Khái niệm
Lỵ là chứng bệnh lấy đau bụng, đại tiện nhiều lần, phân có chất nhầy, mủ hoặc máu, kèm lý cấp hậu trọng làm biểu hiện chủ yếu.
“Lý cấp” là trong bụng đau quặn, đại tiện gấp gáp, khó nhịn. “Hậu trọng” là sau khi đại tiện vẫn cảm thấy nặng ở hậu môn, muốn đi tiếp nhưng lượng phân rất ít. Vì vậy, lý cấp hậu trọng không chỉ là mót đại tiện, mà còn biểu hiện khí cơ Trường phủ bị trở trệ, truyền đạo không thông lợi.
Lỵ khác với tiết tả. Tiết tả chủ yếu là phân lỏng hoặc như nước, số lần đại tiện tăng, đau bụng thường giảm sau khi đi ngoài và ít khi có mủ máu. Lỵ thường đau bụng rõ, đi nhiều lần nhưng mỗi lần lượng ít, phân có nhầy, mủ hoặc máu, đại tiện xong vẫn không dễ chịu.
Trong y học hiện đại, lỵ do vi khuẩn là bệnh truyền nhiễm đường ruột do Shigella gây nên. Trong Trung y, bệnh được biện chứng thuộc phạm vi lỵ tật, xích lỵ, bạch lỵ, xích bạch lỵ, thấp nhiệt lỵ, dịch độc lỵ, hưu tức lỵ và cửu lỵ.
Nguyên nhân và cơ chế bệnh sinh
Bệnh vị chủ yếu ở Đại trường, nhưng có quan hệ mật thiết với Tỳ Vị. Cơ chế căn bản là tà khí, thấp trọc, nhiệt độc hoặc thực tích kết tụ trong Trường phủ, làm khí cơ bị trở ngại, truyền đạo thất thường, khí huyết ngưng trệ, Tràng lạc tổn thương mà phát sinh đau bụng, lý cấp hậu trọng và đại tiện mủ máu.
Lỵ thường phát vào mùa hạ và mùa thu, khi thử, thấp, nhiệt và dịch độc tương đối thịnh.
Thấp nhiệt hoặc dịch độc theo đường ăn uống xâm nhập vào Trường Vị. Thấp có tính nặng nề, dính trệ, làm khí cơ không thông; nhiệt và độc tà nung nấu khí huyết, làm tổn thương huyết lạc. Vì vậy, người bệnh xuất hiện đau bụng, đại tiện gấp, hậu môn nóng rát, phân có nhầy, mủ và máu.
Nếu nhiệt độc rất mạnh, bệnh khởi phát đột ngột, sốt cao, khát nước, phiền táo, phân đỏ như máu hoặc mủ máu nhiều, có thể thuộc dịch độc lỵ.
Ăn thức ăn ôi thiu, không sạch, sống lạnh hoặc bị ô nhiễm khiến uế trọc và độc tà đi thẳng vào Trường Vị.
Tà độc cùng thấp trọc uất kết, làm Tỳ Vị mất chức năng vận hóa, Đại trường mất truyền đạo, thanh trọc không phân. Thấp trọc và nhiệt độc giao kết thì phân có mùi hôi, nhầy, mủ hoặc máu.
Ăn quá no, dùng nhiều thức ăn béo ngọt, cay nóng hoặc uống rượu quá mức có thể sinh thấp, tích nhiệt, làm thực trệ ở Trung tiêu.
Thực tích và thấp nhiệt cùng kết ở Đại trường sẽ gây bụng đầy, đau quặn, đại tiện không thông khoái, phân hôi, lẫn thức ăn, nhầy hoặc máu.
Lỵ lâu ngày không khỏi, điều trị công phạt quá mức, ăn uống kém hoặc thể chất vốn hư đều có thể làm Tỳ khí tổn thương.
Tỳ hư không vận hóa được thủy thấp, thấp trọc lưu lại trong Đại trường; trung khí suy, thanh dương không thăng, khiến đại tiện kéo dài, phân nhầy trắng, lúc lỏng lúc đặc, ăn ít và mệt mỏi.
