Khái quát
Lỵ amíp là bệnh đường ruột do amíp tan mô gây nên, biểu hiện thường gặp là đau bụng, đại tiện nhiều lần, phân lẫn chất nhầy và máu, có thể kéo dài dai dẳng hoặc tái phát nhiều lần.
Trong Trung y, bệnh có thể quy vào phạm vi “lỵ tật” 痢疾. Đặc điểm căn bản là đại tiện nhiều lần, phân lẫn nhầy máu, bụng đau, có thể mót rặn. Tùy theo tính chất tà khí, thể trạng và thời gian mắc bệnh, lỵ amíp có thể biểu hiện dưới các thể thấp nhiệt lỵ, nhiệt độc lỵ, hưu tức lỵ hoặc lỵ lâu ngày làm tổn thương Tỳ Vị và chính khí.
Lỵ amíp có thể gây xuất huyết ruột, thủng ruột, áp-xe gan và nhiều biến chứng nguy hiểm. Vì vậy, chẩn đoán phải căn cứ xét nghiệm phân, nội soi hoặc các phương pháp chuyên môn. Điều trị Trung y chỉ nên thực hiện sau khi đã xác định bệnh và dưới sự theo dõi của người có chuyên môn.
Nguyên nhân và bệnh cơ
Ngoại cảm thấp nhiệt, dịch độc
Mùa hè và mùa thu khí hậu nóng ẩm, thấp nhiệt và uế trọc dễ xâm phạm đường ruột. Nếu ăn uống không sạch, dùng nguồn nước ô nhiễm hoặc thực phẩm hư hỏng, thấp nhiệt và dịch độc có thể từ miệng đi vào, kết tụ ở Đại trường, làm khí huyết ngưng trệ, truyền đạo thất thường mà phát thành lỵ.
Ăn uống không điều độ
Ăn quá nhiều thức ăn sống lạnh, dầu mỡ, cay nóng hoặc thực phẩm không sạch làm tổn thương Tỳ Vị. Tỳ mất kiện vận, thấp trọc sinh ra; thấp uất lâu ngày hóa nhiệt, thấp nhiệt cùng kết ở Trường phủ, gây đau bụng, phân nhầy máu và mót rặn.
Tỳ Vị hư yếu
Người vốn Tỳ khí hư, vận hóa kém hoặc mắc bệnh lâu ngày, thấp tà dễ lưu lại trong đường ruột. Tà khí chưa hết mà chính khí đã suy làm bệnh tái phát nhiều lần, lúc tiêu chảy, lúc táo bón, bụng đau âm ỉ, ăn uống kém và người mệt mỏi.
Thấp nhiệt tổn thương khí huyết
Thấp nhiệt và độc tà uẩn kết trong Đại trường có thể làm tổn thương huyết lạc. Huyết bị nhiệt bức mà đi xuống, hòa với dịch nhầy và mô tổn thương, tạo thành phân đỏ sẫm, lẫn máu, có mùi tanh hôi.
Bệnh kéo dài làm hao thương khí huyết, khiến người bệnh gầy sút, sắc mặt nhợt, mệt mỏi và ăn uống kém.
Biện chứng luận trị
Thấp nhiệt lỵ
Biểu hiện
Đau bụng, đại tiện nhiều lần, phân lẫn nhầy và máu, màu đỏ sẫm hoặc giống mứt quả, mùi tanh hôi, mót rặn, hậu môn nóng rát, miệng khát nhưng không muốn uống nhiều, bụng đầy tức, lưỡi đỏ, rêu vàng nhớt, mạch hoạt sác hoặc nhu sác.
Bệnh cơ
Thấp nhiệt và uế trọc kết lại ở Đại trường, làm khí cơ trở trệ, huyết lạc tổn thương, chức năng truyền đạo mất điều hòa.
Phép trị
Thanh nhiệt hóa thấp, giải độc, điều khí, chỉ lỵ.
Phương thang
Bạch Đầu Ông Thang gia giảm.
Bạch đầu ông, Hoàng liên, Hoàng bá, Tần bì.
Gia giảm
Đau bụng và mót rặn rõ có thể gia Mộc hương, Binh lang.
Phân nhiều nhầy có thể gia Hoạt thạch, Ý dĩ.
Máu trong phân rõ có thể gia Địa du, Hòe hoa, Bạch thược.
Nóng rát hậu môn có thể gia Kim ngân hoa, Mã xỉ hiện.
