Tổng quan
Sa dạ dày là tình trạng khi cơ thể ở tư thế đứng, vị trí dạ dày hạ thấp hơn phạm vi thông thường. Trường hợp rõ, bờ dưới của dạ dày có thể xuống thấp gần vùng chậu. Tuy nhiên, vị trí dạ dày thấp trên hình ảnh không phải lúc nào cũng gây triệu chứng; việc chẩn đoán cần kết hợp biểu hiện lâm sàng và loại trừ các bệnh lý khác.
Bệnh thường gặp ở người thể trạng gầy yếu, cơ thành bụng nhão, sức cơ kém, sụt cân nhiều, bệnh mạn tính kéo dài hoặc sau sinh. Người ít vận động, dinh dưỡng không đầy đủ hoặc lao lực quá mức cũng có thể xuất hiện biểu hiện tương tự.
Theo Trung y, sa dạ dày thường thuộc phạm vi Vị hạ thùy (胃下垂), Vị quản thống (胃脘痛), Bĩ mãn (痞满), Tào tạp (嘈杂) và Trung khí hạ hãm (中气下陷). Bệnh phần nhiều thuộc Hư chứng, lấy Tỳ khí hư và trung khí hạ hãm làm căn bản.
Tỳ chủ vận hóa, Vị chủ thu nạp và lấy hòa giáng làm thuận. Khi Tỳ khí suy yếu, trung khí không đủ sức nâng đỡ, cơ nhục và tổ chức vùng trung tiêu mất sự sung dưỡng, dạ dày dễ hạ thấp. Đồng thời, vận hóa và hòa giáng suy giảm làm người bệnh đầy bụng, ăn kém, nhanh no, khó tiêu và mệt mỏi.
Chú ý
Sa dạ dày không thể được xác định chỉ bằng cảm giác bụng nặng hoặc đầy sau ăn. Các triệu chứng này cũng có thể gặp trong viêm dạ dày, loét, rối loạn làm rỗng dạ dày, bệnh gan mật, bệnh tụy, hội chứng ruột kích thích hoặc suy dinh dưỡng.
Nếu có sụt cân nhanh, nôn kéo dài, nôn ra máu, đi ngoài phân đen, thiếu máu, ăn nhanh no tăng dần, đau bụng dữ dội hoặc nuốt nghẹn, cần đi khám sớm.
NGUYÊN NHÂN VÀ BỆNH CƠ
Tỳ khí hư yếu
Ăn uống thất thường, bệnh kéo dài, lao lực hoặc dinh dưỡng không đầy đủ làm Tỳ Vị suy yếu. Trung khí không đủ sức thăng đề, dạ dày và các tổ chức vùng trung tiêu mất sự nâng đỡ.
Sau sinh khí huyết suy tổn
Quá trình mang thai và sinh nở có thể làm cơ thành bụng giãn, khí huyết hao tổn và sức nâng đỡ vùng bụng suy giảm. Nếu phục hồi chậm, người bệnh dễ đầy bụng, mệt mỏi và có cảm giác sa nặng.
Thể chất gầy yếu
Người cơ nhục kém phát triển, lớp mỡ và sức cơ thành bụng ít, khí huyết không đầy đủ có thể dễ xuất hiện dạ dày ở vị trí thấp.
Tỳ Thận dương hư
Tỳ dương không đủ thì vận hóa suy giảm; Thận dương hư thì nguồn ôn dưỡng và thúc đẩy khí hóa suy yếu. Người bệnh thường sợ lạnh, tay chân lạnh, đại tiện lỏng và mệt mỏi.
Khí huyết lưỡng hư
Bệnh kéo dài, ăn uống kém hoặc mất máu làm khí huyết đều hư. Cơ nhục không được nuôi dưỡng đầy đủ, trung khí suy, sức nâng đỡ giảm.
TRIỆU CHỨNG
Trường hợp nhẹ có thể không có biểu hiện rõ.
Khi bệnh biểu hiện rõ, người bệnh có thể gặp:
Đầy và nặng vùng thượng vị sau ăn.
Ăn ít đã no.
Ăn kém.
Ợ hơi.
Buồn nôn.
Khó tiêu.