Bệnh kéo dài từ Tỳ liên lụy đến Thận. Thận dương suy không đủ ôn ấm Tỳ thổ, Đại trường mất chức năng đóng mở, khiến lỵ tái phát nhiều lần, gặp lạnh hoặc ăn uống không phù hợp thì bệnh nặng hơn.
Lỵ kéo dài làm khí cơ Trường phủ không thông, huyết hành trở trệ. Khí trệ gây lý cấp hậu trọng và đau bụng; huyết ứ làm đau cố định, phân có máu sẫm, lưỡi tím hoặc có điểm ứ huyết.
Nói tóm lại, lỵ mới phát phần nhiều thuộc thấp nhiệt, dịch độc và thực tích; lỵ kéo dài phần nhiều liên quan Tỳ hư, Thận hư, khí trệ và huyết ứ. Thấp nhiệt, khí trệ và huyết ứ thường cùng tồn tại, nhưng mức độ có khác nhau.
BIỆN CHỨNG
Lỵ mới phát thường khởi bệnh đột ngột, đau bụng rõ, lý cấp hậu trọng nặng, phân có nhầy mủ máu, sốt, khát hoặc rêu lưỡi vàng nhớt. Bệnh phần nhiều thuộc thực chứng.
Lỵ kéo dài hoặc tái phát thường đau bụng âm ỉ, đại tiện lúc nhiều lúc ít, phân nhầy trắng hoặc lẫn ít máu, ăn kém, mệt mỏi, sợ lạnh. Bệnh phần nhiều thuộc hư chứng hoặc hư thực xen lẫn.
Xích lỵ biểu hiện phân có máu đỏ nhiều hơn chất nhầy, thường liên quan nhiệt độc làm tổn thương huyết phận.
Bạch lỵ biểu hiện chất nhầy trắng nhiều hơn máu, thường liên quan thấp trọc, hàn thấp hoặc Tỳ hư.
Xích bạch lỵ là nhầy trắng và máu đỏ cùng xuất hiện, thường do thấp nhiệt cùng tổn thương khí huyết.
Nhiệt lỵ thường phân đỏ trắng, mùi hôi, hậu môn nóng rát, đau bụng cự án, miệng khát, tiểu vàng, lưỡi đỏ, rêu vàng nhớt, mạch Hoạt Sác.
Hàn lỵ thường phân nhầy trắng hoặc màu nhạt, mùi không quá hôi, đau bụng thích ấm, thích ấn, tay chân lạnh, miệng nhạt, lưỡi nhạt, rêu trắng, mạch Trầm Trì.
Thực chứng thường bệnh mới phát, đau bụng rõ, cự án, lý cấp hậu trọng nặng, phân hôi, rêu lưỡi dày, mạch Hữu lực.
Hư chứng thường bệnh kéo dài, đau bụng âm ỉ, thích xoa ấn, đại tiện nhiều lần nhưng lượng ít, ăn kém, mệt mỏi, lưỡi nhạt, mạch Nhược.
BIỆN CHỨNG LUẬN TRỊ
Triệu chứng
Đau bụng, lý cấp hậu trọng, đại tiện nhiều lần, phân có nhầy, mủ và máu, màu đỏ trắng lẫn nhau, mùi hôi, hậu môn nóng rát. Có thể kèm sốt, khát nước, ngực bụng đầy, tiểu vàng ít. Lưỡi đỏ, rêu vàng nhớt; mạch Hoạt Sác.
Phép trị
Thanh nhiệt hóa thấp, điều khí hòa huyết.
Phương thang
Thang Thược dược gia giảm.
Bạch thược, Đương quy, Hoàng liên, Hoàng cầm, Mộc hương, Bình lang, Đại hoàng, Nhục quế, Cam thảo.
Trong phương, Hoàng liên và Hoàng cầm thanh nhiệt táo thấp; Bạch thược và Đương quy hòa huyết chỉ thống; Mộc hương và Bình lang hành khí đạo trệ; Đại hoàng thông phủ tiết nhiệt; Nhục quế phối hợp lượng nhỏ để điều hòa hàn nhiệt, giúp khí huyết lưu thông.
Nếu thấp nặng hơn nhiệt, ngực bụng đầy, rêu lưỡi dày nhớt, khát không nhiều, có thể dùng Thang Vị linh gia giảm để kiện Tỳ, hóa thấp và lợi thủy.
