Khái niệm
Táo bón chức năng là tình trạng chức năng sinh lý của đại tiện bị rối loạn, làm phân không được bài xuất bình thường và đúng thời điểm, nhưng không phát hiện tổn thương thực thể rõ ràng gây cản trở trong đại tràng, trực tràng hoặc hậu môn.
Bệnh thường liên quan đến thói quen sinh hoạt, chế độ ăn uống, trạng thái tinh thần, thiếu vận động, suy giảm động lực đại tiện hoặc tác dụng của thuốc.
Ví dụ, một người đi du lịch có thể bị táo bón do thay đổi giờ giấc sinh hoạt, môi trường, thức ăn và tâm lý. Khi trở lại nếp sinh hoạt bình thường, tình trạng này thường cải thiện. Đây là một dạng táo bón chức năng.
Phần lớn người bệnh có thể cải thiện nhờ điều chỉnh ăn uống, vận động, tinh thần và thói quen đại tiện. Tuy nhiên, táo bón kéo dài, tái phát nhiều lần hoặc kèm đau bụng, tiêu chảy xen kẽ vẫn cần được kiểm tra để loại trừ hội chứng ruột kích thích, rối loạn cơ sàn chậu hoặc các bệnh lý khác.
Nguyên nhân
Yếu tố tâm thần và thần kinh
Đại tiện là một phản xạ sinh lý nhưng chịu sự kiểm soát nhất định của vỏ đại não. Con người có thể chủ động trì hoãn việc đi ngoài khi đang làm việc, đi đường hoặc không có điều kiện vệ sinh thích hợp.
Khi cảm giác buồn đại tiện xuất hiện nhưng bị cố ý kìm giữ, trực tràng có thể giảm co bóp và một phần phân được đẩy ngược trở lại đại tràng sigma. Nhờ cơ chế này, con người có thể thích nghi với hoàn cảnh và hình thành thói quen đại tiện vào một thời điểm nhất định.
Tuy nhiên, nếu thường xuyên nhịn đại tiện, lâu ngày các thụ thể cảm giác ở thành trực tràng sẽ giảm độ nhạy với áp lực của phân. Phân đã xuống trực tràng nhưng không còn tạo ra cảm giác mót rõ ràng, phản xạ đại tiện xuất hiện chậm hoặc không xuất hiện. Tình trạng này thường được gọi là táo bón do thói quen hoặc táo bón trực tràng.
Người mắc nứt kẽ hậu môn, trĩ hoặc các bệnh gây đau và chảy máu khi đi ngoài thường sợ đại tiện nên chủ động nhịn. Phân càng lưu lại lâu càng khô cứng, khiến lần đại tiện sau đau hơn và tạo thành vòng tuần hoàn táo bón – đau – nhịn đại tiện.
Căng thẳng, buồn phiền, lo âu, hoảng sợ hoặc tập trung tinh thần quá mức cũng có thể làm cảm giác mót đại tiện giảm hoặc làm hoạt động của đại tràng rối loạn.
Ở một số người mắc trầm cảm, rối loạn lo âu hoặc các rối loạn tâm thần khác, táo bón có thể liên quan đến cả sự thay đổi thần kinh tự chủ, giảm vận động, thay đổi ăn uống và tác dụng của thuốc.
Các bệnh thần kinh trung ương và tủy sống như đột quỵ, tổn thương tủy sống hoặc một số bệnh não có thể gây rối loạn đại tiện. Những trường hợp này thường phức tạp hơn táo bón chức năng đơn thuần và cần được đánh giá chuyên khoa.
Nhu động toàn bộ đường tiêu hóa chậm
Khi nhu động của dạ dày và ruột giảm, thời gian thức ăn và chất thải đi qua đường tiêu hóa kéo dài. Đại tràng có thêm thời gian hấp thu nước, khiến phân trở nên khô và khó bài xuất.
Tình trạng nhu động chậm có thể gặp ở người ít vận động, ăn uống thiếu thốn, cơ thể suy nhược hoặc sử dụng một số thuốc.
Thiếu vitamin nhóm B từng được xem là yếu tố ảnh hưởng đến hoạt động thần kinh và nhu động ruột, nhưng táo bón kéo dài không nên chỉ quy cho thiếu vitamin mà cần tìm đầy đủ nguyên nhân.