Tỳ Vị hư yếu nhưng thấp nhiệt chưa hết có thể giảm thuốc quá đắng lạnh, phối hợp Bạch truật, Phục linh.
Nhiệt độc lỵ
Biểu hiện
Bệnh khởi phát nhanh, sốt cao, đau bụng dữ dội, đại tiện nhiều lần, phân như nước máu hoặc lẫn nhiều máu, mùi hôi nặng, mót rặn rõ, miệng khát, bứt rứt, có thể lơ mơ, lưỡi đỏ sẫm, rêu vàng khô hoặc vàng nhớt, mạch sác hữu lực.
Bệnh cơ
Nhiệt độc thịnh ở Đại trường, hun đốt khí huyết, làm huyết lạc tổn thương nghiêm trọng.
Phép trị
Thanh nhiệt giải độc, lương huyết chỉ lỵ.
Phương thang
Bạch Đầu Ông Thang hợp Thược Dược Thang gia giảm.
Bạch đầu ông, Hoàng liên, Hoàng bá, Tần bì, Bạch thược, Đương quy, Mộc hương, Binh lang, Hoàng cầm.
Chú ý
Thể này có thể tương ứng với lỵ amíp tối cấp, xuất huyết ruột hoặc bội nhiễm nặng. Nếu người bệnh sốt cao, đau bụng dữ dội, bụng chướng, phân toàn máu, nôn, mất nước, huyết áp hạ hoặc rối loạn ý thức, phải cấp cứu ngay. Không nên chỉ dùng thuốc thanh nhiệt tại nhà.
Hàn thấp lỵ
Biểu hiện
Đại tiện phân lỏng lẫn chất nhầy, màu nhạt, máu ít hoặc đỏ tối, bụng đau âm ỉ, gặp lạnh đau tăng, thích chườm ấm, miệng nhạt, không khát, tay chân lạnh, ăn uống kém, lưỡi nhạt, rêu trắng nhớt, mạch trầm hoãn.
Bệnh cơ
Hàn thấp làm trở ngại Trung tiêu và Đại trường, Tỳ dương không vận hóa, khí cơ không thông lợi.
Phép trị
Ôn trung tán hàn, hóa thấp, điều khí chỉ lỵ.
Phương thang
Vị Linh Thang hoặc Lý Trung Thang gia giảm.
Đảng sâm, Bạch truật, Can khương, Chích cam thảo, Phục linh, Thương truật, Trần bì, Mộc hương.
Gia giảm
Đau bụng rõ có thể gia Sa nhân, Bạch thược.
Phân lẫn nhầy nhiều có thể gia Ý dĩ, Biển đậu.
Bệnh còn dấu hiệu thấp nhiệt như hậu môn nóng, rêu vàng nhớt thì không nên dùng thuốc ôn nhiệt quá mức.
Hưu tức lỵ
“Hưu tức” có nghĩa là lúc phát, lúc ngừng. Đây là thể bệnh kéo dài dai dẳng, thường tái phát khi ăn uống không phù hợp, mệt nhọc, nhiễm lạnh hoặc chính khí suy yếu.
Biểu hiện
Tiêu chảy và táo bón xen kẽ, phân lẫn ít nhầy hoặc máu, bụng đau âm ỉ, ăn uống kém, người mệt, sắc mặt kém tươi, bệnh kéo dài nhiều tháng hoặc nhiều năm, lưỡi nhạt hoặc hơi đỏ, rêu mỏng nhớt, mạch nhu nhược.
Bệnh cơ
Tà khí lưu luyến trong Đại trường, Tỳ khí suy yếu, vận hóa không mạnh. Chính hư tà luyến khiến bệnh khi lui khi phát, khó dứt hẳn.
Phép trị
Ôn trung kiện Tỳ, điều hòa khí huyết, thanh trừ dư tà.
Phương thang
Liên Lý Thang gia giảm.
Nhân sâm hoặc Đảng sâm, Bạch truật, Can khương, Chích cam thảo, Hoàng liên.
Gia giảm
Đau bụng âm ỉ có thể gia Bạch thược, Mộc hương.
Ăn uống kém có thể gia Sa nhân, Kê nội kim.
Phân còn lẫn máu có thể gia Địa du thán, Hòe hoa thán.
Khí hư rõ, đại tiện nhiều lần có thể gia Hoàng kỳ, Sơn dược.
