CÁC BỆNH VỀ LƯỠI.
Tài liệu tham khảo:
Lưỡi là một bộ phận đặc biệt của cơ thể; những thay đổi về chất lưỡi và lớp phủ trên lưỡi (rêu lưỡi) thường phản ánh sự thay đổi chức năng của các nội tạng, vì vậy trong chẩn đoán bệnh của y học cổ truyền, lưỡi chiếm vị trí vô cùng quan trọng. Trên thực tế, chính lưỡi cũng có thể mắc nhiều loại bệnh khác nhau, phổ biến như: trầy, bỏng, loét, ung thư vùng lưỡi… Cũng có một số bệnh lưỡi đặc thù do khiếm khuyết phát triển hoặc một số nguyên nhân đặc biệt gây ra, do đó các bác sĩ lâm sàng cần chú ý phân biệt.
- Lưỡi bóng “Quang diện thiệt” (光面舌)
Còn được gọi là teo các mụn lưỡi; do teo các lông sợi (丝状乳头) làm cho bề mặt lưỡi có màu đỏ và bóng mịn, tương tự như “lưỡi gương” (Kính diện thiệt)mà y học cổ truyền hay nói đến.
- Lưỡi có nếp gấp “Trứu bích thiệt” (皱襞舌)
Còn được gọi là “âm nang thiệt hay lưỡi bìu” hoặc “lưỡi rãnh”, biểu hiện là phía mặt trên của lưỡi có nhiều rãnh (các rãnh dạng tia hoặc không đều), làm cho bề mặt lưỡi giống như các nếp gấp của bìu, do đó được đặt tên như vậy. Bệnh này thường thuộc khiếm khuyết bẩm sinh, phổ biến ở trẻ sơ sinh và có liên quan đến di truyền. Tuy nhiên, ở bệnh nhân thiếu vitamin nhóm B hoặc có phù nhầy cũng có thể xuất hiện hình thái lưỡi có nếp gấp điển hình. Trường hợp do thiếu vitamin thì không cần điều trị, còn với phù nhầy thì phải điều trị theo nguyên nhân.
- Lưỡi bản đồ
Phổ biến hơn ở trẻ em nam, là bệnh viêm lưỡi lành tính có nguyên nhân không rõ. Biểu hiện là một phần các mụn lưỡi bị giảm đi tạo thành hình dạng không đều hoặc giống bản đồ, màu đỏ, ranh giới rõ. Thông thường bệnh không gây cảm giác khó chịu và bệnh nhân thường không hay nhận ra. Tiến triển có thể kéo dài từ vài tháng đến vài năm, đa số tự cải thiện theo thời gian và không để lại hậu quả xấu nên không cần điều trị.
- Lưỡi lông đen “Hắc mao thiệt”
Do tăng sinh và quá sừng hóa của các mụn lưỡi sợi, cộng với tác dụng của vi khuẩn hoặc nấm tạo sắc tố, dẫn đến sự tăng sắc tố cục bộ, làm cho bề mặt lưỡi có màu đen hoặc nâu xám; thường không có triệu chứng. Bệnh này phổ biến ở người trung niên, nguyên nhân không rõ; có trường hợp liên quan đến dùng thuốc (như một số kháng sinh hoặc thuốc điều trị loét) hoặc hút thuốc. Thông thường không cần điều trị.
- Lưỡi cứng lại
Còn được gọi là “Kết thiệt chứng” (结舌症), chủ yếu do dây chằng lưỡi (舌系带) quá ngắn làm hạn chế phạm vi vận động của lưỡi và ảnh hưởng đến việc nói; là khiếm khuyết bẩm sinh. Nếu gây ảnh hưởng rõ rệt đến chức năng của lưỡi, có thể cân nhắc can thiệp phẫu thuật.
- Lưỡi to
Nói về việc thể tích lưỡi tăng lên. Bệnh có thể do nhiều nguyên nhân gây ra. Ở những trường hợp do bất thường bẩm sinh thì không cần điều trị; những trường hợp do mạch máu (như máu u, bạch huyết u), u sợi thần kinh… có thể điều trị bằng phẫu thuật; những trường hợp xuất hiện ở bệnh nhân suy giáp hoặc do xơ vữa amyloid thì cần điều trị căn bệnh gốc.
