phương pháp thuốc sắc. Một số loại thuốc sẽ mất tác dụng sau khi sắc lâu, vì vậy hãy thêm các loại thuốc khác khi gần như đã sẵn sàng và chỉ cần sắc trong thời gian ngắn. Chẳng hạn như các loại thuốc thơm như bạc hà, Mộc thông, Hoắc hương, Sa nhân, Câu đằng, Đậu khấu, Hạnh nhân, v.v.
Ly Nghị Nguyễn
9/18/2023