TỔNG QUAN VỀ BỆNH MẠCH MÁU NGOẠI BIÊN
周围血管疾病概论
Khái quát
Bệnh mạch máu ngoại biên là nhóm bệnh ảnh hưởng đến động mạch, tĩnh mạch và vi tuần hoàn ở các chi. Bệnh có thể gây tắc nghẽn dòng máu động mạch, ứ trệ tĩnh mạch, thiếu máu mô, phù, đau, biến đổi da, loét và hoại tử.
Trong những năm gần đây, các bệnh như xơ vữa động mạch chi, bệnh động mạch do đái tháo đường, huyết khối tĩnh mạch và suy tĩnh mạch ngày càng thường gặp. Những bệnh này không chỉ ảnh hưởng khả năng vận động mà còn có thể gây nhiễm trùng, mất chi hoặc đe dọa tính mạng.
Y học hiện đại dựa vào giải phẫu, sinh lý tuần hoàn, siêu âm Doppler, chụp mạch và các kỹ thuật can thiệp để xác định vị trí, mức độ tổn thương và phục hồi lưu thông máu.
Trung y từ lâu đã nhận thức các bệnh thiếu máu, đau, loét và hoại tử đầu chi trong các phạm vi Thoát thư (脱疽), Mạch tý (脉痹), Cân lựu (筋瘤), Thanh xà độc (青蛇毒) và các chứng sang loét. Trọng điểm bệnh cơ thường liên quan khí huyết bất túc, hàn ngưng, khí trệ, huyết ứ, đàm thấp, thấp nhiệt và nhiệt độc.
Sự kết hợp giữa y học hiện đại và Trung y có thể phát huy ưu thế của mỗi phương pháp. Y học hiện đại giữ vai trò chính trong chẩn đoán mạch máu, chống đông, tái thông mạch, chăm sóc vết thương và phẫu thuật. Trung y có thể hỗ trợ điều chỉnh khí huyết, cải thiện thể trạng và triệu chứng khi biện chứng phù hợp.
Nhận thức của Trung y về bệnh mạch máu ngoại biên
Hoàng đế Nội kinh đã có những ghi chép sớm về chứng Thoát thư ở đầu ngón tay, ngón chân, với biểu hiện da đổi màu, đau, lở loét và hoại tử.
Một số ghi chép cổ mô tả rằng nếu ngón chân chuyển đỏ đen, tổn thương lan rộng thì tiên lượng xấu; trường hợp bệnh quá nặng cần xử lý phần chi hoại tử để tránh nguy hiểm đến tính mạng.
Những mô tả này có thể liên hệ với nhiều bệnh hiện nay như viêm tắc mạch huyết khối, bệnh động mạch xơ vữa, tắc động mạch cấp, hoại thư do đái tháo đường và nhiễm trùng bàn chân.
Thời Hán, nhận thức về huyết ứ và phép hoạt huyết hóa ứ phát triển rõ hơn. Các y gia nhận thấy khi khí huyết không thông, đầu chi mất nuôi dưỡng sẽ sinh đau, đổi màu, loét và hoại tử.
Tứ diệu dũng an thang
Một phương cổ thường được dùng trong chứng Thoát thư nhiệt độc là Tứ diệu dũng an thang (四妙勇安汤), gồm Kim ngân hoa (金银花), Huyền sâm (玄参), Đương quy (当归), Cam thảo (甘草).
Phương có ý nghĩa thanh nhiệt giải độc, dưỡng âm, hoạt huyết, thường được nghiên cứu và vận dụng trong các chứng thiếu máu chi kèm viêm, loét và hoại tử.
Tuy nhiên, phương thang này không thay thế kháng sinh, làm sạch vết thương, đánh giá tưới máu hoặc tái thông mạch khi có chỉ định.
Nhận thức thời Minh và Thanh
Ngoại khoa chính tông mô tả Thoát thư thường phát ở tay chân, ban đầu xuất hiện tổn thương nhỏ, sau đó da đổi màu, đau dữ dội, gân co, xương khô, lở loét và có mùi hôi.
Các vị hoạt huyết như Xuyên khung, Đương quy, Hồng hoa và Ngưu tất thường được dùng để làm khí huyết lưu thông.
Đến thời Thanh, nhiều phương pháp điều trị được phát triển theo các hướng:
Ôn dương tán hàn.
Hoạt huyết hóa ứ.
Thanh nhiệt giải độc.
Ích khí dưỡng huyết.