Suy giáp và ngộ độc opioid có thể làm nhu động ruột chậm rõ, nhưng đây là những nguyên nhân bệnh lý hoặc do thuốc cần được chẩn đoán và điều trị riêng.
Ruột không được kích thích đầy đủ
Lượng thức ăn quá ít, chế độ ăn thiếu chất xơ và uống không đủ nước sẽ làm lượng phân tạo thành ít, khô và thiếu thể tích.
Bình thường, khối phân có thể tích phù hợp sẽ làm thành đại tràng căng lên, kích thích nhu động và đẩy phân xuống trực tràng. Khi lượng phân quá ít, sự kích thích cơ học không đủ mạnh, nhu động đại tràng giảm và phản xạ đại tiện khó xuất hiện.
Sau khi phân xuống trực tràng, nếu thể tích quá nhỏ cũng không tạo đủ áp lực lên thành trực tràng để gây cảm giác buồn đại tiện.
Tình trạng này thường gặp ở người ăn kiêng quá mức, người cao tuổi ăn ít, người bệnh suy nhược hoặc người thường xuyên dùng thức ăn tinh chế mà thiếu rau và ngũ cốc nguyên hạt.
Thiếu động lực đại tiện
Việc tống phân không chỉ phụ thuộc vào nhu động ruột mà còn cần sự phối hợp của cơ hoành, cơ thành bụng, cơ sàn chậu, cơ nâng hậu môn và cơ thắt hậu môn.
Khi đại tiện, cơ hoành hạ xuống, cơ bụng co lại để tăng áp lực trong ổ bụng; đồng thời cơ sàn chậu và cơ thắt hậu môn phải thư giãn đúng lúc để phân được bài xuất.
Ở người cao tuổi, người suy nhược, phụ nữ có thành bụng nhão sau nhiều lần sinh nở, người nằm lâu hoặc người bị tổn thương cơ sau phẫu thuật, sức co của cơ bụng và cơ sàn chậu có thể giảm. Người bệnh có cảm giác muốn đi nhưng không đủ lực đẩy phân ra ngoài.
Một số người lại có tình trạng rối loạn phối hợp cơ sàn chậu: khi rặn, cơ hậu môn và sàn chậu không thư giãn mà co lại. Phân dù không quá cứng vẫn khó đi, người bệnh phải rặn lâu, cảm giác tắc ở hậu môn hoặc phải dùng tay hỗ trợ.
Khả năng đáp ứng của thành ruột suy giảm
Sau một đợt viêm ruột, lỵ hoặc tiêu chảy, hoạt động đại tràng có thể tạm thời chậm lại. Người bệnh vì thế có thể trải qua một thời gian ngắn táo bón sau khi tiêu chảy đã ngừng.
Thường xuyên dùng thuốc nhuận tràng kích thích hoặc thụt tháo cũng có thể làm người bệnh ngày càng phụ thuộc vào kích thích bên ngoài. Khi không dùng thuốc, đại tiện trở nên khó khăn hơn.
Điều này không có nghĩa là mọi thuốc nhuận tràng đều làm hỏng ruột. Các nhóm thuốc khác nhau có cơ chế và mức độ an toàn khác nhau. Tuy nhiên, thuốc kích thích mạnh không nên được dùng kéo dài tùy tiện, đặc biệt khi chưa xác định loại táo bón.
Tác dụng của thuốc và hóa chất
Nhiều thuốc có thể gây hoặc làm nặng táo bón, trong đó thường gặp:
Thuốc giảm đau opioid.
Thuốc kháng cholinergic.
Một số thuốc chống trầm cảm và thuốc an thần.
Thuốc sắt.
Thuốc bổ sung calci.
Thuốc kháng acid chứa nhôm.
Một số thuốc điều trị tăng huyết áp.
Một số thuốc điều trị Parkinson.
Ngộ độc chì, arsen, thủy ngân hoặc phosphor cũng có thể ảnh hưởng đến hệ thần kinh và hoạt động đường tiêu hóa, gây táo bón cùng nhiều biểu hiện toàn thân khác.
Khi nghi ngờ táo bón liên quan đến thuốc, người bệnh không nên tự ngừng thuốc mà cần trao đổi với bác sĩ để điều chỉnh liều, đổi thuốc hoặc bổ sung biện pháp phòng táo bón.