Đau âm ỉ hoặc cảm giác sa nặng trong bụng.
Táo bón hoặc đại tiện không thông sướng.
Mệt mỏi.
Chóng mặt.
Hơi thở ngắn.
Triệu chứng có thể tăng khi đứng lâu, đi lại nhiều, làm việc nặng hoặc ăn quá no; giảm khi nằm nghỉ.
Một số người có thể đồng thời có sa tạng khác, nhưng cần được chẩn đoán riêng, không nên chỉ căn cứ cảm giác sa nặng.
CHẨN ĐOÁN
Y học hiện đại
Chẩn đoán cần dựa vào triệu chứng, khám lâm sàng và các phương pháp hình ảnh khi có chỉ định.
Chụp X-quang dạ dày có cản quang
Có thể giúp xác định hình dạng, vị trí, trương lực và khả năng làm rỗng của dạ dày.
Nội soi dạ dày
Không phải phương pháp chính để xác định độ sa, nhưng giúp loại trừ viêm, loét, khối u và tổn thương niêm mạc.
Siêu âm hoặc chụp cắt lớp
Có thể được dùng trong một số trường hợp để đánh giá các cơ quan trong ổ bụng và loại trừ bệnh lý khác.
Đánh giá dinh dưỡng và bệnh nền
Cần xem xét cân nặng, mức độ sụt cân, thiếu máu, bệnh nội tiết, bệnh thần kinh, tình trạng sau phẫu thuật và thuốc đang sử dụng.
Trung y
Cần căn cứ thể trạng, mức độ đầy đau, sự liên quan với bữa ăn và tư thế, tình trạng đại tiện, cảm giác nóng lạnh, lưỡi và mạch để phân biệt Tỳ khí hư, trung khí hạ hãm, Tỳ Thận dương hư, Tỳ Vị âm hư hoặc khí huyết lưỡng hư.
NHẬN THỨC CỦA TRUNG Y
Bệnh thường có đặc điểm bản hư tiêu thực.
Bản hư là Tỳ khí hư, trung khí hạ hãm, khí huyết bất túc hoặc Tỳ Thận dương hư.
Tiêu thực là Vị khí không hòa, khí trệ, thực tích hoặc đàm thấp.
Do đó, điều trị không nên chỉ chú trọng “thăng đề”. Nếu người bệnh đầy bụng nhiều, thức ăn đình trệ hoặc đàm thấp rõ, cần đồng thời hòa Vị, lý khí và tiêu trệ. Nếu chỉ dùng thuốc bổ thăng đề mà không xét khí trệ và thực tích, triệu chứng đầy bụng có thể tăng.
BIỆN CHỨNG LUẬN TRỊ
Bệnh cơ
Tỳ khí hư lâu ngày, trung khí không đủ sức thăng đề và nâng đỡ.
Chứng trạng: Người gầy yếu, mệt mỏi, ăn kém, đầy bụng sau ăn, ợ hơi, thượng vị đau âm ỉ hoặc nặng tức, đứng lâu thì khó chịu tăng, nằm nghỉ thì giảm, có thể chóng mặt, hơi thở ngắn, tiếng nói nhỏ, đại tiện lỏng hoặc không đều, lưỡi nhạt rêu trắng, mạch trầm nhược.
Phép trị
Bổ trung ích khí, thăng dương cử hãm, hòa Vị trợ vận.
Phương thang: Bổ trung ích khí thang gia giảm gồm hoàng kỳ chích, đảng sâm, bạch truật, trần bì, thăng ma, sài hồ, đương quy, chích cam thảo; có thể phối tiêu tam tiên gồm sơn tra sao, thần khúc sao, mạch nha sao khi ăn kém và tiêu hóa chậm.
Gia giảm
Đầy bụng rõ: gia chỉ xác lượng thích hợp, hậu phác.
Buồn nôn: gia bán hạ, trúc nhự.
Ăn kém: gia kê nội kim, sa nhân.
Đại tiện lỏng: gia hoài sơn dược, liên tử.
Ý nghĩa
Hoàng kỳ, đảng sâm và bạch truật kiện Tỳ ích khí; thăng ma và sài hồ thăng đề trung khí; trần bì lý khí hòa Vị; đương quy dưỡng huyết; tiêu tam tiên hỗ trợ tiêu hóa và giảm nê trệ của thuốc bổ.