- Hội chứng đau lưỡi
Cùng nhóm với hội chứng “lưỡi rát” hay “lưỡi nóng”, là hiện tượng cảm giác bất thường chủ quan ở lưỡi. Phổ biến ở phụ nữ trung niên hoặc người cao tuổi, có thể chỉ đau ở vùng cụ thể, hoặc cảm giác rát, hoặc cảm giác nóng ở chỗ, với tính chất và cường độ khác nhau, trong đó vùng đầu lưỡi thường nhạy cảm nhất. Mệt mỏi, uống rượu hoặc ăn thực phẩm có tính kích thích đều có thể làm tăng cảm giác khó chịu; khi khám miệng không phát hiện bất kỳ dấu hiệu bất thường nào. Bệnh này thường liên quan đến yếu tố tinh thần, cũng có thể đi kèm với các bệnh toàn thân như thiếu máu ác tính, thiếu niacin… Một mặt cần tiến hành các kiểm tra cần thiết để phát hiện và điều trị bệnh toàn thân kịp thời; đồng thời cần giải thích để xua tan lo lắng của bệnh nhân, giữ tinh thần thoải mái. Khi cần, có thể dùng thuốc đông y.
Các loại viêm lưỡi (舌炎) và cách phòng, điều trị
Các dạng viêm lưỡi như lưỡi bản đồ, lưỡi có rãnh, lưỡi hình tam giác trung tâm, viêm mụn lưỡi, viêm mụn lưỡi teo đều có thể có các biến đổi bệnh lý như tắc nghẽn mạch máu, tăng bạch cầu hồng cầu lympho, tế bào huyết thanh xâm nhập,… tất cả đều có thể được phân vào nhóm viêm lưỡi.
- Lưỡi bản đồ: Các mụn lưỡi bị tách lớp thành miếng, tạo hình dạng giống bản đồ. Thông thường bệnh nhân không có cảm giác tự nhận ra, không cần điều trị đặc hiệu; nếu có cơn đau kích thích thì điều trị triệu chứng phù hợp.
- Lưỡi có rãnh (hay lưỡi nứt): Thường cũng không cần điều trị, chỉ cần chú ý giữ vệ sinh miệng. Với những trường hợp có đau, trước tiên làm sạch các rãnh sau đó điều trị triệu chứng tương ứng.
- Lưỡi có lông: Là dạng viêm mạn tính không đặc hiệu. Do lớp sừng trên các mụn lưỡi sợi không bong tróc kịp thời dẫn đến sự tăng sinh tạo thành dạng như lông. Thường do thay đổi môi trường miệng từ thức ăn, thuốc, kháng sinh lâu dài, hút thuốc… Bệnh thường xuất hiện ở 2/3 phía sau hoặc trung tâm của lưỡi; có thể được nhuộm màu thành lưỡi đỏ “lông” hay lưỡi đen, với phần trung tâm của lưỡi đen hơn so với vùng ngoại vi. Bệnh nhân thường không có triệu chứng rõ rệt, chức năng lưỡi bình thường, và các mụn lưỡi có thể tự bong tróc sau vài tuần. Không có phương pháp điều trị đặc hiệu; cần cố gắng tìm nguyên nhân, điều trị theo triệu chứng, chú ý vệ sinh miệng, từ bỏ hút thuốc, hoặc bôi thuốc chống nấm tại chỗ.
- Viêm lưỡi dạng tam giác trung tâm: Xuất hiện tại vùng trước của lỗ mù lưỡi, trên đường trung gian của lưỡi, biểu hiện là các tổn thương không có mụn lưỡi, có hình dạng như tam giác, tròn hoặc bầu dục, đường viền rõ ràng, có đường nét mờ đỏ so với mô xung quanh; đôi khi có dạng sần lại, khi sờ thấy hơi cứng nhưng đáy mềm. Không cần điều trị, có thể dùng nước súc chứa chlorhexidine.
- Viêm mụn lưỡi: Các mụn lưỡi có các loại: mụn lưỡi sợi, mụn lưỡi nấm, mụn lưỡi có viền, mụn lưỡi lá.
- Viêm mụn lưỡi sợi chính là viêm lưỡi teo.
- Viêm mụn lưỡi nấm: Xảy ra ở vùng phía trước hoặc đầu lưỡi, khi bị viêm, các mụn lưỡi nấm trở nên đầy máu, sưng đỏ; khi sưng to các mụn có thể gây cảm giác rát, nhất là khi ăn thức ăn quá nóng hoặc cay, nguyên nhân không rõ, có liên quan đến thiếu vitamin nhóm B, thiếu máu và bị kích thích bởi các dung dịch súc miệng, thức ăn, tác động vật lý hóa học…
- Viêm mụn lưỡi có viền: Hiếm gặp, mụn lưỡi phì đại, sưng đỏ, gây cảm giác không thoải mái cục bộ.