Nếu nhiệt nặng hơn thấp, phân mủ máu nhiều, hậu môn nóng rát, sốt và khát rõ, dùng Thang Bạch đầu ông gia giảm.
Triệu chứng
Khởi phát nhanh, sốt cao, khát nhiều, phiền táo, đau bụng dữ dội, lý cấp hậu trọng rõ. Phân có nhiều máu đỏ hoặc mủ máu, mùi hôi nặng. Có thể kèm nôn, tinh thần không tỉnh táo. Lưỡi đỏ sẫm, rêu vàng khô hoặc vàng nhớt; mạch Hoạt Sác hoặc Sác Hữu lực.
Phép trị
Thanh nhiệt giải độc, lương huyết chỉ lỵ.
Phương thang
Thang Bạch đầu ông gia giảm.
Bạch đầu ông 15 g, Hoàng liên 6 g, Hoàng bá 10 g, Tần bì 12 g.
Nếu nhiệt độc thịnh, có thể gia Kim ngân hoa, Liên kiều, Mã xỉ hiện.
Nếu máu trong phân nhiều, gia Địa du, Hòe hoa, Bạch mao căn để lương huyết chỉ huyết.
Nếu lý cấp hậu trọng nặng, gia Mộc hương, Bình lang để hành khí đạo trệ.
Nếu biểu chứng chưa giải, vừa phát sốt, đau đầu, vừa có lý nhiệt và tiêu chảy, dùng Thang Cát căn cầm liên gia giảm để biểu lý song giải.
Chú ý
Sốt cao, co giật, hôn mê, tay chân lạnh, khó thở hoặc huyết áp giảm là bệnh cảnh nguy cấp. Đây không chỉ là nhiệt độc lỵ thông thường mà có thể tương ứng lỵ nhiễm độc, cần cấp cứu tại bệnh viện.
Triệu chứng
Đại tiện nhầy nhiều, máu ít, bụng đầy, nặng nề, ăn kém, miệng dính, khát nhưng không muốn uống. Lưỡi nhạt đỏ, rêu vàng trắng dày nhớt; mạch Nhu Hoạt.
Phép trị
Lợi thấp hóa trọc, kiêm thanh nhiệt.
Phương thang
Thang Vị linh gia giảm.
Tán Bình vị hợp Tán Ngũ linh, gồm Thương truật, Hậu phác, Trần bì, Cam thảo, Quế chi, Bạch truật, Phục linh, Trư linh, Trạch tả.
Nếu nhiệt rõ, gia Hoàng liên, Hoàng cầm.
Nếu lý cấp hậu trọng, gia Mộc hương, Bình lang.
Triệu chứng
Đau bụng, bụng đầy chướng, đại tiện không thông khoái, phân nhầy mủ máu, lý cấp hậu trọng, miệng hôi, rêu lưỡi vàng dày, mạch Hoạt Thực.
Phép trị
Thanh nhiệt hóa thấp, đạo trệ thông phủ.
Phương thang
Thang Thược dược hoặc Thang Tiểu thừa khí gia giảm.
Thang Tiểu thừa khí gồm Đại hoàng, Hậu phác, Chỉ thực.
Chỉ dùng phép công hạ khi thực tích và phủ khí bế trệ rõ. Người cao tuổi, trẻ nhỏ, phụ nữ có thai, người Tỳ hư hoặc bệnh kéo dài không nên tùy tiện sử dụng.
Triệu chứng
Đại tiện nhầy trắng nhiều, máu ít hoặc không có, đau bụng âm ỉ, thích ấm, thích ấn, bụng sôi, miệng nhạt, không khát, tay chân lạnh. Lưỡi nhạt, rêu trắng nhớt; mạch Trầm Trì hoặc Nhu Hoãn.
Phép trị
Ôn Trung tán hàn, hóa thấp điều khí.
Phương thang
Thang Vị linh gia giảm.
Nếu hàn rõ, gia Can khương, Mộc hương.
Nếu bụng đau nhiều, gia Bạch thược, Cam thảo để hoãn cấp chỉ thống.
Nếu bệnh lâu, Tỳ dương suy, có thể dùng Hoàn Lý trung gia giảm.