Thông lạc giảm đau.
Các phương như Dương hòa thang, Tiểu kim đan, Hoàng liên giải độc thang, Tê giác địa hoàng thang và Tứ diệu dũng an thang được vận dụng tùy chứng trạng.
Bệnh cơ chung theo Trung y
Bệnh mạch máu ngoại biên thường thuộc bản hư tiêu thực.
Bản hư
Khí hư: Khí không đủ sức thúc đẩy huyết vận hành.
Huyết hư: Mạch lạc và da thịt không được nuôi dưỡng.
Dương hư: Chi mất ôn dưỡng, hàn ngưng huyết trệ.
Âm hư: Tân dịch hao tổn, hư nhiệt nội sinh.
Tỳ hư: Thủy thấp không hóa, đàm thấp tích tụ.
Thận hư: Khí hóa suy, đầu chi mất nuôi dưỡng.
Tiêu thực
Hàn ngưng: Mạch co rút, huyết vận hành chậm.
Khí trệ: Khí cơ không thông, huyết theo đó bị trở ngại.
Huyết ứ: Mạch lạc bế tắc, đau cố định, da tím tối.
Đàm thấp: Trở ngại khí huyết và vi tuần hoàn.
Thấp nhiệt: Da sưng, nóng, đỏ, rỉ dịch.
Nhiệt độc: Loét, mủ, hoại tử, sốt.
Bệnh thường không thuần hư hoặc thuần thực. Khí hư có thể sinh huyết ứ; dương hư có thể sinh thủy ẩm; Tỳ hư sinh đàm; huyết ứ lâu ngày hóa nhiệt; thấp nhiệt kéo dài có thể hóa độc.
Nguyên tắc điều trị
Hàn ngưng thì ôn kinh tán hàn.
Khí hư thì ích khí.
Huyết hư thì dưỡng huyết.
Huyết ứ thì hoạt huyết hóa ứ.
Đàm thấp thì kiện Tỳ hóa thấp.
Thấp nhiệt thì thanh nhiệt lợi thấp.
Nhiệt độc thì thanh nhiệt giải độc.
Loét lâu lành thì ích khí dưỡng huyết, sinh cơ, phối hợp chăm sóc vết thương.
Giải phẫu hệ động mạch
Động mạch chủ
Động mạch chủ xuất phát từ tâm thất trái và là thân chính của hệ tuần hoàn động mạch.
Động mạch chủ gồm đoạn lên, cung động mạch chủ và đoạn xuống. Đoạn xuống đi qua cơ hoành vào ổ bụng, sau đó chia thành hai động mạch chậu chung.
Động mạch đầu và cổ
Động mạch cảnh chung trái xuất phát từ cung động mạch chủ; động mạch cảnh chung phải xuất phát từ thân cánh tay – đầu.
Mỗi động mạch cảnh chung chia thành động mạch cảnh trong và động mạch cảnh ngoài. Động mạch cảnh trong cấp máu chủ yếu cho não; động mạch cảnh ngoài cấp máu cho mặt và phần ngoài đầu.
Động mạch chi trên
Động mạch dưới đòn tiếp tục thành động mạch nách, động mạch cánh tay, sau đó chia thành động mạch quay và động mạch trụ.
Các nhánh này tạo mạng nối phong phú quanh vai, khuỷu và bàn tay.
Động mạch chi dưới
Động mạch chậu ngoài đi qua vùng bẹn và trở thành động mạch đùi. Động mạch đùi đi xuống đùi, qua ống cơ khép và trở thành động mạch khoeo.
Động mạch khoeo chia thành động mạch chày trước và động mạch chày sau. Động mạch chày trước tiếp tục xuống mu bàn chân thành động mạch mu chân.
Những động mạch này thường được khám bằng cách bắt mạch đùi, khoeo, chày sau và mu chân.
Cấu trúc thành động mạch
Thành động mạch gồm ba lớp:
Nội mạc
Lớp trong cùng gồm tế bào nội mô, tiếp xúc trực tiếp với máu. Nội mô tham gia điều hòa đông máu, giãn mạch, co mạch và phản ứng viêm.
Trung mạc
Gồm cơ trơn và sợi đàn hồi. Lớp này giúp mạch co giãn, điều chỉnh lưu lượng và huyết áp.
Ngoại mạc
Gồm mô liên kết, thần kinh và các mạch nuôi thành mạch.