Bệnh cơ
Tỳ Vị khí hư, vận hóa và thu nạp suy giảm nhưng biểu hiện hạ hãm chưa rõ.
Chứng trạng: Thượng vị đầy tức sau ăn, nhanh no, ăn kém, ợ hơi, đau âm ỉ nhẹ, mệt mỏi, đại tiện phân nát, lưỡi nhạt có dấu răng, rêu trắng mỏng, mạch tế nhược.
Phép trị
Kiện Tỳ ích khí, hòa Vị tiêu bĩ.
Phương thang: Hương sa lục quân tử thang gia giảm gồm đảng sâm, bạch truật, phục linh, chích cam thảo, trần bì, bán hạ, mộc hương, sa nhân, sinh khương, đại táo.
Gia giảm
Đầy nhiều: gia chỉ xác, hậu phác.
Ăn kém: gia kê nội kim, mạch nha.
Buồn nôn: gia trúc nhự.
Khí hư rõ: gia hoàng kỳ.
Bệnh cơ
Bệnh kéo dài, ăn uống kém hoặc dùng thuốc ôn táo lâu ngày làm Vị âm hao tổn; khí âm đều suy, sự nhu dưỡng trung tiêu không đầy đủ.
Chứng trạng: Người gầy khô, miệng họng khô, khát nhưng uống nhiều lại khó chịu, ăn kém, đầy bụng, đau nóng nhẹ vùng thượng vị, lòng bàn tay bàn chân nóng, đại tiện khô, lưỡi đỏ ít tân dịch, mạch tế nhược hoặc tế sác.
Phép trị
Dưỡng âm ích Vị, kiện Tỳ hòa trung, lý khí nhẹ nhàng.
Phương thang: Dưỡng âm kiện Tỳ thang gia giảm gồm hoài sơn dược, đảng sâm hoặc thái tử sâm, hoàng tinh, ngọc trúc, thạch hộc, bạch biển đậu, hà diệp, phật thủ, lục ngạc mai; có thể gia lượng nhỏ sài hồ khi trung khí hạ hãm rõ.
Gia giảm
Khô miệng nhiều: gia bắc sa sâm, mạch môn đông.
Đại tiện khô: gia hỏa ma nhân.
Đầy bụng: gia phật thủ, trần bì lượng nhỏ.
Nóng rát: gia sinh địa hoàng, thiên hoa phấn.
Ý nghĩa
Hoài sơn dược và bạch biển đậu kiện Tỳ; hoàng tinh, ngọc trúc và thạch hộc dưỡng âm ích Vị; phật thủ và lục ngạc mai lý khí mà không quá cay táo. Thể này không nên lạm dụng thuốc ôn nhiệt hoặc thăng tán mạnh.
Bệnh cơ
Tỳ dương suy làm vận hóa kém, Thận dương hư làm nguồn ôn dưỡng và khí hóa suy giảm, trung khí không đủ sức nâng đỡ.
Chứng trạng: Người gầy yếu, sợ lạnh, tay chân lạnh, thích uống ấm, bụng đầy sau ăn, tiêu hóa kém, đại tiện lỏng, tinh thần mệt mỏi, lưng gối yếu mỏi, lưỡi nhạt bệu, rêu trắng ẩm, mạch trầm nhược.
Phép trị
Ôn bổ Tỳ Thận, ích khí thăng đề.
Phương thang: Phụ tử lý trung thang hợp Bổ trung ích khí thang gia giảm gồm phụ tử chế, bào khương, hoàng kỳ chích, đảng sâm, bạch truật, chích cam thảo, sài hồ, thăng ma, đương quy, phật thủ, mộc hương.
Gia giảm
Đại tiện lỏng nhiều: gia hoài sơn dược, bổ cốt chỉ.
Buồn nôn: gia bán hạ, sa nhân.
Bụng lạnh đau: gia cao lương khương.