Triệu chứng
Bệnh kéo dài, đại tiện nhiều lần, phân nhầy trắng hoặc lẫn ít máu, lúc lỏng lúc đặc, ăn uống không tiêu. Kèm ăn ít, bụng chướng, sắc mặt vàng nhạt, mệt mỏi, tay chân yếu. Lưỡi nhạt, rêu trắng; mạch Nhược.
Phép trị
Kiện Tỳ ích khí, hóa thấp chỉ lỵ.
Phương thang
Tán Sâm linh bạch truật gia giảm.
Đảng sâm, Bạch truật sao, Phục linh, Hoài sơn, Biển đậu sao, Ý dĩ nhân, Liên tử nhục, Sa nhân, Cát cánh, Cam thảo.
Nếu phân nhầy nhiều, gia Thương truật, Hậu phác.
Nếu đau bụng, gia Mộc hương, Bạch thược.
Nếu đại tiện kéo dài không dứt, gia Kha tử, Nhục đậu khấu để sáp tràng, nhưng chỉ dùng khi tà khí đã suy, không còn thấp nhiệt rõ.
Nếu trung khí hạ hãm, sa trực tràng, gia Hoàng kỳ, Thăng ma, Sài hồ.
Triệu chứng
Lỵ lâu ngày, thường tái phát khi ăn đồ sống lạnh hoặc khi thời tiết thay đổi. Phân nhầy trắng, loãng, đôi khi lẫn thức ăn chưa tiêu. Đau bụng thích ấm, sợ lạnh, tay chân lạnh, lưng gối yếu, tinh thần mệt mỏi. Lưỡi nhạt, rêu trắng; mạch Trầm Tế.
Phép trị
Ôn bổ Tỳ Thận, sáp tràng chỉ lỵ.
Phương thang
Hoàn Tứ thần hợp Hoàn Lý trung gia giảm.
Hoàn Tứ thần gồm Bổ cốt chi, Nhục đậu khấu sao, Ngô thù du, Ngũ vị tử.
Hoàn Lý trung gồm Đảng sâm hoặc Nhân sâm, Bạch truật, Can khương, Cam thảo.
Nếu dương hư rõ, có thể gia Phụ tử chế, nhưng Phụ tử có độc, phải bào chế đúng quy cách và dùng dưới sự hướng dẫn chuyên môn.
Hưu tức lỵ là tình trạng lỵ kéo dài, lúc phát lúc ngừng, khỏi chưa dứt rồi lại tái phát. Bệnh thường do dư tà chưa hết, chính khí đã hư, thấp nhiệt lưu lại trong Đại trường.
Triệu chứng
Đại tiện lúc bình thường, lúc có nhầy mủ máu; gặp mệt mỏi, ăn uống thất thường hoặc cảm lạnh thì tái phát. Kèm đau bụng âm ỉ, bụng đầy, ăn kém, sắc mặt vàng, tinh thần mệt.
Phép trị
Kiện Tỳ hóa thấp, điều khí hòa huyết, phù chính khứ tà.
Phương thang
Thang Liên lý gia giảm hoặc Tán Sâm linh bạch truật phối hợp thuốc thanh nhiệt táo thấp với lượng nhẹ.
Không nên chỉ dùng thuốc cố sáp. Nếu tà khí chưa hết mà vội cầm lỵ, thấp nhiệt và độc tà có thể bị lưu giữ trong ruột, khiến bệnh dai dẳng hơn.
Triệu chứng
Lỵ kéo dài, đau bụng cố định hoặc đau nhói, đại tiện xong vẫn đau, phân có máu sẫm hoặc cục máu, sắc mặt tối, lưỡi tím hoặc có điểm ứ huyết; mạch Huyền Sáp.
Phép trị
Hành khí hoạt huyết, hóa ứ thông lạc.
Phương thang
Có thể dùng Thang Thược dược gia Đào nhân, Hồng hoa, Đan sâm, Xích thược.
Nếu máu đỏ tươi, sốt và rêu vàng nhớt thì vẫn phải lấy thanh nhiệt giải độc làm chính, không nên chỉ hoạt huyết.
DƯỢC LIỆU THƯỜNG DÙNG
Vị khổ, tính hàn, quy vào kinh Vị và Đại trường. Công năng thanh nhiệt giải độc, lương huyết chỉ lỵ.