- Viêm mụn lưỡi lá: Ở con người các mụn lá trên lưỡi đã bị thoái hóa, nằm ở hai bên rìa lưỡi gần họng; khi bị viêm do nhiễm trùng ở vùng họng hoặc do kích thích từ răng sắc, các mụn lá này trở nên sưng đỏ, các nếp gấp của chúng tăng sâu, gây đau khi chuyển động lưỡi, có thể cảm thấy kích thích hoặc rát. Cần chú ý phân biệt với các khối u ác tính xuất hiện ở vùng này. Việc điều trị viêm mụn lưỡi lá cần loại bỏ kích thích địa phương, có thể dùng dung dịch tiêm tán chứa prednisone (强的松龙) hỗ trợ.
- Viêm lưỡi teo: Còn gọi là lưỡi bóng, là dạng viêm mạn tính của các mụn lưỡi sợi. Trong trường hợp thiếu vitamin nhóm B, thiếu máu, nhiễm nấm hoặc các bệnh toàn thân khác, các mụn lưỡi sợi bị teo, làm cho bề mặt lưỡi trở nên bóng, đỏ; trong những trường hợp nặng, các mụn lưỡi nấm cũng bị teo, dẫn đến bề mặt lưỡi mất lớp phủ, có cảm giác rát, nóng, nhạy cảm với kích thích, thường bị tổn thương gây ra những vùng loét nhỏ.
Các bệnh như viêm lưỡi dạng tam giác trung tâm và viêm mụn lưỡi có viền thường khiến bệnh nhân nghi ngờ là ung thư, cần chú ý phân biệt; nếu cần, có thể tiến hành sinh thiết để chẩn đoán.
Các yếu tố có thể gây đau lưỡi
Ngoài các bệnh viêm lưỡi như lưỡi bản đồ, lưỡi có rãnh, viêm mụn lưỡi, hay các bệnh như đau do dây thần kinh sinh ba… thì trong lâm sàng có những trường hợp bệnh nhân than rằng lưỡi đau mà không tìm ra dấu hiệu lâm sàng nào, mô bệnh học không có đặc trưng, độ mềm dẻo và phạm vi vận động của lưỡi bình thường; hiện tượng này gọi là hội chứng đau lưỡi. Hội chứng này thường biến mất tạm thời khi bệnh nhân tập trung làm việc, với cảm giác đau như bỏng, đau âm ỉ, hay đau như bị chích kim, nhưng không ảnh hưởng đến việc nói hay ăn uống. Nếu ngoài đau lưỡi mà cả các vùng niêm mạc miệng khác cũng có cảm giác đau bỏng, thì gọi là hội chứng rát miệng.
Có nhiều yếu tố có thể gây ra hội chứng đau lưỡi, chẳng hạn như tình trạng toàn thân không ổn định (rối loạn nội tiết, chuyển hóa, thiếu vitamin nhóm B, đặc biệt ở phụ nữ mãn kinh thường than có cơn đau lưỡi không đều kèm các triệu chứng không rõ ràng ở các vùng khác trên cơ thể). Khi bệnh nhân lo ngại rằng họ có “khối u” ở họng, hoặc khi họ thấy các mụn lá hoặc mụn có viền trên lưỡi sưng đỏ to, gây ra nỗi sợ, họ có thể liên tục quan sát, thè lưỡi, làm cho cơ bắp gốc lưỡi bị mệt mỏi, từ đó làm tăng cảm giác khó chịu ở lưỡi. Ngoài ra, các kích thích địa phương như răng sắc, hoặc các bộ phận phục hình bằng kim loại khác nhau trong khoang miệng khi tiếp xúc khi cắn nhau cũng có thể gây ra đau nhẹ ở lưỡi.
Trong điều trị, trước hết cần kiểm tra kỹ lưỡi và toàn bộ khoang miệng để loại trừ các bệnh lý khác gây đau lưỡi. Nếu không phát hiện dấu hiệu dương tính, nên giải thích cho bệnh nhân nghe, xua tan nỗi sợ hãi và theo dõi định kỳ để bệnh nhân yên tâm, từ đó cơn đau lưỡi sẽ giảm dần. Khi cần thiết, có thể dùng Guwei Su (谷维素) 10mg, uống 3 lần/ngày; hoặc dùng dung dịch Procain 0,5%–1% để bôi tê tại chỗ; đối với phụ nữ có triệu chứng mãn kinh đi kèm, dùng estrogen có thể đạt hiệu quả tốt.
Trường Xuân dịch