Tổng quan
Bệnh giun móc là bệnh ký sinh trùng đường ruột do các loài giun móc ở người gây ra. Giun trưởng thành sống bám vào niêm mạc ruột non, hút máu và làm tổn thương tại vị trí ký sinh. Khi số lượng giun nhiều hoặc bệnh kéo dài, người bệnh có thể mất máu mạn tính, thiếu sắt, suy dinh dưỡng và suy giảm khả năng lao động.
Bệnh thường gặp ở vùng khí hậu nóng ẩm, nơi vệ sinh môi trường chưa tốt, còn tình trạng đi đại tiện ngoài trời hoặc sử dụng phân chưa xử lý. Người đi chân đất, làm nông nghiệp, tiếp xúc thường xuyên với đất ẩm nhiễm phân và trẻ em chơi đất có nguy cơ cao hơn.
Biểu hiện quan trọng nhất của bệnh là thiếu máu thiếu sắt. Người bệnh có thể da xanh, niêm mạc nhợt, mệt mỏi, chóng mặt, hồi hộp, khó thở khi gắng sức, ăn kém và giảm khả năng tập trung. Trẻ mắc bệnh kéo dài có thể chậm tăng cân, chậm phát triển và học tập giảm sút.
Trong Trung y, bệnh thường thuộc phạm vi Trùng tích (虫积), Hoàng bạng (黄胖), Huyết hư (血虚), Cam tích (疳积), Phúc thống (腹痛) và Dị thực (异食). Bệnh cơ thường được nhận thức là trùng tà ký sinh ở Trường phủ, làm tổn thương Tỳ Vị và hao tổn khí huyết; bệnh kéo dài có thể dẫn đến Tỳ khí hư, khí huyết lưỡng hư, thủy thấp đình tụ và phù thũng.
Chú ý
Người da xanh, mệt nhiều, hồi hộp, khó thở, phù chân, ngất hoặc có biểu hiện suy tim cần được khám ngay.
Không tự dùng các vị thuốc có độc tính như khổ luyện bì, thổ kinh giới, quán chúng hoặc trân sa.
Không ngâm vùng da bị ngứa trong nước nóng 50°C vì có thể gây bỏng.
Không tự truyền máu hoặc tự uống sắt kéo dài khi chưa xác định nguyên nhân thiếu máu.
TÁC NHÂN GÂY BỆNH
Các loài giun móc ở người thường ký sinh ở ruột non. Giun trưởng thành có cấu tạo phần miệng thích hợp để bám vào niêm mạc ruột và hút máu.
Giun cái đẻ nhiều trứng mỗi ngày. Trứng theo phân ra ngoài môi trường, sau đó phát triển trong đất ẩm, ấm và có bóng râm.
Khi gặp điều kiện thích hợp, trứng nở thành ấu trùng. Ấu trùng phát triển qua nhiều giai đoạn rồi trở thành dạng có khả năng gây nhiễm.
ĐƯỜNG LÂY TRUYỀN
Xâm nhập qua da
Đây là đường lây quan trọng. Ấu trùng trong đất có thể xuyên qua da, nhất là ở bàn chân khi người bệnh:
Đi chân đất.
Làm ruộng.
Ngồi hoặc nằm trực tiếp trên đất ẩm.
Tiếp xúc đất nhiễm phân người.
Sau khi xuyên qua da, ấu trùng đi theo máu đến tim và phổi, xuyên vào phế nang, đi lên khí quản, được nuốt xuống thực quản rồi tới ruột non để trưởng thành.
Qua đường tiêu hóa
Một số loài giun móc có thể lây khi người bệnh nuốt phải ấu trùng qua thực phẩm, nước hoặc tay bị nhiễm đất.
Không nên nói chung rằng ăn trứng giun móc là đường lây chính, vì trứng mới theo phân ra ngoài chưa phải dạng gây nhiễm trực tiếp.
CHU KỲ PHÁT TRIỂN
Trứng giun theo phân ra ngoài.
Trứng phát triển trong đất ẩm.
Ấu trùng nở và trưởng thành thành dạng gây nhiễm.
Ấu trùng xuyên qua da hoặc đi vào cơ thể qua đường tiêu hóa.
Ấu trùng theo máu đến phổi.
Ấu trùng đi lên khí quản rồi được nuốt xuống.
Giun trưởng thành sống ở ruột non.
Giun tiếp tục đẻ trứng và duy trì chu kỳ.