Ở động mạch lớn, thành phần đàn hồi chiếm ưu thế. Ở động mạch cỡ vừa và nhỏ, cơ trơn nhiều hơn và đóng vai trò điều chỉnh sức cản ngoại biên.
Chức năng sinh lý của động mạch
Duy trì dòng máu liên tục
Khi Tâm co, máu được tống vào động mạch làm thành mạch giãn. Khi Tâm giãn, tính đàn hồi của động mạch đẩy máu tiếp tục đi về phía trước.
Điều hòa lưu lượng máu
Cơ trơn thành mạch co hoặc giãn để điều chỉnh lượng máu đến từng cơ quan.
Điều hòa huyết áp
Tiểu động mạch là vị trí quan trọng tạo sức cản ngoại biên. Co tiểu động mạch làm huyết áp tăng; giãn tiểu động mạch làm sức cản giảm.
Điều hòa thân nhiệt
Khi lạnh, mạch da co để giảm mất nhiệt. Khi nóng, mạch da giãn để tăng thải nhiệt.
Tắc nghẽn động mạch cấp tính
Nguyên nhân
Thuyên tắc động mạch.
Huyết khối hình thành tại chỗ.
Chấn thương hoặc tổn thương mạch do thủ thuật.
Phần lớn thuyên tắc động mạch xuất phát từ Tâm, động mạch chủ hoặc mảng xơ vữa ở đoạn gần.
Huyết khối tại chỗ thường hình thành trên nền động mạch đã bị hẹp do xơ vữa, viêm mạch hoặc bệnh mạch mạn tính.
Biểu hiện thường gặp
Đau đột ngột.
Chi lạnh.
Da nhợt hoặc tím.
Mạch ngoại biên mất.
Tê bì hoặc mất cảm giác.
Yếu hoặc liệt chi.
Đây là tình trạng cấp cứu mạch máu. Nếu không tái thông sớm, cơ, thần kinh và da có thể hoại tử.
Hội chứng khoang
Thiếu máu cấp làm cơ phù nề trong khoang cân kín, khiến áp lực tăng. Áp lực cao tiếp tục chèn ép mạch và thần kinh, làm thiếu máu nặng hơn.
Biểu hiện gồm đau dữ dội, căng cứng cơ, đau tăng khi kéo giãn, tê, yếu và mất mạch muộn.
Hội chứng tái tưới máu
Sau khi dòng máu được tái lập, các sản phẩm chuyển hóa, kali, acid và myoglobin từ vùng thiếu máu có thể tràn vào tuần hoàn.
Hậu quả có thể gồm:
Toan chuyển hóa.
Tăng kali máu.
Rối loạn nhịp.
Suy Thận cấp.
Tụt huyết áp.
Suy đa cơ quan.
Do đó, tái thông mạch phải đi kèm theo dõi huyết động, điện giải, chức năng Thận và áp lực khoang.
Tắc nghẽn động mạch mạn tính
Tắc mạn thường gặp nhiều hơn ở chi dưới.
Nguyên nhân thường gặp
Xơ vữa động mạch.
Bệnh động mạch do đái tháo đường.
Bệnh Buerger.
Viêm động mạch Takayasu.
Viêm mạch do bệnh mô liên kết.
Chấn thương hoặc chèn ép mạch.
Biểu hiện
Chân lạnh.
Mạch yếu.
Đau cách hồi.
Đau khi nghỉ.
Da khô, rụng lông.
Móng dày.
Loét đầu chi.
Hoại tử.
Mức độ thiếu máu không chỉ phụ thuộc vị trí và độ dài đoạn tắc, mà còn phụ thuộc khả năng phát triển tuần hoàn bàng hệ.
Tuần hoàn bàng hệ
Khi động mạch chính bị tắc, các nhánh nhỏ nối giữa những động mạch có thể giãn rộng và dẫn máu vòng qua vị trí tắc.
Tuần hoàn bàng hệ phát triển tốt có thể giúp chi vẫn được nuôi dưỡng dù động mạch chính bị hẹp nặng. Ngược lại, nếu mạng bàng hệ kém, một đoạn tắc tương đối ngắn vẫn có thể gây thiếu máu nghiêm trọng.
Các mạng bàng hệ quan trọng ở chi dưới gồm vùng chậu – đùi, quanh gối và bàn chân; ở chi trên gồm vùng dưới đòn – nách, quanh khuỷu và cung gan tay.