Phân loại táo bón chức năng
Táo bón do nhu động đại tràng chậm
Phân di chuyển chậm qua đại tràng, bị hấp thu nhiều nước và trở nên khô cứng. Người bệnh thường ít có cảm giác buồn đại tiện, khoảng cách giữa các lần đi ngoài dài.
Tình trạng này thường gặp ở người ít vận động, người cao tuổi hoặc người có chức năng nhu động đại tràng suy giảm.
Táo bón do rối loạn tống xuất
Phân đã xuống trực tràng nhưng không được bài xuất thuận lợi do cơ sàn chậu và cơ thắt hậu môn phối hợp không đúng.
Biểu hiện thường gồm:
Phải rặn nhiều.
Ngồi đại tiện lâu.
Cảm giác phân bị mắc ở hậu môn.
Đại tiện không hết.
Phải dùng tay ấn vùng tầng sinh môn hoặc lấy phân ra.
Phân không nhất thiết khô.
Táo bón do thói quen
Người bệnh thường xuyên nhịn đại tiện làm phản xạ trực tràng suy yếu, dần mất cảm giác buồn đi ngoài.
Táo bón liên quan hội chứng ruột kích thích
Táo bón có thể kèm đau bụng tái diễn, trướng bụng và thay đổi hình dạng hoặc tần suất phân. Đau thường liên quan đến đại tiện và có thể giảm hoặc thay đổi sau khi đi ngoài.
Một số người táo bón kéo dài, một số khác táo bón xen kẽ tiêu chảy.
Táo bón co thắt
Khái niệm táo bón co thắt trước đây được dùng để mô tả tình trạng đại tràng co bóp không điều hòa, làm người bệnh đau bụng và đi phân nhỏ, thành từng viên hoặc dải.
Hiện nay, nhiều trường hợp từng được gọi là táo bón co thắt được xếp vào hội chứng ruột kích thích thể táo bón hoặc rối loạn chức năng đại tràng.
Biểu hiện có thể gồm:
Đau hoặc co thắt bụng dưới.
Trướng bụng.
Cảm giác buồn đại tiện sau ăn.
Phân nhỏ, cứng hoặc thành từng viên.
Táo bón xen kẽ tiêu chảy.
Triệu chứng tăng khi căng thẳng.
Phân nhỏ hoặc thành dải không tự động đồng nghĩa với co thắt. Nếu hình dạng phân thay đổi kéo dài, kèm máu, sụt cân hoặc táo bón mới xuất hiện, cần kiểm tra để loại trừ hẹp đại trực tràng hoặc khối u.
Biểu hiện lâm sàng
Đại tiện thưa.
Phân khô, cứng hoặc thành viên nhỏ.
Muốn đi nhưng khó bài xuất.
Phải rặn nhiều.
Ngồi lâu trong nhà vệ sinh.
Cảm giác đại tiện không hết.
Bụng trướng hoặc đau âm ỉ.
Cảm giác tắc ở hậu môn.
Giảm hoặc mất cảm giác buồn đại tiện.
Phải dùng tay hỗ trợ bài xuất phân.
Tình trạng táo bón có thể kéo dài nhiều tháng hoặc nhiều năm, nhưng không có dấu hiệu rõ của tổn thương thực thể.
Chẩn đoán
Táo bón chức năng chỉ nên được xác định sau khi đã xem xét và loại trừ các nguyên nhân thực thể, chuyển hóa, thần kinh và do thuốc.
Hỏi bệnh
Cần tìm hiểu:
Thời gian bị táo bón.
Tần suất và hình dạng phân.
Có phải rặn hay không.
Có cảm giác tắc hoặc đại tiện không hết không.
Có đau bụng, chướng bụng hoặc tiêu chảy xen kẽ không.
Thói quen nhịn đại tiện.
Chế độ ăn và lượng nước.
Mức độ vận động.
Các loại thuốc đang sử dụng.
Tiền sử sinh nở, phẫu thuật và bệnh thần kinh.
Nhật ký đại tiện
Người bệnh có thể ghi lại số lần đại tiện, hình dạng phân, mức độ rặn, thức ăn và thuốc đã dùng. Việc này giúp nhận biết quy luật và đánh giá đáp ứng điều trị.
Khám hậu môn – trực tràng
Thăm trực tràng bằng ngón tay có thể giúp đánh giá phân ứ đọng, trương lực cơ thắt, khả năng co và thư giãn cơ sàn chậu.