CƠ CHẾ GÂY THIẾU MÁU
Giun móc bám vào niêm mạc ruột và hút máu.
Tại vị trí bám, niêm mạc bị tổn thương và chảy máu.
Giun tiết ra chất làm giảm đông máu, vì vậy vị trí tổn thương có thể tiếp tục rỉ máu sau khi giun đã di chuyển sang nơi khác.
Nếu người bệnh nhiễm nhiều giun hoặc chế độ ăn thiếu sắt, lượng máu mất kéo dài có thể gây thiếu máu thiếu sắt rõ.
Thiếu máu nặng làm tim phải hoạt động nhiều hơn để đưa oxy đến các mô, lâu ngày có thể dẫn đến tim nhanh, tim to hoặc suy tim.
DỊCH TỄ HỌC
Bệnh thường gặp hơn ở:
Vùng nông thôn.
Nơi khí hậu nóng ẩm.
Khu vực chưa có nhà vệ sinh hợp vệ sinh.
Nơi còn dùng phân người chưa xử lý để bón cây.
Người làm nông nghiệp.
Người đi chân đất.
Trẻ chơi đất.
Người có dinh dưỡng kém.
Phụ nữ mang thai ở vùng lưu hành bệnh.
Không phải mọi người sống ở nông thôn đều mắc bệnh. Nguy cơ phụ thuộc mức độ ô nhiễm đất, thói quen đi chân đất, vệ sinh và chương trình phòng chống ký sinh trùng tại địa phương.
TRIỆU CHỨNG Ở DA
Khi ấu trùng xuyên qua da, có thể xuất hiện:
Ngứa.
Rát bỏng.
Đỏ da.
Sẩn nhỏ.
Mụn nước.
Vết gãi.
Tổn thương thường gặp ở bàn chân hoặc vị trí tiếp xúc với đất.
Gãi nhiều có thể gây nhiễm khuẩn da thứ phát.
Không nên dùng nước quá nóng, dầu hỏa, thuốc sát trùng mạnh hoặc thuốc bôi không rõ thành phần lên vùng tổn thương.
TRIỆU CHỨNG HÔ HẤP
Trong giai đoạn ấu trùng đi qua phổi, một số người có thể gặp:
Ho.
Khò khè.
Đau ngực nhẹ.
Khó thở.
Sốt nhẹ.
Tăng bạch cầu ái toan.
Ho ra máu không phải biểu hiện thường gặp. Nếu ho ra máu, khó thở rõ hoặc đau ngực, cần loại trừ bệnh phổi khác.
TRIỆU CHỨNG TIÊU HÓA
Đau bụng âm ỉ.
Đau vùng thượng vị hoặc quanh rốn.
Chán ăn.
Buồn nôn.
Đầy bụng.
Tiêu chảy.
Táo bón.
Khó tiêu.
Không có triệu chứng tiêu hóa nào đặc hiệu tuyệt đối cho bệnh giun móc.
TRIỆU CHỨNG THIẾU MÁU
Da xanh.
Niêm mạc mắt nhợt.
Môi nhợt.
Mệt mỏi.
Yếu sức.
Chóng mặt.
Đau đầu.
Hồi hộp.
Tim đập nhanh.
Khó thở khi gắng sức.
Khả năng tập trung giảm.
Trẻ chậm lớn.
Phụ nữ mang thai dễ mệt và có nguy cơ bất lợi cho thai kỳ nếu thiếu máu nặng.
CHỨNG DỊ THỰC
Một số người thiếu sắt có thể xuất hiện dị thực, tức thèm hoặc ăn những thứ không phải thực phẩm như:
Đất.
Đá.
Giấy.
Phấn.
Gạo sống.
Than.
Đây không phải dấu hiệu riêng của giun móc. Dị thực thường gợi ý thiếu sắt và cần xét nghiệm máu.
Không nên cho rằng ăn đất là nguyên nhân đơn thuần do “thói quen xấu”; đây có thể là biểu hiện của thiếu máu hoặc rối loạn khác.
BIẾN CHỨNG
Thiếu máu thiếu sắt nặng.
Suy dinh dưỡng.
Chậm tăng trưởng ở trẻ.
Giảm khả năng học tập.
Giảm khả năng lao động.
Hạ protein máu.
Phù.
Tim nhanh.
Suy tim do thiếu máu nặng.
Biến chứng thai kỳ ở phụ nữ thiếu máu.
Nhiễm khuẩn da do gãi.
CHẨN ĐOÁN
Xét nghiệm phân
Chẩn đoán chủ yếu dựa vào tìm trứng giun móc trong phân.