Thích hợp với nhiệt độc lỵ, phân mủ máu, hậu môn nóng rát, sốt, khát và đau bụng.
Vị khổ, tính hàn, quy vào kinh Tâm, Tỳ, Vị, Can, Đởm và Đại trường. Công năng thanh nhiệt táo thấp, tả hỏa giải độc.
Hoàng liên thường dùng trong thấp nhiệt lỵ, đau bụng, lý cấp hậu trọng, phân mủ máu. Người Tỳ Vị hư hàn không nên dùng kéo dài.
Vị khổ, tính hàn, công năng thanh nhiệt táo thấp, tả hỏa giải độc. Thường phối hợp với Bạch đầu ông và Hoàng liên trong nhiệt độc lỵ.
Vị khổ, sáp, tính hàn, có tác dụng thanh nhiệt táo thấp, thu sáp chỉ lỵ.
Mã xỉ hiện, tức rau sam, vị chua, tính hàn, công năng thanh nhiệt giải độc, lương huyết chỉ lỵ.
Có thể dùng trong thấp nhiệt lỵ, phân mủ máu, nhưng người Tỳ Vị hư hàn không nên dùng dài ngày.
Vị đắng, chua, tính hơi hàn, có tác dụng lương huyết chỉ huyết, giải độc liễm sang. Thích hợp khi lỵ có máu tương đối nhiều.
Vị khổ, tính hàn, công năng thanh nhiệt táo thấp. Có thể dùng khi thấp nhiệt rõ, nhưng dễ tổn thương Vị khí nếu dùng quá mức.
Tỏi vị tân, tính ôn, có tác dụng hành trệ, giải độc và hỗ trợ sát trùng.
Tỏi chỉ có giá trị hỗ trợ, không thay thế việc chẩn đoán, bù nước và điều trị đặc hiệu. Người đang đau dạ dày, nóng rát hậu môn hoặc nhiệt lỵ nặng không nên ăn quá nhiều tỏi sống.
CHÂM CỨU
Châm cứu có thể hỗ trợ giảm đau bụng, điều hòa Trường phủ và cải thiện lý cấp hậu trọng. Bệnh lỵ nhiễm độc, mất nước nặng, sốt cao hoặc xuất huyết nhiều không được chỉ dựa vào châm cứu.
Huyệt chính
Vị-25 Thiên khu: điều lý Đại trường, thanh hóa thấp trệ, chỉ lỵ.
Nhâm-6 Khí hải: điều khí, bổ hư, điều hòa hạ tiêu.
Nhâm-4 Quan nguyên: ôn bổ nguyên khí, thích hợp với lỵ lâu ngày thuộc hư hàn.
Vị-36 Túc tam lý: kiện Tỳ hòa Vị, điều lý Trường phủ.
Vị-37 Thượng cự hư: hạ hợp huyệt của Đại trường, thường dùng trong lỵ, tiêu chảy và đau bụng.
Đại trường-11 Khúc trì: thanh nhiệt, điều khí huyết.
Tỳ-9 Âm lăng tuyền: kiện Tỳ lợi thấp.
Can-3 Thái xung: sơ Can lý khí, dùng khi khí trệ, đau bụng và lý cấp hậu trọng rõ.
Phối huyệt theo thể bệnh
Thấp nhiệt lỵ
Vị-25 Thiên khu, Vị-37 Thượng cự hư, Đại trường-11 Khúc trì, Tỳ-9 Âm lăng tuyền, Tỳ-6 Tam âm giao. Dùng phép tả.
Hàn thấp lỵ
Nhâm-12 Trung quản, Nhâm-8 Thần khuyết, Vị-25 Thiên khu, Vị-36 Túc tam lý, Tỳ-9 Âm lăng tuyền. Có thể phối hợp cứu ngải.
Tỳ hư lỵ
Bàng quang-20 Tỳ du, Bàng quang-21 Vị du, Vị-36 Túc tam lý, Nhâm-6 Khí hải, Vị-25 Thiên khu. Dùng phép bổ, có thể cứu.
Tỳ Thận dương hư
Bàng quang-20 Tỳ du, Bàng quang-23 Thận du, Mạch Đốc-4 Mệnh môn, Nhâm-4 Quan nguyên, Nhâm-8 Thần khuyết. Lấy cứu làm chính.