Chú ý
Phụ tử là vị thuốc có độc tính, chỉ được dùng sau khi chế biến đúng quy cách và dưới sự theo dõi của người hành nghề chuyên môn. Người có miệng khô, lưỡi đỏ, táo bón, nóng trong hoặc âm hư rõ không thích hợp với phép ôn dương mạnh.
Bệnh cơ
Tỳ Vị suy yếu làm nguồn sinh hóa khí huyết bất túc; bệnh lâu ngày hoặc sau sinh làm khí huyết đều suy, cơ nhục mất sự nuôi dưỡng.
Chứng trạng: Mệt mỏi rõ, sắc mặt nhợt hoặc vàng nhạt, hồi hộp, chóng mặt, ăn kém, bụng đầy sau ăn, cơ thể gầy, ngủ kém, nữ giới có thể kinh nguyệt ít, lưỡi nhạt, mạch tế nhược.
Phép trị
Ích khí dưỡng huyết, kiện Tỳ thăng đề.
Phương thang: Quy tỳ thang hợp Bổ trung ích khí thang gia giảm gồm đảng sâm, hoàng kỳ, bạch truật, phục linh, đương quy, long nhãn nhục, toan táo nhân, viễn chí, mộc hương, thăng ma, sài hồ, chích cam thảo.
Gia giảm
Ăn kém: gia kê nội kim, sa nhân.
Đầy bụng: gia trần bì, chỉ xác.
Mất ngủ nhiều: gia dạ giao đằng, hợp hoan bì.
Thiếu máu rõ: cần xét nghiệm và điều trị nguyên nhân theo y học hiện đại.
Bệnh cơ
Tỳ khí hư làm thủy thấp không được vận hóa, đàm thấp đình ở trung tiêu, làm Vị khí không giáng và cảm giác sa nặng tăng.
Chứng trạng: Bụng đầy nặng, ăn kém, buồn nôn, miệng nhớt, cơ thể nặng nề, đại tiện phân nát, lưỡi nhạt có dấu răng, rêu trắng dày nhớt, mạch hoạt hoặc nhu.
Phép trị
Kiện Tỳ hóa thấp, hành khí hòa Vị, kiêm ích khí thăng đề.
Phương thang: Hương sa lục quân tử thang hợp Bình vị tán gia giảm gồm đảng sâm, bạch truật, phục linh, chích cam thảo, trần bì, bán hạ, mộc hương, sa nhân, thương truật, hậu phác, hoắc hương.
Gia giảm
Nặng bụng rõ: gia đại phúc bì, bội lan.
Buồn nôn: gia trúc nhự, sinh khương.
Khí hư hạ hãm rõ: gia hoàng kỳ, thăng ma lượng thích hợp.
CHÂM CỨU
Châm cứu có thể hỗ trợ kiện Tỳ ích khí, điều hòa vận động dạ dày, giảm đầy bụng và cải thiện thể trạng. Châm cứu không thể thay thế việc xác định nguyên nhân gây nhanh no, nôn hoặc sụt cân.
Huyệt chính
Nhâm-12 Trung quản
Nhâm-6 Khí hải
Nhâm-4 Quan nguyên
Vị-25 Thiên khu
Vị-36 Túc tam lý
Bàng quang-20 Tỳ du
Bàng quang-21 Vị du
Đốc-20 Bách hội
Ý nghĩa
Nhâm-12 Trung quản hòa Vị, tiêu bĩ.
Nhâm-6 Khí hải và Nhâm-4 Quan nguyên bổ khí, hỗ trợ trung tiêu.
Vị-25 Thiên khu điều hòa trường Vị.
Vị-36 Túc tam lý kiện Tỳ ích khí.
Bàng quang-20 Tỳ du và Bàng quang-21 Vị du điều bổ Tỳ Vị.
Đốc-20 Bách hội có tác dụng thăng dương cử hãm.
Gia giảm theo chứng
Buồn nôn, nôn: gia Tâm bào-6 Nội quan, Nhâm-13 Thượng quản.
Đầy bụng, khó tiêu: gia Tỳ-4 Công tôn, Can-13 Chương môn.
Táo bón: gia Tam tiêu-6 Chi câu, Tỳ-15 Đại hoành.
Khí hư rõ: gia Tỳ-6 Tam âm giao, Tỳ-3 Thái bạch.