Có thể cần lấy nhiều mẫu vào những ngày khác nhau vì một lần xét nghiệm âm tính chưa loại trừ hoàn toàn bệnh.
Xét nghiệm máu
Có thể thấy:
Hemoglobin giảm.
Hồng cầu nhỏ.
Hồng cầu nhược sắc.
Ferritin giảm.
Sắt huyết thanh giảm.
Khả năng gắn sắt thay đổi.
Bạch cầu ái toan tăng trong một số giai đoạn.
Albumin giảm khi bệnh nặng hoặc dinh dưỡng kém.
Phết máu và các xét nghiệm sắt giúp xác định mức độ thiếu máu và phân biệt với những nguyên nhân khác.
Chẩn đoán phân biệt
Thiếu máu do mất máu tiêu hóa khác.
Thiếu máu do dinh dưỡng.
Thalassemia.
Loét dạ dày – tá tràng.
Ung thư đường tiêu hóa.
Bệnh celiac.
Nhiễm giun tóc.
Nhiễm sán.
Bệnh viêm ruột.
Bệnh thận mạn.
Rối loạn huyết học.
Không nên quy mọi thiếu máu ở vùng nông thôn cho giun móc.
ĐIỀU TRỊ THEO Y HỌC HIỆN ĐẠI
Thuốc tẩy giun
Các thuốc thường được sử dụng gồm albendazole hoặc mebendazole. Liều lượng phụ thuộc tuổi, cân nặng, thai kỳ, loại thuốc và hướng dẫn của từng quốc gia.
Một số trường hợp có thể dùng pyrantel pamoate theo chỉ định.
Không tự dùng levamisole vì thuốc này không còn được ưu tiên ở nhiều nơi do nguy cơ tác dụng không mong muốn.
Không tự kết hợp nhiều loại thuốc tẩy giun.
Không tự nhắc lại thuốc liên tục khi chưa kiểm tra nguyên nhân tái nhiễm.
Điều trị thiếu sắt
Người thiếu máu thiếu sắt thường cần bổ sung sắt đường uống.
Bác sĩ sẽ căn cứ:
Mức hemoglobin.
Ferritin.
Cân nặng.
Tuổi.
Khả năng dung nạp.
Mức độ mất máu.
Sắt có thể gây buồn nôn, đau bụng, táo bón và làm phân sẫm màu. Không tự ngừng thuốc khi chưa trao đổi với bác sĩ.
Điều trị dinh dưỡng
Cần bổ sung đủ:
Chất đạm.
Sắt.
Folate.
Vitamin B12 nếu thiếu.
Năng lượng.
Không phải người bệnh nào cũng cần vitamin B12. Thiếu máu do giun móc chủ yếu là thiếu sắt, vì vậy bổ sung B12 chỉ thực hiện khi có bằng chứng thiếu.
Truyền máu
Chỉ được thực hiện tại cơ sở y tế khi thiếu máu nặng, có triệu chứng tim mạch, huyết động không ổn định hoặc theo đánh giá chuyên khoa.
Điều trị tổn thương da
Rửa nhẹ bằng nước sạch.
Giữ vùng da khô.
Tránh gãi.
Có thể dùng thuốc giảm ngứa hoặc kem bôi theo hướng dẫn.
Không ngâm nước nóng 50°C.
Không chích mụn nước.
Không bôi hóa chất mạnh.
THEO DÕI SAU ĐIỀU TRỊ
Theo dõi cải thiện mệt mỏi và ăn uống.
Kiểm tra lại công thức máu khi thiếu máu.
Theo dõi ferritin.
Xét nghiệm phân lại khi triệu chứng kéo dài hoặc ở vùng có chương trình giám sát.
Đánh giá khả năng tái nhiễm.
Kiểm tra vệ sinh môi trường và thói quen đi chân đất.
Trẻ chậm lớn cần được theo dõi chiều cao, cân nặng và dinh dưỡng.
NHỮNG THUỐC VÀ PHƯƠNG PHÁP KHÔNG NÊN TỰ DÙNG
Levamisole
Có thể gây tác dụng bất lợi và không nên tự dùng theo phác đồ cũ.
Khổ luyện bì
Có độc tính thần kinh và tiêu hóa, liều an toàn khó kiểm soát.
Thổ kinh giới
Có thể gây độc và không phù hợp để tự sắc uống.
Quán chúng
Tên dược liệu có thể chỉ nhiều loài khác nhau, một số loài có độc tính.