Tỳ hư thấp trệ
Biểu hiện
Bệnh kéo dài, phân nhão hoặc lỏng, đôi khi lẫn ít chất nhầy, bụng đầy sau ăn, ăn ít, người mệt, tay chân nặng, sắc mặt vàng nhạt, lưỡi nhạt to, có dấu răng, rêu trắng nhớt, mạch nhu nhược.
Bệnh cơ
Bệnh lâu ngày làm Tỳ khí suy yếu, thấp tà không hóa, chức năng vận chuyển thủy cốc và truyền đạo của Đại trường mất điều hòa.
Phép trị
Kiện Tỳ ích khí, hóa thấp, chỉ tả.
Phương thang
Sâm Linh Bạch Truật Tán gia giảm.
Đảng sâm, Bạch truật, Phục linh, Sơn dược, Bạch biển đậu, Ý dĩ, Liên nhục, Sa nhân, Cát cánh, Cam thảo.
Nếu còn phân lẫn nhầy máu, có thể phối hợp Bạch đầu ông hoặc Tần bì với lượng vừa, không nên chỉ bổ mà lưu tà.
Khí huyết lưỡng hư
Biểu hiện
Bệnh kéo dài, đại tiện bất thường, người gầy sút, sắc mặt nhợt, chóng mặt, hồi hộp, mệt mỏi, ăn uống kém, môi lưỡi nhạt, mạch tế nhược.
Bệnh cơ
Lỵ kéo dài làm hao tổn Tỳ khí, huyết theo phân đi ra, nguồn sinh hóa khí huyết suy giảm.
Phép trị
Kiện Tỳ ích khí, dưỡng huyết, điều hòa Trường phủ.
Phương thang
Quy Tỳ Thang hoặc Bát Trân Thang gia giảm, căn cứ tình trạng cụ thể.
Cần tránh dùng thuốc bổ ngọt, nê trệ quá sớm khi phân còn nhiều nhầy máu, rêu lưỡi còn dày nhớt hoặc thấp nhiệt chưa hết.
Áp-xe gan do amíp trong Trung y
Áp-xe gan do amíp có thể được xem xét trong phạm vi “Can ung” 肝癰 hoặc “Hiếp thống” 脅痛, thường do thấp nhiệt, nhiệt độc từ đường ruột theo mạch lạc truyền vào Can, làm khí huyết ngưng trệ, nhiệt độc kết tụ thành ung.
Biểu hiện thường gặp
Sốt kéo dài, đau vùng hạ sườn phải, đau tăng khi hít sâu hoặc vận động, gan to và ấn đau, miệng đắng, chán ăn, người mệt, lưỡi đỏ, rêu vàng nhớt, mạch huyền sác.
Phép trị
Thanh nhiệt giải độc, hóa thấp, sơ Can, tiêu ung.
Có thể tham khảo Sài Hồ Thanh Can Thang, Đại Sài Hồ Thang hoặc Tiên Phương Hoạt Mệnh Ẩm gia giảm tùy chứng.
Chú ý
Áp-xe gan do amíp là bệnh có thể gây vỡ vào phổi, màng phổi, màng ngoài tim hoặc ổ bụng. Người bệnh phải được siêu âm, chụp CT và điều trị chuyên khoa. Trung y chỉ dùng phối hợp, không thay thế thuốc diệt amíp hoặc thủ thuật dẫn lưu khi có chỉ định.
Một số vị thuốc thường được đề cập
Bạch đầu ông
Vị đắng, tính hàn, quy kinh Đại trường. Có công năng thanh nhiệt giải độc, lương huyết chỉ lỵ, thường dùng trong nhiệt độc huyết lỵ, phân lẫn máu và chất nhầy, hậu môn nóng rát.
Bạch đầu ông thường phối hợp Hoàng liên, Hoàng bá và Tần bì trong Bạch Đầu Ông Thang. Người Tỳ Vị hư hàn, tiêu chảy không có dấu hiệu nhiệt không nên dùng kéo dài.
Nha đảm tử
Vị đắng, tính hàn, có tác dụng thanh nhiệt giải độc, trị lỵ và sát trùng. Tài liệu cũ từng dùng Nha đảm tử trong lỵ amíp.
Tuy nhiên, Nha đảm tử có thể gây kích ứng mạnh đường tiêu hóa và tổn thương gan, thận. Không được tự dùng, không dùng liều lớn hoặc kéo dài, đặc biệt ở người có bệnh gan, thận, xuất huyết tiêu hóa, phụ nữ mang thai và người thể trạng suy yếu.