Xét nghiệm chuyên sâu
Nếu nghi rối loạn tống xuất, có thể cần:
Đo áp lực hậu môn – trực tràng.
Thử nghiệm tống bóng.
Chụp động tác đại tiện.
Đánh giá thời gian vận chuyển đại tràng.
Không phải người bệnh nào cũng cần làm đầy đủ các xét nghiệm này.
Phân biệt với táo bón thực thể
Táo bón chức năng
Không phát hiện vật cản hoặc tổn thương thực thể rõ ràng.
Thường liên quan đến thói quen, chế độ ăn, tâm lý, ít vận động hoặc rối loạn chức năng cơ.
Có thể kéo dài nhưng thường không tiến triển nhanh.
Có khả năng cải thiện khi điều chỉnh sinh hoạt và điều trị chức năng phù hợp.
Táo bón thực thể
Có bệnh lý cụ thể như khối u, hẹp ruột, dính ruột, sa trực tràng nặng hoặc bệnh thần kinh, nội tiết.
Có thể xuất hiện tương đối đột ngột hoặc tăng dần.
Thường kèm dấu hiệu cảnh báo như máu trong phân, đau bụng tăng, thiếu máu, sụt cân hoặc hình dạng phân thay đổi rõ.
Cần điều trị bệnh nguyên phát.
Nguyên tắc điều trị
Khôi phục phản xạ đại tiện
Người bệnh nên tập ngồi đại tiện vào một thời điểm cố định, tốt nhất sau bữa sáng hoặc sau một bữa ăn chính, khi phản xạ dạ dày – đại tràng hoạt động mạnh.
Mỗi lần chỉ nên ngồi trong khoảng thời gian vừa phải. Không cố rặn kéo dài và không sử dụng điện thoại trong nhà vệ sinh.
Khi có cảm giác buồn đại tiện, nên đi ngay nếu điều kiện cho phép, không tiếp tục nhịn.
Điều chỉnh chế độ ăn
Nên tăng dần rau, trái cây, đậu và ngũ cốc nguyên hạt. Tăng chất xơ quá nhanh có thể gây đầy hơi, vì vậy cần điều chỉnh từ từ.
Chất xơ hòa tan có thể giúp phân mềm, tăng thể tích và dễ bài xuất hơn.
Người bị rối loạn tống xuất có thể không cải thiện hoàn toàn chỉ bằng chất xơ. Nếu ăn nhiều chất xơ mà bụng càng trướng và đại tiện vẫn khó, cần được đánh giá thêm.
Uống đủ nước
Nước giúp chất xơ phát huy tác dụng và hạn chế phân khô. Không nên cố uống quá nhiều nếu cơ thể không cần, nhưng cũng không nên để thiếu nước kéo dài.
Người có bệnh tim hoặc bệnh thận cần tuân theo hướng dẫn riêng về lượng nước.
Tăng vận động
Đi bộ, vận động toàn thân và tập cơ bụng nhẹ giúp kích thích nhu động ruột. Người ngồi làm việc lâu nên đứng lên và đi lại thường xuyên.
Điều hòa tinh thần
Căng thẳng và lo âu có thể ảnh hưởng trực tiếp đến hoạt động đại tràng. Ngủ đủ, vận động, thư giãn và điều chỉnh nhịp sinh hoạt có thể giúp cải thiện táo bón.
Người mắc trầm cảm hoặc rối loạn lo âu cần được điều trị đồng thời, vì chỉ dùng thuốc nhuận tràng thường không giải quyết được đầy đủ vấn đề.
Tư thế đại tiện
Kê chân trên một ghế thấp khi ngồi bồn cầu giúp đầu gối cao hơn hông, làm góc hậu môn – trực tràng mở thuận lợi hơn.
Khi đại tiện, nên thở ra chậm, thả lỏng bụng dưới và sàn chậu, không nín thở và gồng quá mạnh.
Phục hồi cơ sàn chậu
Người bị rối loạn phối hợp cơ sàn chậu cần được hướng dẫn cách thư giãn cơ hậu môn khi rặn.
Phản hồi sinh học có thể giúp người bệnh nhận biết và điều khiển cơ sàn chậu đúng hơn. Đây là phương pháp quan trọng đối với táo bón do rối loạn tống xuất.
Sử dụng thuốc
Thuốc làm tăng thể tích phân, thuốc thẩm thấu, thuốc làm mềm phân hoặc các thuốc khác có thể được lựa chọn tùy từng trường hợp.