Hệ thống tĩnh mạch chi dưới
Tĩnh mạch nông
Tĩnh mạch hiển lớn bắt đầu ở mu bàn chân, đi trước mắt cá trong, lên mặt trong cẳng chân và đùi rồi đổ vào tĩnh mạch đùi.
Tĩnh mạch hiển bé bắt đầu ở bờ ngoài bàn chân, đi sau mắt cá ngoài và thường đổ vào tĩnh mạch khoeo.
Tĩnh mạch sâu
Tĩnh mạch sâu đi cùng các động mạch và đảm nhiệm phần lớn lượng máu từ chi trở về Tâm.
Hệ tĩnh mạch sâu gồm tĩnh mạch chày, mác, khoeo, đùi, chậu và tĩnh mạch chủ dưới.
Tĩnh mạch xuyên
Tĩnh mạch xuyên nối hệ tĩnh mạch nông với hệ tĩnh mạch sâu. Van trong tĩnh mạch xuyên bình thường cho máu chảy từ nông vào sâu.
Khi van suy, máu có thể chảy ngược từ sâu ra nông, làm tăng áp lực tĩnh mạch nông và góp phần hình thành suy giãn tĩnh mạch cùng loét cẳng chân.
Van tĩnh mạch
Van tĩnh mạch giúp máu chảy một chiều về Tâm và ngăn máu trào ngược xuống chân.
Nếu van bị suy do bẩm sinh, huyết khối, tuổi cao hoặc thành mạch giãn, máu sẽ ứ lại ở chi dưới.
Bơm cơ bắp chân
Khi đi bộ, cơ bắp chân co bóp ép các tĩnh mạch sâu, đẩy máu lên trên. Khi cơ giãn, van ngăn máu chảy ngược.
Do vai trò này, cơ bắp chân thường được gọi là “Tâm thứ hai” của tuần hoàn tĩnh mạch chi dưới.
Đứng hoặc ngồi bất động lâu làm bơm cơ hoạt động kém, khiến máu dễ ứ và chân phù.
Sinh lý bệnh của ứ trệ tĩnh mạch
Khi van suy hoặc tĩnh mạch bị tắc, áp lực trong hệ tĩnh mạch chi dưới tăng.
Áp lực cao truyền đến mao mạch, khiến dịch, protein và hồng cầu thoát ra mô xung quanh.
Hậu quả gồm:
Phù.
Da sẫm màu.
Viêm da ứ trệ.
Xơ cứng da và mô dưới da.
Ngứa.
Chàm.
Loét tĩnh mạch.
Hồng cầu thoát ra mô bị phân hủy, sắc tố sắt lắng lại làm da chuyển màu nâu sẫm.
Fibrin và phản ứng viêm quanh mao mạch làm quá trình trao đổi oxy, dưỡng chất giảm, khiến da dễ tổn thương và vết loét khó lành.
Loét tĩnh mạch
Loét thường xuất hiện quanh mắt cá trong hoặc một phần ba dưới cẳng chân.
Đặc điểm thường gặp:
Vết loét nông.
Bờ không đều.
Tiết nhiều dịch.
Da xung quanh phù, sẫm và ngứa.
Mạch bàn chân thường vẫn còn nếu không kèm bệnh động mạch.
Trước khi sử dụng băng ép hoặc vớ áp lực, cần đánh giá tuần hoàn động mạch để tránh làm thiếu máu chi nặng hơn.
Nhận thức của Trung y về tắc động mạch
Một. Hàn ngưng mạch lạc
Nguyên nhân: Dương khí suy, cảm lạnh, khí huyết vận hành chậm.
Chứng trạng: Chi lạnh, đau, tê, da nhợt hoặc tím, đau tăng khi gặp lạnh; lưỡi nhạt tối, rêu trắng, mạch trầm trì hoặc huyền khẩn.
Pháp trị
Ôn kinh tán hàn, thông mạch hoạt huyết.
Hai. Khí hư huyết ứ
Nguyên nhân: Bệnh lâu ngày, tuổi cao, lao lực, khí không đủ sức hành huyết.
Chứng trạng: Chân mỏi, đau cách hồi, sắc mặt nhợt, mệt, thở ngắn, da chi tối; lưỡi nhạt tím, mạch tế sáp.
Pháp trị
Ích khí hoạt huyết, hóa ứ thông lạc.
Ba. Huyết ứ trở lạc
Nguyên nhân: Khí trệ, hàn ngưng, chấn thương hoặc bệnh mạch kéo dài.