Đại toán
Đại toán là tỏi, vị cay, tính ấm, quy kinh Tỳ, Vị và Phế, có tác dụng giải độc, sát trùng và tiêu tích.
Tỏi có thể được dùng làm thực phẩm hỗ trợ với lượng vừa. Không nên dùng nước tỏi đậm đặc, thụt giữ bằng tỏi hoặc ăn quá nhiều khi niêm mạc ruột đang viêm loét, vì có thể gây kích ứng, đau bụng và làm tổn thương đường tiêu hóa nặng hơn.
Mã xỉ hiện
Vị chua, tính hàn, có tác dụng thanh nhiệt giải độc, lương huyết chỉ lỵ. Có thể dùng trong thấp nhiệt lỵ, phân lẫn nhầy máu, hậu môn nóng rát.
Người Tỳ Vị hư hàn, dễ đau bụng tiêu chảy do lạnh cần thận trọng.
Địa du
Vị đắng chua, tính hơi hàn, quy kinh Can, Đại trường. Có tác dụng lương huyết chỉ huyết, giải độc liễm sang, thích hợp khi lỵ kèm đại tiện ra máu.
Chăm sóc và ăn uống
Trong giai đoạn cấp, thức ăn nên mềm, ấm, dễ tiêu, ít dầu mỡ và không quá nhiều chất xơ thô. Có thể dùng cháo gạo tẻ, cháo Sơn dược, nước cơm hoặc canh loãng căn cứ khả năng dung nạp.
Cần uống đủ nước và dung dịch điện giải khi có tiêu chảy. Không nên chỉ uống nước lọc nếu tiêu chảy nhiều vì có thể không bù đủ muối khoáng.
Tránh thức ăn sống, lạnh, ôi thiu, nhiều dầu mỡ, rượu bia, thực phẩm cay nóng và sữa chưa tiệt trùng.
Rửa tay trước khi ăn và sau khi đi vệ sinh; dùng nước sạch; rửa kỹ rau quả; không dùng chung dụng cụ ăn uống; xử lý phân và chất thải đúng vệ sinh để hạn chế lây nhiễm.
Chú ý
Phân lẫn máu không phải lúc nào cũng là lỵ amíp. Bệnh cần được phân biệt với lỵ trực khuẩn, viêm đại tràng loét, bệnh Crohn, lao ruột, polyp hoặc ung thư đại trực tràng.
Không tự dùng thuốc cầm tiêu chảy khi đang sốt cao, đau bụng dữ dội hoặc đại tiện ra máu vì có thể làm chậm thải mầm bệnh và che lấp tình trạng nguy hiểm.
Không tự dùng Nha đảm tử, thuốc thụt giữ, các vị quá đắng lạnh hoặc thuốc có độc tính.
Cần đến cơ sở y tế ngay nếu có sốt cao, đau bụng tăng, bụng cứng hoặc chướng, đại tiện nhiều máu, nôn liên tục, khát nhiều, tiểu ít, chóng mặt, tụt huyết áp, đau hạ sườn phải hoặc khó thở.
Kết luận
Theo Trung y, lỵ amíp thuộc phạm vi lỵ tật, chủ yếu do thấp nhiệt, uế trọc và dịch độc xâm phạm Đại trường, làm khí huyết ngưng trệ và chức năng truyền đạo rối loạn. Bệnh mới phát thường lấy thanh nhiệt hóa thấp, giải độc, điều khí, lương huyết chỉ lỵ làm trọng điểm. Bệnh kéo dài cần xem xét chính hư tà luyến, Tỳ khí suy yếu hoặc khí huyết hao tổn để phối hợp kiện Tỳ, ích khí và dưỡng huyết.
Nói tóm lại, điều trị phải phân biệt rõ tà chính, hàn nhiệt, hư thực và mức độ tổn thương khí huyết. Đồng thời, lỵ amíp là bệnh nhiễm ký sinh trùng cần được xác định bằng xét nghiệm và điều trị căn nguyên đầy đủ. Trung y có thể hỗ trợ điều hòa Tỳ Vị, giảm triệu chứng và phục hồi thể trạng, nhưng không thay thế thuốc diệt amíp và xử trí các biến chứng.
Trường Xuân biên soạn