Không nên tự dùng kéo dài thuốc nhuận tràng kích thích, thuốc xổ mạnh hoặc thụt tháo thường xuyên.
Nếu táo bón do thuốc, cần trao đổi với bác sĩ về khả năng đổi thuốc hoặc bổ sung biện pháp phòng ngừa.
Quan điểm Trung y
Theo Trung y, táo bón chức năng có thể liên quan đến nhiều cơ chế khác nhau.
Can khí uất trệ
Căng thẳng, uất ức làm khí cơ Đại trường không thông. Người bệnh thường bụng trướng, đau tức, muốn đi nhưng khó đi, phân thành viên nhỏ nhưng không nhất thiết khô.
Phép trị: Sơ Can, lý khí, thông tiện.
Tỳ khí hư
Ăn uống thất thường, lao lực hoặc cơ thể suy yếu làm Tỳ khí không đủ sức vận chuyển phân.
Người bệnh phải rặn nhiều, phân không quá khô, sau đại tiện mệt, ăn kém và người yếu.
Phép trị: Kiện Tỳ, ích khí, nhuận tràng.
Phế khí hư
Phế khí không giáng xuống Đại trường, khiến ruột thiếu sức đẩy. Thường gặp ở người cao tuổi, người mắc bệnh hô hấp mạn tính hoặc sau bệnh lâu ngày.
Phép trị: Bổ Phế khí, giáng khí, thông tiện.
Khí hư hạ hãm
Khí hư lâu ngày có thể kèm sa trực tràng, bụng dưới nặng và đại tiện khó.
Phép trị: Bổ trung ích khí, thăng đề, thông tiện.
Huyết hư hoặc Âm hư
Phân khô do Đại trường thiếu sự nhu dưỡng. Thường gặp ở phụ nữ sau sinh, người cao tuổi hoặc người bệnh lâu ngày.
Phép trị: Dưỡng huyết hoặc dưỡng âm, sinh tân, nhuận tràng.
Dương hư
Dương khí ở Hạ tiêu suy yếu, ruột thiếu sức vận hành. Phân thường không khô nhưng rất khó đi, kèm sợ lạnh, chân tay lạnh và lưng gối mỏi.
Phép trị: Ôn dương, ích khí, nhuận tràng.
Biện chứng luận trị
Thể Can khí uất trệ
Triệu chứng
Táo bón tăng khi căng thẳng; muốn đi nhưng khó đi; phân thành viên nhỏ hoặc dải ngắn, không quá khô; bụng trướng, đau tức, ợ hơi, hay thở dài; lưỡi có thể bình thường; mạch huyền.
Phép trị
Sơ Can, lý khí, thông tiện.
Phương thang
Lục ma thang gia giảm.
Có thể phối hợp các vị nhuận tràng nếu phân khô.
Thể Tỳ khí hư
Triệu chứng
Muốn đi đại tiện nhưng không đủ sức; phải rặn lâu; phân mềm hoặc không quá khô; sau đi ngoài mệt; ăn kém, bụng đầy, sắc mặt nhợt; lưỡi nhạt, có dấu răng; mạch hư.
Phép trị
Kiện Tỳ, ích khí, nhuận tràng.
Phương thang
Hoàng kỳ thang hoặc Bổ trung ích khí thang gia giảm, tùy có khí hãm hay không.
Thể khí trệ kèm Tỳ hư
Triệu chứng
Phân mềm nhưng khó đi; bụng trướng, đại tiện không hết; lúc căng thẳng càng khó; người mệt, ăn kém; lưỡi nhạt hoặc hai bên hơi đỏ; mạch huyền nhược.
Phép trị
Kiện Tỳ, ích khí, sơ Can, điều khí.
Phương thang
Có thể phối hợp phương kiện Tỳ với các vị lý khí, hành trệ.
Thể Huyết hư
Triệu chứng
Phân khô, đại tiện khó; sắc mặt nhợt, chóng mặt, nhìn mờ, tê tay chân; phụ nữ có thể kinh nguyệt ít; lưỡi nhạt; mạch tế sáp.
Phép trị
Dưỡng huyết, nhuận táo, thông tiện.
Phương thang
Nhuận trường hoàn gia giảm.