Trân sa
Là chế phẩm chứa sắt theo phương pháp cổ, thành phần và độ an toàn khó kiểm soát.
Đại ôn trung hoàn
Không nên dùng kéo dài trong một đến hai tháng mà không được đánh giá chức năng gan, thận, tình trạng thiếu máu và thành phần thuốc.
Không dùng các phương trên thay cho thuốc tẩy giun có liều rõ ràng.
NHẬN THỨC CỦA TRUNG Y
Trong Trung y, giun móc thường được xếp vào Trùng tích và Hoàng bạng.
Trùng tà ký sinh ở Trường phủ, bám vào niêm mạc và hao tổn huyết.
Tỳ Vị bị tổn thương làm vận hóa suy giảm, ăn kém, bụng đầy và người gầy.
Huyết hao lâu ngày sinh sắc mặt nhợt hoặc vàng úa, chóng mặt, hồi hộp và mệt.
Tỳ khí hư không vận hóa được thủy thấp có thể gây phù.
Bệnh kéo dài có thể trở thành khí huyết lưỡng hư, Tỳ hư thấp thịnh hoặc Tỳ Thận dương hư.
Nguyên tắc điều trị Trung y gồm:
Khu trùng.
Kiện Tỳ.
Ích khí.
Dưỡng huyết.
Hóa thấp khi có phù.
Tuy nhiên, khu trùng bằng thuốc hiện đại có liều lượng rõ ràng vẫn là phương pháp chính. Trung y chỉ nên hỗ trợ phục hồi Tỳ Vị và khí huyết sau khi đã điều trị ký sinh trùng.
BIỆN CHỨNG HỖ TRỢ
Bệnh cơ
Trùng tà ký sinh ở ruột, làm khí cơ Trường phủ không thông và ảnh hưởng vận hóa của Tỳ Vị.
Chứng trạng: Đau bụng từng cơn hoặc âm ỉ, ăn kém, buồn nôn, đại tiện không điều hòa, người gầy, có thể ngứa da khi ấu trùng xâm nhập, lưỡi rêu trắng hoặc nhớt, mạch thường không đặc hiệu.
Phép trị
Khu trùng, tiêu tích, điều hòa Tỳ Vị.
Phương thang: Các phương cổ dùng quán chúng, khổ luyện bì, binh lang hoặc thổ kinh giới không nên tự áp dụng do độc tính và khó kiểm soát liều.
Chú ý
Nên dùng thuốc tẩy giun hiện đại theo chỉ định thay cho các vị khu trùng có độc.
Bệnh cơ
Trùng ký sinh kéo dài làm Tỳ khí bị tổn thương, vận hóa suy giảm, nguồn sinh hóa khí huyết không đủ.
Chứng trạng: Ăn kém, bụng đầy sau ăn, phân lỏng, mệt mỏi, tay chân yếu, sắc mặt vàng nhạt, lưỡi nhạt có dấu răng, rêu trắng, mạch tế nhược.
Phép trị
Kiện Tỳ ích khí, trợ vận hóa.
Phương thang: Sâm linh bạch truật tán gia giảm gồm đảng sâm, bạch truật, phục linh, hoài sơn dược, bạch biển đậu, liên tử, ý dĩ nhân, sa nhân, cát cánh và chích cam thảo.
Gia giảm
Ăn kém: gia kê nội kim, thần khúc.
Bụng đầy: gia trần bì, mộc hương.
Phân lỏng: gia khiếm thực.
Chú ý
Phương này không diệt được giun móc, chỉ hỗ trợ phục hồi tiêu hóa sau điều trị.
Bệnh cơ
Giun hút máu kéo dài, đồng thời Tỳ khí suy không sinh đủ huyết, dẫn đến khí huyết cùng hư.
Chứng trạng: Da và môi nhợt, mệt, chóng mặt, hồi hộp, khó thở khi gắng sức, ăn kém, mất ngủ, lưỡi nhạt, mạch tế nhược.
Phép trị
Ích khí dưỡng huyết, kiện Tỳ sinh huyết.
Phương thang: Bát trân thang hoặc Quy tỳ thang gia giảm gồm đảng sâm, bạch truật, phục linh, chích cam thảo, đương quy, bạch thược, thục địa hoàng và xuyên khung; tùy chứng có thể phối hoàng kỳ, long nhãn nhục và toan táo nhân.
Chú ý
Phải điều trị thiếu sắt theo xét nghiệm. Thuốc bổ huyết không thay thế sắt hoặc truyền máu khi có chỉ định.