Chú ý
Tài liệu có nhắc đến huyệt “Chỉ lỵ” là điểm phản ứng đau ở vùng hố chậu. Đây không phải huyệt kinh điển có vị trí hoàn toàn cố định, cần do người có chuyên môn xác định.
Không châm mạnh vùng bụng khi chưa loại trừ thủng ruột, viêm phúc mạc, tắc ruột hoặc bệnh ngoại khoa cấp.
ĐIỀU DƯỠNG VÀ PHÒNG BỆNH
Giai đoạn cấp nên dùng thức ăn mềm, ấm, dễ tiêu, lượng nhỏ. Có thể dùng cháo loãng, canh gạo hoặc thức ăn bán lỏng.
Tránh thức ăn sống lạnh, nhiều dầu mỡ, cay nóng, rượu, thực phẩm ôi thiu và món khó tiêu.
Khi bệnh giảm, tăng dần lượng thức ăn, không nên ăn quá nhiều ngay.
Đại tiện nhiều lần dễ làm hao tân dịch. Cần bổ sung nước và dung dịch bù nước thích hợp.
Khát nhiều, môi khô, mắt trũng, tiểu ít, mệt lả hoặc tay chân lạnh là dấu hiệu không nên chỉ uống thuốc Trung y tại nhà.
Lỵ do vi khuẩn lây theo đường phân – miệng. Cần rửa tay trước khi ăn và sau khi đi vệ sinh, ăn chín uống sôi, giữ sạch nguồn nước và dụng cụ ăn uống.
Phân và vật dụng nhiễm bẩn của người bệnh cần được xử lý riêng, tránh làm lây sang người khác.
Giai đoạn cấp cần nghỉ ngơi, tránh lao lực. Lỵ kéo dài cần điều hòa ăn uống, ngủ nghỉ và phục hồi chức năng Tỳ Vị.
Khi lỵ mới phát, thấp nhiệt và độc tà còn thịnh, không nên tùy tiện dùng Kha tử, Nhục đậu khấu, Ngũ vị tử hoặc các thuốc cố sáp mạnh. Cố sáp quá sớm có thể giữ tà lại trong ruột.
Chỉ khi bệnh đã kéo dài, tà khí suy, phân nhầy kéo dài do Tỳ hư hoặc Tỳ Thận dương hư mới cân nhắc phép sáp tràng.
DẤU HIỆU CẦN ĐI BỆNH VIỆN NGAY
Sốt cao, co giật, li bì hoặc hôn mê.
Tay chân lạnh, da tím, mạch yếu, khó thở.
Đau bụng dữ dội, bụng cứng hoặc chướng tăng.
Đại tiện ra nhiều máu hoặc phân đen.
Nôn liên tục, không uống được.
Khát dữ dội, mắt trũng, tiểu rất ít hoặc không tiểu.
Trẻ nhỏ, người cao tuổi, phụ nữ có thai hoặc người suy nhược mắc bệnh.
Lỵ kéo dài, tái phát nhiều lần hoặc sụt cân, thiếu máu.
Nói tóm lại
Lỵ thuộc bệnh của Đại trường nhưng căn nguyên mật thiết với Tỳ Vị. Lỵ mới phát phần nhiều do thấp nhiệt, dịch độc và thực tích; lỵ lâu ngày thường liên quan Tỳ hư, Thận hư, khí trệ và huyết ứ.
Điều trị cần phân rõ thấp hay nhiệt, hàn hay nhiệt, hư hay thực. Thấp nhiệt cần thanh nhiệt hóa thấp; nhiệt độc cần thanh nhiệt giải độc, lương huyết; tích trệ cần điều khí đạo trệ; Tỳ hư cần kiện Tỳ ích khí; Tỳ Thận dương hư cần ôn bổ và cố sáp.
Đối với lỵ do vi khuẩn, Trung y có thể phối hợp để điều chỉnh triệu chứng và phục hồi chính khí, nhưng không thay thế việc cách ly, bù nước, xét nghiệm và điều trị nhiễm khuẩn cần thiết, nhất là trong lỵ nhiễm độc và các trường hợp nặng.
Trường Xuân biên soạn