Thể Âm hư
Triệu chứng
Phân khô; miệng họng khô; khát nhưng uống từng ngụm nhỏ; nóng về chiều, ra mồ hôi trộm; lưỡi ít rêu hoặc không rêu; mạch tế.
Phép trị
Dưỡng âm, sinh tân, nhuận tràng.
Phương thang
Tăng dịch thang gia giảm.
Thể dương hư
Triệu chứng
Phân không khô nhưng khó tống; phải rặn nhiều; sau đại tiện mệt; sợ lạnh, tay chân lạnh, lưng gối mỏi; lưỡi nhạt ướt; mạch trầm nhược.
Phép trị
Ôn bổ Thận dương, nhuận tràng, thông tiện.
Phương thang
Tế xuyên tiễn gia giảm.
Châm cứu
Các huyệt thường dùng có thể căn cứ từng thể bệnh:
Vị-25 Thiên khu: Điều hòa Đại trường.
Tỳ-15 Đại hoành: Thông điều Đại trường.
Tam tiêu-6 Chi câu: Điều khí Tam tiêu, hỗ trợ thông tiện.
Vị-36 Túc tam lý: Kiện Tỳ, ích khí, điều hòa trường vị.
Tỳ-6 Tam âm giao: Kiện Tỳ, dưỡng huyết, điều Can Thận.
Nhâm-6 Khí hải: Bổ khí, điều khí Hạ tiêu.
Can-3 Thái xung: Sơ Can, lý khí.
Bàng quang-25 Đại trường du: Điều lý Đại trường.
Thận-6 Chiếu hải: Dưỡng âm, nhuận táo.
Nhâm-4 Quan nguyên: Bổ Thận và nguyên khí.
Việc lựa chọn phép bổ, tả hoặc cứu cần căn cứ vào thể Nhiệt, Hàn, Hư hay Thực. Không nên tự châm cứu khi chưa có chuyên môn.
Phòng ngừa
Duy trì giờ ăn và giờ ngủ tương đối ổn định.
Không thường xuyên nhịn đại tiện.
Tập đi đại tiện vào một thời điểm cố định.
Ăn đủ lượng thức ăn, chất xơ và uống đủ nước.
Duy trì vận động hằng ngày.
Không ngồi trong nhà vệ sinh quá lâu.
Điều trị sớm nứt kẽ hậu môn, trĩ và các bệnh gây đau khi đại tiện.
Hạn chế tự dùng thuốc nhuận tràng kích thích và thụt tháo kéo dài.
Xem lại các thuốc đang dùng nếu táo bón xuất hiện sau khi bắt đầu điều trị.
Giữ tinh thần thư thái, xử lý căng thẳng và rối loạn giấc ngủ.
Dấu hiệu cần đi khám
Táo bón mới xuất hiện và kéo dài.
Triệu chứng ngày càng nặng.
Có máu trong phân hoặc phân đen.
Sụt cân, chán ăn hoặc thiếu máu.
Đau bụng kéo dài hoặc đau dữ dội.
Bụng chướng, nôn hoặc không trung tiện được.
Táo bón xen kẽ tiêu chảy kéo dài.
Phân nhỏ bất thường trong thời gian dài.
Người trên 50 tuổi mới xuất hiện táo bón.
Phải dùng tay hỗ trợ đại tiện thường xuyên.
Đã điều chỉnh chế độ ăn và sinh hoạt nhưng không cải thiện.
Nói tóm lại
Táo bón chức năng là tình trạng rối loạn đại tiện không do vật cản hoặc tổn thương thực thể rõ ràng. Bệnh thường liên quan đến thói quen nhịn đại tiện, thiếu chất xơ và nước, ít vận động, căng thẳng tinh thần, nhu động đại tràng chậm, giảm sức cơ bụng hoặc rối loạn phối hợp cơ sàn chậu.
Điều trị không chỉ nhằm làm cho người bệnh đi ngoài ngay, mà cần phục hồi phản xạ đại tiện, điều chỉnh tính chất phân, tăng vận động và sửa những thói quen không phù hợp.
Theo Trung y, táo bón chức năng có thể thuộc Can khí uất, Tỳ khí hư, Phế khí hư, Huyết hư, Âm hư hoặc dương hư. Biện chứng cần căn cứ vào phân khô hay mềm, sức rặn, trướng đau, cảm giác nóng lạnh và thể trạng toàn thân để lựa chọn phép trị phù hợp.
Trường Xuân biên soạn