Dương hư, sợ lạnh: cứu Nhâm-4 Quan nguyên, Nhâm-6 Khí hải, Vị-36 Túc tam lý.
Âm hư, miệng khô, lưỡi đỏ: gia Thận-3 Thái khê, Tỳ-6 Tam âm giao; không nên cứu ngải mạnh.
Cách châm
Thường dùng bổ pháp hoặc bình bổ bình tả, lưu kim khoảng 15 đến 25 phút tùy thể trạng. Người khí huyết hư hoặc cơ thể gầy yếu nên châm nhẹ, số huyệt vừa phải.
XOA BÓP BẤM HUYỆT
Xoa bóp chỉ có vai trò hỗ trợ giảm đầy bụng, thư giãn thành bụng và điều hòa tiêu hóa. Không nên day ấn quá mạnh hoặc thực hiện ngay sau bữa ăn no.
Vùng bụng
Huyệt thường dùng
Nhâm-15 Cưu vĩ
Nhâm-12 Trung quản
Nhâm-6 Khí hải
Nhâm-4 Quan nguyên
Vị-25 Thiên khu
Cách thực hiện
Người bệnh nằm ngửa, thả lỏng bụng. Dùng lòng bàn tay xoa nhẹ quanh rốn theo vòng tròn. Sau đó đặt hai bàn tay ở bụng dưới và nâng nhẹ theo hướng lên trên, động tác chậm, đều, không gây đau.
Mỗi lần khoảng 10 phút, thực hiện khi bụng không quá no.
Vùng lưng
Huyệt thường dùng
Bàng quang-18 Can du
Bàng quang-20 Tỳ du
Bàng quang-21 Vị du
Bàng quang-23 Thận du
Cách thực hiện
Người bệnh nằm sấp, xoa nhẹ dọc hai bên cột sống vùng lưng giữa và lưng dưới. Day từng huyệt với lực vừa phải, mỗi huyệt khoảng một phút.
Không xoa bóp vùng bụng khi đau dữ dội, nôn nhiều, xuất huyết tiêu hóa, có khối bất thường hoặc chưa xác định nguyên nhân.
CỨU NGẢI
Cứu ngải phù hợp hơn với Tỳ Vị hư hàn, Tỳ Thận dương hư, bụng lạnh, thích ấm, ăn kém, đại tiện lỏng và sợ lạnh.
Huyệt thường dùng
Nhâm-12 Trung quản
Nhâm-6 Khí hải
Nhâm-4 Quan nguyên
Vị-36 Túc tam lý
Bàng quang-20 Tỳ du
Bàng quang-21 Vị du
Đốc-20 Bách hội
Mỗi huyệt cứu đến khi có cảm giác ấm dễ chịu, không để da quá nóng hoặc bỏng.
Không cứu khi người bệnh sốt, miệng khô khát nhiều, lưỡi đỏ, rêu vàng, táo bón nặng, đau bụng chưa rõ nguyên nhân, nôn máu hoặc đi ngoài phân đen.
ĐIỀU DƯỠNG ĂN UỐNG
Ăn lượng vừa phải
Không nên ăn quá no vì dạ dày căng nặng có thể làm đầy tức và cảm giác sa tăng lên.
Chia nhỏ bữa khi cần
Người nhanh no có thể chia thức ăn thành nhiều bữa nhỏ nhưng vẫn phải bảo đảm đủ năng lượng và chất đạm.
Thức ăn mềm và dễ tiêu
Ưu tiên thực phẩm nấu chín, mềm, lượng dầu vừa phải. Không cần kiêng hoàn toàn chất xơ nhưng nên điều chỉnh theo khả năng dung nạp.
Không uống quá nhiều nước trong một lần
Có thể chia lượng nước trong ngày, tránh uống quá nhiều ngay trong bữa nếu dễ đầy bụng.
Không nằm ngay lập tức sau ăn
Có thể ngồi tựa hoặc nghỉ nhẹ. Nếu nằm giúp giảm cảm giác sa nặng, nên kê phần thân trên vừa phải, tránh nằm hoàn toàn ngay sau bữa ăn khi có trào ngược.