Bệnh cơ
Tỳ khí suy, thủy thấp không vận hóa, thấp đình lại ở cơ nhục và tứ chi.
Chứng trạng: Phù nhẹ ở mặt hoặc chân, cơ thể nặng nề, ăn kém, bụng đầy, phân lỏng, mệt mỏi, lưỡi nhạt bệu rêu trắng nhớt, mạch nhu nhược.
Phép trị
Kiện Tỳ ích khí, lợi thấp tiêu phù.
Phương thang: Sâm linh bạch truật tán hợp Ngũ bì ẩm gia giảm gồm đảng sâm, bạch truật, phục linh, hoài sơn dược, ý dĩ nhân, đại phúc bì, trần bì, sinh khương bì và tang bạch bì.
Chú ý
Phù có thể do hạ protein máu, bệnh tim, gan hoặc thận. Cần xét nghiệm trước khi chỉ điều trị theo Tỳ hư.
Bệnh cơ
Bệnh kéo dài làm Tỳ Thận dương suy, vận hóa và chuyển hóa thủy dịch giảm.
Chứng trạng: Mệt nhiều, sợ lạnh, tay chân lạnh, ăn kém, tiêu chảy, phù, lưng gối mỏi, lưỡi nhạt bệu rêu trắng, mạch trầm trì.
Phép trị
Ôn bổ Tỳ Thận, kiện vận hóa thấp.
Phương thang: Lý trung thang hợp Chân vũ thang gia giảm gồm đảng sâm, bạch truật, can khương, chích cam thảo, phục linh, bạch thược và sinh khương; phụ tử chỉ được cân nhắc dưới sự theo dõi chuyên môn.
Chú ý
Không dùng phụ tử khi chưa có người hành nghề đủ chuyên môn. Phù và khó thở cần loại trừ suy tim do thiếu máu nặng.
CHÂM CỨU
Châm cứu không có tác dụng thay thế thuốc tẩy giun.
Sau khi đã điều trị ký sinh trùng, châm cứu có thể hỗ trợ tiêu hóa, mệt mỏi và phục hồi thể trạng.
Huyệt thường dùng
Vị-36 Túc tam lý
Nhâm-12 Trung quản
Nhâm-6 Khí hải
Tỳ-6 Tam âm giao
Tỳ-10 Huyết hải
Bàng quang-17 Cách du
Bàng quang-20 Tỳ du
Bàng quang-23 Thận du
Phối huyệt tham khảo
Tỳ khí hư: Vị-36 Túc tam lý, Bàng quang-20 Tỳ du, Nhâm-6 Khí hải.
Khí huyết hư: Vị-36 Túc tam lý, Tỳ-10 Huyết hải, Bàng quang-17 Cách du.
Phù do Tỳ hư: Tỳ-9 Âm lăng tuyền, Nhâm-9 Thủy phân, Vị-36 Túc tam lý.
Tỳ Thận dương hư: Nhâm-4 Quan nguyên, Bàng quang-23 Thận du, Vị-36 Túc tam lý.
Không châm cứu cho người thiếu máu nặng, chóng mặt, huyết áp thấp hoặc suy kiệt trước khi được ổn định.
ĐIỀU DƯỠNG DINH DƯỠNG
Ăn đủ chất đạm
Có thể dùng thịt, cá, trứng, sữa, đậu và các nguồn đạm phù hợp.
Bổ sung thực phẩm giàu sắt
Thịt đỏ lượng vừa.
Gan theo khuyến nghị dinh dưỡng và không dùng quá thường xuyên.
Hải sản.
Đậu.
Rau xanh đậm.
Ngũ cốc bổ sung sắt.
Kết hợp vitamin C
Vitamin C giúp hấp thu sắt tốt hơn. Có thể phối thức ăn giàu sắt với cam, quýt, ổi, cà chua hoặc rau quả phù hợp.
Tránh uống trà hoặc cà phê ngay sau bữa giàu sắt
Các đồ uống này có thể làm hấp thu sắt giảm.
Không tự ăn gan số lượng lớn hoặc dùng viên sắt quá liều.
PHÒNG NGỪA
Xử lý phân hợp vệ sinh
Dùng nhà vệ sinh.
Không đi đại tiện bừa bãi.
Không dùng phân người chưa xử lý để bón cây.
Bảo vệ da
Mang giày dép khi ra ngoài.
Mang ủng và găng khi làm việc với đất ẩm.