Chứng trạng: Đau cố định, đau nhói, da tím tối, mạch yếu hoặc mất; lưỡi tím hoặc có điểm ứ, mạch sáp.
Pháp trị
Hoạt huyết hóa ứ, thông lạc giảm đau.
Bốn. Thấp nhiệt, nhiệt độc
Nguyên nhân: Loét nhiễm trùng, đàm thấp uất lâu hóa nhiệt, đường huyết cao hoặc chính khí suy.
Chứng trạng: Chi sưng đỏ, nóng, đau, vết loét chảy mủ, có mùi; lưỡi đỏ, rêu vàng nhầy, mạch sác.
Pháp trị
Thanh nhiệt lợi thấp, giải độc, hoạt huyết thông lạc.
Nhận thức của Trung y về suy tĩnh mạch
Một. Khí hư hạ hãm
Nguyên nhân: Đứng lâu, lao lực, tuổi cao, Tỳ khí hư.
Chứng trạng: Chân nặng, phù, tĩnh mạch nổi, mệt, triệu chứng tăng cuối ngày; lưỡi nhạt, mạch hư.
Pháp trị
Ích khí thăng đề, hoạt huyết thông lạc.
Hai. Khí trệ huyết ứ
Nguyên nhân: Đứng lâu, ngồi lâu, vận động ít, bệnh kéo dài.
Chứng trạng: Tĩnh mạch ngoằn ngoèo, chân đau tức, da sẫm, đau tăng sau đứng lâu; lưỡi tím, mạch huyền sáp.
Pháp trị
Hành khí hoạt huyết, hóa ứ thông lạc.
Ba. Thấp nhiệt hạ chú
Nguyên nhân: Tỳ hư sinh thấp, thấp uất hóa nhiệt, da viêm và rỉ dịch.
Chứng trạng: Chân phù, da đỏ hoặc sẫm, ngứa, rỉ dịch, loét; lưỡi đỏ, rêu vàng nhầy, mạch hoạt sác.
Pháp trị
Thanh nhiệt lợi thấp, hoạt huyết thông lạc.
Nguyên tắc phối hợp Đông – Tây y
Chẩn đoán chính xác bằng khám mạch, siêu âm Doppler và chụp mạch khi cần.
Tắc động mạch cấp phải tái thông khẩn cấp.
Huyết khối tĩnh mạch sâu cần chống đông theo chỉ định.
Loét cần đánh giá tưới máu, nhiễm trùng và áp lực tĩnh mạch.
Trung y được sử dụng theo biện chứng, chủ yếu nhằm hỗ trợ khí huyết, giảm đau, giảm phù và cải thiện thể trạng.
Không tự ngâm chân bằng nước thuốc khi chi thiếu máu, giảm cảm giác, đang loét hoặc hoại tử.
Không đắp thuốc không vô khuẩn lên vết thương.
Không dùng phương hoạt huyết cùng thuốc chống đông nếu chưa được đánh giá nguy cơ chảy máu.
Kết luận
Bệnh mạch máu ngoại biên bao gồm các bệnh động mạch, tĩnh mạch và vi tuần hoàn, có thể gây thiếu máu, ứ trệ, phù, đau, loét và hoại tử chi.
Động mạch có nhiệm vụ đưa máu từ Tâm đến mô; tĩnh mạch đưa máu trở về Tâm. Tắc động mạch làm mô thiếu máu, trong khi suy hoặc tắc tĩnh mạch làm máu ứ và áp lực tĩnh mạch tăng.
Tuần hoàn bàng hệ có vai trò quan trọng trong việc duy trì tưới máu khi động mạch chính bị tắc. Bơm cơ bắp chân và hệ thống van có vai trò chủ yếu trong hồi lưu tĩnh mạch.
Theo Trung y, bệnh động mạch thường liên quan hàn ngưng, khí hư, huyết ứ, thấp nhiệt và nhiệt độc; bệnh tĩnh mạch thường liên quan khí hư hạ hãm, khí trệ huyết ứ và thấp nhiệt hạ chú.
Nói tóm lại, việc điều trị phải căn cứ loại mạch bị tổn thương, mức độ thiếu máu hoặc ứ trệ, tình trạng da và vết loét. Y học hiện đại giữ vai trò chính trong xác định tổn thương và phục hồi lưu thông máu; Trung y có thể hỗ trợ khi biện chứng rõ và được sử dụng an toàn.
Trường Xuân Đường biên soạn và tổng hợp