Hạn chế rượu bia và thuốc lá
Rượu và thuốc lá làm triệu chứng tiêu hóa nặng hơn và ảnh hưởng khả năng hồi phục.
DINH DƯỠNG THAM KHẢO
Tỳ Vị khí hư
Cháo hoài sơn dược, liên tử, bạch biển đậu.
Khí huyết hư
Cháo hoài sơn dược, liên tử, đại táo lượng vừa, phối thịt nạc hoặc trứng tùy khả năng tiêu hóa.
Tỳ Vị hư hàn
Cháo hoài sơn dược phối một lượng nhỏ sinh khương. Không dùng khi nóng rát, miệng khô hoặc táo bón.
Tỳ Vị âm hư
Cháo bắc sa sâm, mạch môn đông hoặc ngọc trúc.
Người gầy yếu cần chú trọng tổng năng lượng và chất đạm, không nên chỉ dùng cháo loãng kéo dài vì có thể làm thiếu dinh dưỡng nặng hơn.
LUYỆN TẬP
Mục tiêu là tăng dần sức cơ toàn thân và cơ thành bụng, không tập đến mệt lả.
Có thể thực hiện:
Thở bụng chậm.
Nâng một chân khi nằm.
Co gối nhẹ về phía bụng.
Bài tập cơ bụng mức độ nhẹ.
Đi bộ chậm.
Bát đoạn cẩm.
Bài tập tăng sức cơ lưng và vùng chậu.
Người mới tập nên bắt đầu với thời gian ngắn, tăng dần theo thể lực.
Không tập mạnh ngay sau ăn. Không cố gập bụng nhiều khi đang đau, buồn nôn, thoát vị hoặc có bệnh tim phổi chưa ổn định.
NHỮNG ĐIỀU NÊN LÀM
Ăn đủ chất và duy trì cân nặng phù hợp.
Chia nhỏ bữa khi nhanh no.
Tập tăng sức cơ từ nhẹ đến vừa.
Điều trị táo bón nếu có.
Ngủ đủ và tránh lao lực kéo dài.
Kiểm tra nguyên nhân nếu sụt cân hoặc nôn kéo dài.
Điều trị H. pylori, viêm hoặc loét nếu đồng thời mắc.
NHỮNG ĐIỀU KHÔNG NÊN LÀM
Không tự chẩn đoán sa dạ dày chỉ vì bụng đầy hoặc người gầy.
Không ăn quá no để “tăng sức”.
Không chỉ ăn cháo loãng kéo dài.
Không dùng thuốc bổ và thuốc thăng đề khi đầy trướng, thực tích rõ mà chưa điều chỉnh.
Không tự dùng phụ tử hoặc thành dược ôn dương mạnh.
Không xoa bóp mạnh bụng sau ăn.
Không tập cơ bụng quá sức.
Không trì hoãn khám khi sụt cân, thiếu máu, nôn kéo dài hoặc phân đen.
Nói tóm lại
Sa dạ dày là tình trạng dạ dày nằm thấp hơn phạm vi thông thường khi cơ thể đứng. Bệnh thường gặp ở người gầy yếu, sức cơ thành bụng kém, sau sinh, bệnh lâu ngày hoặc suy dinh dưỡng. Tuy nhiên, vị trí dạ dày thấp không phải lúc nào cũng gây triệu chứng, vì vậy cần kết hợp thăm khám và chẩn đoán hình ảnh khi cần.
Theo Trung y, bệnh thường lấy Tỳ khí hư và trung khí hạ hãm làm gốc, đồng thời có thể kèm Vị khí không hòa, khí trệ, đàm thấp, Tỳ Thận dương hư hoặc khí huyết lưỡng hư. Điều trị chủ yếu là kiện Tỳ ích khí, thăng đề trung khí; tùy thể bệnh mà phối dưỡng âm, ôn dương, dưỡng huyết, hóa thấp và lý khí hòa Vị.
Thuốc thang, châm cứu, xoa bóp và cứu ngải chỉ là những phương diện hỗ trợ. Việc phục hồi dinh dưỡng, tăng dần sức cơ, điều chỉnh bữa ăn và điều trị bệnh nền có ý nghĩa mật thiết đối với kết quả lâu dài.
Trường Xuân biên soạn