Không để trẻ ngồi hoặc nằm trực tiếp trên đất nhiễm bẩn.
Vệ sinh cá nhân
Rửa tay trước khi ăn.
Rửa tay sau khi đi vệ sinh.
Cắt móng tay ngắn.
Rửa sạch rau quả.
Dùng nước sạch.
Vệ sinh môi trường
Xây dựng hệ thống xử lý phân.
Ngăn phân người làm ô nhiễm đất.
Tuyên truyền mang giày dép.
Điều trị người mắc bệnh để giảm nguồn phát tán trứng.
Tẩy giun trong cộng đồng
Ở vùng lưu hành bệnh, chương trình tẩy giun định kỳ có thể được triển khai theo hướng dẫn y tế công cộng.
Không nên tự ấn định tẩy giun sáu tháng một lần cho mọi người. Tần suất phụ thuộc tuổi, vùng dịch tễ, nguy cơ phơi nhiễm và chương trình của địa phương.
DẤU HIỆU CẦN ĐI KHÁM
Da hoặc môi rất nhợt.
Mệt lả.
Khó thở.
Tim đập nhanh.
Chóng mặt hoặc ngất.
Phù chân.
Trẻ chậm lớn.
Dị thực.
Đau bụng kéo dài.
Phân đen hoặc có máu.
Ho kéo dài.
Tổn thương da mưng mủ.
Phụ nữ mang thai nghi nhiễm giun.
Triệu chứng không cải thiện sau điều trị.
NHỮNG ĐIỀU NÊN LÀM
Xét nghiệm phân để xác định bệnh.
Kiểm tra công thức máu và ferritin.
Dùng thuốc tẩy giun đúng chỉ định.
Bổ sung sắt khi có thiếu sắt.
Ăn đủ chất đạm.
Mang giày dép.
Xử lý phân hợp vệ sinh.
Theo dõi trẻ chậm tăng cân.
Tái khám khi thiếu máu nặng.
NHỮNG ĐIỀU KHÔNG NÊN LÀM
Không đi chân đất ở vùng đất nhiễm bẩn.
Không dùng phân người chưa xử lý.
Không ngâm da trong nước nóng 50°C.
Không tự dùng levamisole.
Không tự dùng khổ luyện bì.
Không tự dùng thổ kinh giới.
Không tự dùng quán chúng.
Không tự dùng trân sa.
Không cho rằng vitamin B12 là bắt buộc cho mọi trường hợp.
Không tự truyền máu.
Không dùng thuốc Trung y thay cho thuốc tẩy giun.
Nói tóm lại
Bệnh giun móc là bệnh ký sinh trùng đường ruột, trong đó ấu trùng thường xâm nhập qua da khi người bệnh tiếp xúc với đất nhiễm phân. Sau khi đi qua hệ tuần hoàn và phổi, ấu trùng được nuốt xuống, phát triển thành giun trưởng thành trong ruột non.
Giun móc bám vào niêm mạc ruột, hút máu và làm vị trí tổn thương tiếp tục rỉ máu. Vì vậy, biểu hiện quan trọng nhất là thiếu máu thiếu sắt, với các triệu chứng da xanh, mệt, chóng mặt, hồi hộp, khó thở, trẻ chậm lớn và đôi khi có dị thực.
Chẩn đoán chủ yếu bằng xét nghiệm phân tìm trứng giun, kết hợp công thức máu, ferritin và các chỉ số sắt. Điều trị gồm thuốc tẩy giun phù hợp, bổ sung sắt, phục hồi dinh dưỡng và điều trị thiếu máu nặng khi cần.
Theo Trung y, bệnh thuộc phạm vi Trùng tích, Hoàng bạng và Huyết hư. Bệnh cơ thường là trùng tà hao huyết, Tỳ Vị bị tổn thương, lâu ngày dẫn đến Tỳ khí hư, khí huyết lưỡng hư hoặc Tỳ hư thấp thịnh.
Trung y có thể hỗ trợ kiện Tỳ, ích khí, dưỡng huyết và phục hồi thể trạng sau khi đã tẩy giun. Không nên dùng các vị khu trùng có độc tính hoặc phương thuốc cổ kéo dài thay thế thuốc tẩy giun hiện đại.
Phòng bệnh căn bản là xử lý phân hợp vệ sinh, mang giày dép, không đi chân đất, dùng nước sạch, rửa tay và thực hiện chương trình tẩy giun theo hướng dẫn y tế tại địa phương.
Trường Xuân biên soạn